Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay tình trạng ô nhiễm môi trường đã và đang diễn ra ở qui mô rộng
gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của cư dân trên Trái đất. Mỗi năm thế
giới có hơn 2,2 triệu người chết vì các bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm và vệ sinh
môi trường kém gây ra. Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ sống còn, là việc làm cấp
bách vì thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Đây còn là vấn đề khoa học có tính
xã hội sâu sắc gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo của từng nước và của
cả nhân loại. Vấn đề bảo vệ môi trường đang được các quốc gia trên toàn thế giới
cùng chung tay thực hiện.
Trong những giải pháp bảo vệ môi trường của các quốc gia, giáo dục là giải
pháp hàng đầu, bởi lẽ một trong những nguyên nhân cơ bản góp phần gây hủy hoại
môi trường là sự thiếu hiểu biết của con người. Chính vì vậy việc triển khai giáo
dục bảo vệ môi trường cần phải được triển khai cho mọi người ngay từ thưở ấu thơ
cho đến tuổi trưởng thành nhằm trang bị những hiểu biết về môi trường và rèn các
kĩ năng, hành vi bảo vệ môi trường.
Giáo dục bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững là một trong các
nhiệm vụ quan trọng được Đảng và nhà nước ta dành cho mối quan tâm đặc biệt.
Ngày 15/11/ 2004, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 41/NQ-TƯ về tăng
cường công tác Bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước; Ngày 17/10/2001, Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số
1363/QĐ-TTg phê duyệt đề án “ Đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào
hệ thống giáo dục quốc dân” và ngày 2/12/2003 ban hành Quyết định số 256/QĐ-
TTg phê duyệt chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020 tạo cơ sở vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi
trường.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, ngày 31/1/ 2005 Bộ trưởng Bộ
GD & ĐT đã ra chỉ thị số 02/2005/CT- BGD &ĐT về tăng cường công tác giáo dục
bảo vệ môi trường xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giáo dục phổ thông từ nay đến
năm 2010 là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường bằng các hình
dậy trong mình những cảm giác và ước mơ, là cố gắng để thực hiện những ước mơ
đó, là cảm giác, tri giác và phản ánh một cách sáng tạo thế giới vào trong tưởng
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 2
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
tượng của mình. Đúng như A.M. Go- rơ- ki đã nhận xét “ Trò chơi là con đường để
trẻ em nhận thức thế giới, là nơi chúng đang sống và là cái chúng nhận thấy cần
phải thay đổi.”
Tuy nhiên vì đây là năm học đầu tiên thực hiện việc giáo dục BVMT cho học
sinh tiểu học thông qua các môn học nên việc tổ chức trò chơi cho học sinh khi
giảng dạy còn nhiều hạn chế. Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân
khách quan và chủ quan như: việc lựa chọn trò chơi, thời gian chuẩn bị, thời gian tổ
chức chơi, Điều này làm cho những người giáo viên đứng lớp như tôi luôn trăn
trở và suy nghĩ. Chính vì những lý do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài : “Một vài
kinh nghiệm trong việc tổ chức các trò chơi góp phần giáo dục bảo vệ môi trường
cho học sinh lớp 3/1 trường Tiểu học Trần Bình Trọng”
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 3
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
B. PHẦN NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG VIỆC TỔ CHỨC CÁC TRÒ CHƠI GÓP PHẦN GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN BÌNH TRỌNG:
Yêu cầu mục đích giáo dục môi trường cho học sinh quá rộng nhưng điều
kiện thực tế để giáo dục lại còn quá hạn chế, nên việc thực hiện giáo dục bảo vệ môi
trường cho học sinh ở Trường tiểu học Trần Bình Trọng gặp nhiều khó khăn:
- Kiến thức thức thực tế về môi trường của học sinh còn quá hạn hẹp.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường trong quần chúng ở địa phương chưa cao
nên dẫn đến ý thức tự giác BVMT của học sinh còn hạn chế
- Do tâm sinh của lứa tuổi dễ nhớ nhưng chóng quên nên việc thực hiện bảo
vệ môi trường chưa được thường xuyên.
- Yêu quý thiên nhiên, gia đình, trường, lớp, quê hương, đất nước.
- Thân thiện với môi trường.
- Quan tâm đến môi trường xung quanh.
2.2 Nội dung giáo dục BVMT cho học sinh tiểu học:
Nội dung giáo dục BVMT trong trường Tiểu học được lồng ghép, tích hợp
trong các môn học và đưa vào nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với
khối lượng kiến thức phù hợp như sau:
- Môi trường xung quanh học sinh,
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường,
- Ý thức về BVMT,
- Kĩ năng về BVMT trong cuộc sống và hoạt động.
- Hình thành, phát triển và rèn luyện hành vi, thói quen, thái độ trong BVMT.
2.3 Mục tiêu giáo dục BVMT trong hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Giáo dục BVMT trong hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm:
- Củng cố, khắc sâu, mở rộng những hiểu biết về các thành phần của môi
trường và mối quan hệ giữa chúng; mối quan hệ giữa con người và các yếu tố môi
trường; sự ô nhiễm môi trường và các biện pháp BVMT.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 5
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
- Xác định trách nhiệm cá nhân trong việc góp phần BVMT ở nhà trường và
địa phương.
- Hình thành và phát triển tình cảm yêu quý, gần gũi, thân thiện với thiên
nhiên và môi trường xung quanh, quan tâm tới việc bảo vệ môi trường.
- Biết thực hiện nếp sống ngăn nắp, vệ sinh trên cơ sở phát huy vai trò tự
quản.
- Có khả năng tham gia một số hoạt động BVMT phù hợp với lứa tuổi.
2.4 Nội dung giáo dục BVMT qua hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Nội dung giáo dục BVMT qua hoạt động ngoài giờ lên lớp gồm những vấn
đề:
tên động vật, thực vật hơn là nhóm đó thắng.Trò chơi diễn ra trong 5 phút.
Các chữ cái giáo viên đưa ra từ dễ đến khó: S, C, Ch, K, Ô, Ê,
Trò chơi 2: Trời- Đất- Nước
a. Mục đích: Giúp học sinh củng cố, khắc sâu các kiến thức về đa dạng sinh
học.
b. Nội dung: Kể tên các con vật có ở trên trời, dưới đất, dưới nước.
c. Cách chơi: Giáo viên vừa đi vừa nói: Trời - đất - nước; nước - trời- đất;
đất- trời- nước, rồi chỉ vào bất cứ học sinh nào nói: đất hoặc trời hay là nước thì
học sinh đó phải kể nhanh ba con vật sống ở môi trường đó.
Ví dụ: Giáo viên chỉ vào một học sinh và hô “ đất”- học sinh đó phải đáp
nhanh: chó, gà, thỏ; “ trời”- học sinh đó phải đáp nhanh: chim, ong, bướm; “ nước”-
học sinh đó phải đáp nhanh: tôm, cua, cá. Học sinh nào nói sai môi trường sống của
con vật hay không nói được hoặc nói chậm sẽ bị phạt. Trò chơi diễn ra trong 3 – 5
phút.
Trò chơi 3: Em là tuyên truyền viên
a. Mục đích: Giúp học sinh nắm vững được những việc nên làm, những việc
không nên làm đối với môi trường.
b. Nội dung: Với những động từ “ Hãy” và “ Đừng” học sinh nêu lên được
những việc cần làm và không nên làm đối với môi trường.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 7
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
c. Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm, yêu cầu 1 nhóm đặt câu với
động từ “ Hãy” để nêu lên những việc cần làm đối với môi trường, nhóm kia đặt
câu với động từ “ Đừng” để nêu lên những việc không nên làm đối với môi trường.
Ví dụ: Nhóm với động từ “ Hãy”
- Hãy bảo vệ, chăm sóc cây xanh.
- Hãy giữ vệ sinh trường, lớp sạch đẹp.
- Hãy bảo vệ nguồn nước.
Nhóm với động từ “ Đừng”
a. Mục đích: Giúp học sinh biết quan sát và nhận xét, sắp xếp các con vật
theo một đặc điểm nhất định
b. Nội dung: Kể tên các loài vật theo một đặc điểm cho trước.
c. Cách chơi: Có thể chơi với từng cá nhân hoặc chia lớp thành các nhóm,
mỗi nhóm thảo luận và cử một em tham gia. Học sinh ghi tên loài vật theo các đặc
điểm mà giáo viên đưa ra.
+ Những con vật nào có hai chân? Những con vật nào có bốn chân hoặc có
nhiều chân?
+ Con vật nào có hai cánh? Con vật nào có bốn cánh?
+ Những con vật nào có sừng?
+ Những con vật nào bắt muỗi, bắt sâu hại cây trồng, bắt chuột?
+ Những loại cá nào thuộc cá nước ngọt? Loại cá nào thuộc cá nước mặn?
+ Những con vật nào đẻ trứng? Những con vật nào đẻ con?
+ Những con vật nào có ích? Những con vật nào có hại?
Học sinh ghi đúng tên mỗi con vật ghi 1 điểm, sai lỗi chính tả trừ 0,5 điểm,
viết chữ sạch đẹp cộng thêm 1 điểm trong lượt chơi. Trò chơi diễn ra trong 5-7 phút.
Có thể sử dụng trò chơi này để thi tìm hiểu về các loại cây có củ, quả,
Trò chơi 9: Thi hùng biện về bảo vệ môi trường
a. Mục đích: Giúp học sinh nêu lên những quan điểm của bản thân mình về
các vấn đề môi trường.
b. Nội dung: Hùng biện về những nội dung liên quan đếm bảo vệ môi trường.
c. Cách chơi: Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm cử đại diện lên
bốc câu hỏi, các nhóm thảo luận nội dung câu hỏi và cử người lên trình bày.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 9
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
Mỗi nhóm cử 1 đại diện làm ban giám khảo để chấm xem ai trả lời đúng và
hay. Giáo viên làm trọng tài để đưa ra nhận xét cuối cùng. Nhóm nào có nhiều lần
thắng cuộc sẽ được khen thưởng.
Ví dụ:
xét, bình chọn bạn làm hướng dẫn viên tốt nhất và cùng thảo luận các câu hỏi:
+ Em có suy nghĩ gì sau khi nghe bạn giới thiệu về cảnh đẹp?
+ Em cần làm gì để cho các danh lam thắng cảnh đó ngày càng thêm đẹp và
thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước?
Nhóm nào có bạn được bình chọn nhiều nhất là nhóm thắng cuộc.
Trò chơi được thực hiện thay đổi luân phiên bạn làm hướng dẫn viên để sao
cho nhiều học sinh cùng được tham gia.
4. Tổ chức cho học sinh chơi:
Để đạt được kết quả tốt,GV có thể vận dụng các hình thức tổ chức trò chơi
như sau:
- Thông qua trò chơi học tập, lồng ghép nội dung Giáo dục bảo vệ môi trường
vào các tiết Hoạt động tập thể với nhiều hình thức như: múa hát tập thể,tập bài hát
dân ca, chơi các trò chơi dân gian.
- Sau mỗi trò chơi, GV hướng dẫn, gợi ý giúp HS tự rút ra được nội dung giáo
dục của trò chơi.
- Trò chơi được tổ chức lập lại nhiều lần kiến thức sẽ được củng cố, khắc sâu
Qua đó, ý thức về bảo vệ môi trường sẽ được hoàn thiện dần trong mỗi HS.
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Sau một thời gian tổ chức các trò chơi trên nhằm góp phần giáo dục bảo vệ
môi trường cho học sinh lớp 3/1, bước đầu tôi đã thu được những kết quả khả quan
như sau:
- Học sinh đã hình thành ý thức bảo vệ môi trường.
- Nắm được các nôi dung bảo vệ môi trường.
- Học sinh đã được tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
- Ý thức giữ vệ sinh chung của học sinh đã được nâng cao.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 11
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
- Học sinh tham gia nhiệt tình vào các buổi lao động do nhà trường tổ chức,
các ngày chủ nhật Xanh – sạch – đẹp.
và các bạn đồng nghiệp để đề tài trên đây được hoàn thiện hơn. Xin chân thành cảm
ơn !
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 13
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
D. PHẦN PHỤ LỤC
MẪU PHIẾU KIỂM TRA THỰC NGHIỆM
Họ và tên:
Lớp: 3/1
Đánh dấu X vào ô trống trước ý em cho là đúng nhất
1. Môi trường xung quanh em bao gồm:
Đất đai, sông ngòi, nhà cửa, trường học, bệnh viện, đồng lúa,
Tất cả những gì xung quanh em.
Rừng núi, biển cả, dộng vật, thực vật, con người,
2. Để giữ vệ sinh nơi ở, em đã:
Quét dọn nhà cửa sạch sẽ, sắp xếp gọn gàng đồ đạc.
Em chỉ quét nhà sạch mà không cần gọn gàng ngăn nắp.ư
Em chỉ giữ vệ sinh nơi nhà ở sạch còn các khu vực xung quanh cứ để bẩn.
3. Để giữ vệ sinh trường lớp, em đã:
Làm vệ sinh lớp học, sân trường sạch sẽ.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thanh Trang 14
Trường Tiểu học Trần Bình Trọng Sáng kiến kinh
nghiệm
Làm vệ sinh lớp học, sân trường sạch sẽ, không vứt rác bừa bãi, chăm sóc
cây xanh trên sân trường.
Chỉ làm vệ sinh lớp mình sạch còn vứt rác ra xung quanh.
4. Khi thấy có bạn vứt rác bừa bãi, em sẽ:
Nhặt rác bỏ vào giỏ rác.
Khuyên bạn không nên vứt rác bừa bãi.
Khuyên bạn không nên vứt rác bừa bãi và nhặt rác bỏ vào giỏ rác.