Tính chất mê cung trong tác phẩm của Franz Kafka
Lê Từ Hiển; Lê Minh Kha
1. Với Franz Kafka (1883-1924), nhà văn người Séc gốc Do Thái viết tiếng
Đức, không hình ảnh nào giúp ông hình dung một cách chính xác về thời đại mà
ông đang sống cũng như chính bản thân ông hơn vòng xoáy của những mê cung.
“Trong tác phẩm của Kafka, cái quyền lực vô hình và phi lí tồn tại như một bóng
ma, nó lờ mờ ẩn hiện và được vây bọc bởi một mê cung không thể vượt qua. Chủ
đề mê cung là một chủ đề chủ chốt của Kafka, nó chính là vỏ bọc của cái không
thể diễn đạt… Chủ đề mê cung thật sự là một thủ pháp quan trọng của Kafka
trong việc diễn đạt cái phi lí”
(1)
. Vượt qua chủ đề - thủ pháp, mê cung là niềm ám
ảnh lớn, là nỗi âu lo bi kịch thường nhật hiện tồn của kiếp người, nó trở thành
nguyên tắc kết cấu tác phẩm, chi phối đến cả văn phong, lối viết của Kafka. Nó
góp phần tạo nên sự cách tân nghệ thuật, tạo nhiều lớp nghĩa và những hiệu ứng
thẩm mỹ cao.
2. Thời đại Kafka sống là thời đại “mất Chúa”. Đế chế Áo – Hung tan rã, hiểm
họa phát xít đang rình rập, nền kỹ trị tha hóa nhân phẩm và xóa dấu lương tri. Con
người sống trong thời đại ấy, cảm thấy mình đã đánh mất chiếc chìa khóa để mở
cánh cổng cuộc đời. Họ bơ vơ, lạc lõng, không phương hướng, không nơi bấu víu,
họ lạc vào một mê cung của nỗi lo âu và sự tha hóa, của trạng thái phi lí toát lên từ
lời kêu cứu của con người và sự lặng im của đời sống.
Kafka dự cảm về tình trạng bất ổn ấy ngay trên quê hương ông – thành
phố Prague, từ rất sớm. Sự nhạy cảm tâm hồn, cái nhìn thấu thị biến ông thành một
“nhà địa chấn kí”, “có thể ghi lại những động thái sâu thẳm khó có thể nhận biết
được ở nơi khác” (Claude Prévost)
(2)
.
Cả thế giới, trong tâm tưởng của ông là một mê cung. Nó mong manh, chằng
chịt và bấp bênh, vô định. Những câu hỏi và nỗi băn khoăn có từ tiền kiếp, trở
nhưng ngày càng tuyệt vọng, lâu đài vẫn mỗi lúc một xa.
Ngay cả những dạng truyện dựa trên nền tảng cái phi lí – vật hóa người của
truyện ngụ ngôn (Hang ổ, Chó sói và người A Rập, Nữ ca sĩ Giôđephin), F. Kafka
đã tạo ra những sắc thái phi lí mới trong mê lộ của ông: Nó không ở đâu xa mà
ngay trong cuộc sống tự nó chi phối vận mệnh con người, là đối tượng nhận thức –
không thể nhận thức. Nút mở là nhân vật suy nghĩ, tồn tại trong phi lí, và tính phi lí
này dẫn đường cho toàn truyện. Mở đầu Hang ổ, con vật ở hang mà sống thật bất
an. Nó tạo ra một mê cung tầng hầm mà không có một phút yên tâm. Trong mê
cung ấy, có một sự gắn kết vô hình giữa các con vật và tấn bi kịch kiếp người.
Có thể nói, yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt của hình ảnh mê lộ trong tác
phẩm Kafka so với thần thoại, cổ tích, tôn giáo nằm ở sự phi thần thánh hóa thế
giới. Đấy là một hiện tượng mang tính thời đại, gắn liền với sự nhìn lại, đánh giá
lại lịch sử và các huyền thoại nở rộ vào những năm đầu thế kỷ XX, đúng như lời
miêu tả của Heidegger “Và như vậy, cuối cùng Thượng đế đã ra đi. Khoảng trống
để lại được lấp đầy bằng sự thăm dò về mặt lịch sử và các tâm lý huyền thoại”.
2.2 Trong các sáng tác của Kafka, có hình bóng những mê lộ hữu hình lẫn vô
hình. Những mê lộ hữu hình có thể nhìn thấy như ngõ ngách, hệ thống đường hầm
của con thú trong Hang ổ, những căn phòng, hành lang hun hút tối nơi Vụ án, con
đường ngập tuyết, càng gần lại càng lảng xa ra trong Lâu đài, những cung điện,
thành quách nối tiếp trong Thông điệp của hoàng đế… Những mê lộ ấy, chỉ hiểu
theo nghĩa đen, vốn đã đầy ám ảnh. Nhưng chúng còn giàu sức gợi hơn khi được
xem xét dưới lớp nghĩa bóng của những biểu tượng, những ám dụ. Các nhà phê
bình văn học đều thống nhất ở điểm: phải tiếp xúc và thụ cảm những hình ảnh
trong tác phẩm của Kafka để tìm ra một thế giới “ẩn đâu đó phía sau kia” (M.
Kundera). Trong cái thế giới ấy, những mê cung trở nên vô hình, nó trở thành một
cung cách hành chính, một cơ chế quan liêu hay một thế lực độc tài đè nén và tha
hóa con người, biến họ trở thành một bóng ma dật dờ, những con rối phi cá tính.
Ở tác phẩm Vụ án, hệ thống cơ quan hành pháp với bộ máy của nó và các viên
chức giăng mắc khắp mọi nơi, ai ai cũng là người tòa án. Joseph K. rơi vào những
chuyến đi quái đản, vô định để tìm hiểu tội lỗi mà mình mắc phải. Từ chỗ là người
(6)
. Cả Gregor, Joseph K. lẫn K.
đều thiếu năng lực phản tư để tự nhận ra mình và hoàn cảnh xung quanh. Chút
bừng lóe trong nhận thức của Joseph K. Ở đoạn kết của Vụ án chỉ là ánh sao băng
ngang trời. Nhưng đấy là chớp sáng cho mỗi người thức tỉnh và trầm tư trước mê
cung của cõi lòng mình.
Nhằm mục đích làm nổi bật cái bản thể cô đơn, Kafka thường đặt nhân vật của
mình vào giữa đám đông, những mê lộ của “cõi người ta”. Hình ảnh đám đông
trong tác phẩm của ông gắn liền với nguy cơ tha hóa, gợi ý niệm về cái chết. Có
những đám đông cầm cờ, xuất hiện bên nghĩa trang (Giấc mơ), có những đám đông
hát những lời ca nhạt nhẽo như một nghi lễ cúng tế, cởi quần áo và đặt viên thầy
thuốc bất lực trên chiếc giường bệnh nhân (Một thầy thuốc nông thôn), có đám
đông chen chúc dọc theo các hành lang và phòng xử án nơi tầng áp mái (Vụ án)…
Trong cách nhìn của Kafka, “tha nhân là địa ngục” (Sartre). Mối quan hệ giữa bản
thể và tha nhân luôn trong tình trạng mất liên lạc, không thấu hiểu; con người đã
đánh mất sợi dây dẫn đường, khiến cái tôi không thể nào kết giao, hòa nhập cộng
đồng, và dần dần, họ tự thu mình vào những ốc đảo cô đơn. “Con người cô đơn đi
lang thang trong mê cung vắng ngắt của một thế giới nơi diễn ra những sự mô
phỏng lố bịch báng bổ của luật pháp”
(7)
.
Tất nhiên, dưới góc độ biện chứng của phê bình mácxít, R. Garaudy chỉ ra
được “Vấn đề của Kafka là ông đã phát hiện ra điểm nối giữa cái cá nhân và cái
toàn thể, giữa cái riêng trong cái chung…”
(8)
. Và E. Fischer nhận thấy “Thực chất
của cái cộng đồng này là không chắc chắn, nhưng nó cũng không phải là niềm hy
vọng hão huyền vào thế giới bên kia, nó là dự cảm về một thế giới, nơi con người
có thể sống khác hơn”
(9)
(14)
.
Còn A. Karelski gọi đó là “kĩ xảo thiên tài ở chính sự giản đơn đến liều lĩnh của
nó”, kĩ xảo nghệ thuật trái ngược “ở ông sự phi logic và sự phi lí bắt đầu khi con
người tỉnh giấc”
(15)
. Sự mơ mộng từ một tư tưởng tiến bộ, một tâm hồn thánh thiện
ở con người cô đơn lặng im tỏa sáng như Kafka khiến ta nhớ đến câu nói rất hay
của P. Valéry: Oisiveté, mais pleine de pouvoir (vô công rỗi việc nhưng lại đầy
quyền lực).
2.5 Mê cung trong tác phẩm của Kafka, ngoài tính lập lờ của điểm trung tâm,
còn là nơi không gian chồng chéo, thời gian vừa vô tận vừa tuần hoàn – hiệu quả
được đem lại từ việc sử dụng thủ pháp nghịch dị và bút pháp huyền thoại. Trong
các tác phẩm, Kafka hay lồng ghép những hệ không gian đối nghịch vào nhau để
tạo nên trạng thái phi lí cùng cực. Căn phòng xử án bỗng chốc trở thành nơi sinh
sống, giặt giũ của vợ chồng mõ tòa (Vụ án), chiếc giường bệnh lại là nơi diễn ra
nghi thức cúng tế thần bí cho viên thầy thuốc (Một thầy thuốc nông thôn)… Những
nhân vật đi lại và hít thở trong kiểu không gian ấy, chẳng biết đâu mà lần, họ trở
nên hài hước một cách thảm hại. Mở đầu, hai kẻ lạ mặt, hai kẻ thừa hành bất ngờ
đập cửa vào phòng bắt Joseph K. ngay trên giường ngủ khi anh không biết lý do và
cứ thế, không gian mê lộ bí hiểm của thiên truyện tiếp tục mở ra, trộn lẫn tính hài
hước và bi kịch ngay trong đời sống thường nhật. Đâu là mạch ngầm tương đồng
giữa tòa án tối cao và nhà thờ dường như anh tình cờ bước vào? Nhà văn Kundera
nhận thấy giọng điệu mỉa mai, cái hài không xa lạ với bản chất Kafka. Ông đã tạo
nên tiếng cười bằng những đối cực, kết hợp cả điều nghiêm túc lẫn điều khủng
khiếp, khác thường.
Về thời gian, Kafka hay sử dụng hiệu ứng của một kiểu thời gian huyền thoại,
phi lịch sử. Nó vừa ngưng đọng vừa tuần hoàn vô tận. Thời gian một năm trong Vụ
án chẳng gì khác biệt so với sáu ngày trong Lâu đài. Joseph K. mở cửa mừng sinh
nhật lần thứ ba mươi, nhưng đồng thời, cũng đón chào cái chết sẽ đến với anh sau
lộ tác động cả vào lối viết của Kafka. Những câu văn của ông là mê cung của
chữ, chuyên chở bao sức nặng của biểu tượng và chiều sâu tư tưởng, nói như
Camus “Nghệ thuật của Kafka tập trung ở chỗ buộc người đọc phải đọc lại”.
Trong lúc viết, “hơi thở” của Kafka “dài và say đắm”, ông hay sử dụng câu văn
có nhiều mệnh đề “thường suốt nhiều trang chỉ gồm có một tiết “vô tận” trong đó
nhốt cả những đoạn đối thoại dài” (Kundera). Với các mệnh đề trong câu, ông có
nhiều cách xử lý. Có lúc, ông cho những mệnh đề mang nghĩa trái ngược nằm
gần nhau, tạo nên lối tư duy đa chiều, tư duy dựa trên những phản đề “Bởi vì
chúng ta giống những thân cây trong tuyết. Vẻ ngoài, chúng nằm bóng mượt và
một cú đẩy nhẹ cũng đủ làm chúng lăn. Không, điều đó không thể nào thực hiện
được vì chúng gắn chặt với mặt đất. Nhưng nhìn kìa, ngay cả khi đấy chỉ là vẻ bề
ngoài”
(19)
. Cũng có lúc, giữa những mệnh đề có quan hệ tưởng chừng rối rắm về
nghĩa, ông đặt vào đấy một khái quát đầy sức nặng để làm bật chủ đề. Ngoài ra, ở
những đoạn đối thoại trong tác phẩm, các nhân vật của Kafka thường xuyên nói
chuyện với nhau một cách rời rạc, không ăn nhập. Điều đó tạo cảm giác mỗi
người luôn nghĩ về điều gì khác so với điều họ đang nói, hệ quả là họ chẳng thể
nào gặp gỡ nhau để tìm được niềm cảm thông. Đấy là kiểu đối thoại mang tính
mê lộ trong văn Kafka, sẽ phủ bóng xuống kịch phi lí và văn chương của nhiều
thế hệ sau này… Cách viết ấy buộc người đọc phải thật tinh ý mới có thể cùng
tham gia trò chơi mê lộ với nhà văn, vì tác phẩm của ông luôn mở ra nhiều cách
cắt nghĩa, cảm nhận tùy theo khả năng, góc nhìn, hướng tiếp cận. Với độc giả,
“việc đọc Kafka luôn là một thách thức lớn… Và chẳng có lời giải thích nào là
thỏa đáng (Ritchie Robertson)
(20)
.
3. Louis Borges, trong một bài thơ, có nói đến sức ám ảnh của những mê lộ
thời gian: Những hành lang thẳng băng ngoặt vào những đường vòng lắt léo cuối
mỗi năm/ Sự hao mòn của năm tháng làm nứt nẻ các bức tường thành/ Trong thứ
Trong cuộc đời thực, tâm hồn và tư tưởng của Kafka cũng là một mê cung đầy
bí ẩn. Ông thường xuyên có những băn khoăn về bản thể, cảm thấy “chẳng gì xa lạ
với tôi ngoài chính bản thân tôi”. Điều đó để lại dấu ấn trong những tác phẩm,
trong những nhân vật mà ông từng sáng tạo. Giống như Borges sau này, ông tìm
được bản ngã của mình bằng sự quy chiếu văn học “Một người tự định cho mình
nhiệm vụ phải vẽ được thế giới. Suốt nhiều năm dài, ông ta chất đầy chặt không
gian những hình ảnh phố phường, xứ sở, nhà cửa, vật dụng, tinh tú và người. Ít lâu
trước khi chết, ông khám phá ra rằng cái mê cung kiên nhẫn của các đường nét đó
vạch nên gương mặt của chính mình”
(24)
.
Niềm ám ảnh mê lộ đã trở thành chủ đề, thành lối viết trong văn Kafka, và
những giấc mơ của ông, sẽ tiếp tục được thăng hoa trong các sáng tác của nhiều
nhà văn khác. Mê cung trong thế giới nghệ thuật của Kafka gợi lên những thể
nghiệm, những ám ảnh của con người hiện đại trước thế giới vốn phi lí và ngày
càng… phi lí hơn.
A. Karelski đã tự ngẫm Về sáng tác của Franz Kafka: “Người ta cứ kiếm tìm
các con đường đã được kiểm nghiệm, mà sợ những con đường chưa được kiểm tra,
nhưng chính nó lại dẫn thẳng tới mục tiêu!… Nếu anh không tự thử hết các khả
năng của mình – thì nếu có buộc tội ai đó trong số phận thảm hại của anh, nếu định
tính sổ với cuộc đời, thì hãy bắt đầu trước hết từ chính bản thân!”
(25)
. Hiện tại và
tương lai mãi còn biết ơn Kafka – với tư cách nhà văn – “Người đi tìm hạnh phúc”
trong mê cung ấy