1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tụy cấp (VTC) là một quá trình viêm cấp tính của tụy. Bệnh
cảnh lâm sàng khá đa dạng, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau: mức
độ nhẹ thường ít biến chứng, chỉ cần nằm viện ngắn ngày. Trong
khi đó mức độ nặng thì diễn biến phức tạp, nhiều biến chứng và tỷ
lệ tử vong cao 20 - 50% trong bệnh cảnh suy đa tạng.
Trong thực hành lâm sàng, sau khi chẩn đoán viêm tụy cấp được
khẳng định, việc đánh giá về mức độ bệnh trong thời gian sớm nhất sẽ
có lợi rất lớn, nó quyết định việc lựa chọn cách thức điều trị thích hợp,
từ đó có thể ngăn chặn sự phát triển của các biến chứng và làm giảm tỷ
lệ tử vong. Tuy nhiên, các biện pháp điều trị chỉ thực sự có hiệu quả khi
được tiến hành sớm trong vòng 24 - 48 giờ kể từ khi bệnh bắt đầu các
biến chứng toàn thân, hội chứng suy đa tạng (MOFS) trong VTC.
Việc chẩn đoán, đánh giá, theo dõi và tiên lượng VTC rất khó
khăn, có nhiều bảng điểm được xây dựng để đánh giá độ nặng và tiên
lượng bệnh VTC như APACHEII, Ranson, Imire, Balthazar-Score (CTSI).
Nhưng các bảng điểm này thường phức tạp và chỉ đánh giá lúc mới
nhập viện và trong vòng 48 giờ.
Từ cuối thập kỷ 90 các nghiên cứu về áp lực ổ bụng (ALOB) trong
VTC được nhiều tác giả Âu, Mỹ đề cập, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng
ALOB có liên quan đến độ nặng và tiên lượng của VTC. Điều đó được giải
thích trong VTC có sự giải phóng các yếu tố viêm, các cytokine gây giãn
mạch, tăng tính thấm thành mạch, thoát dịch vào ruột, và ổ bụng. Liệt ruột
dẫn đến tăng ALOB lại gây ra giảm tưới máu ở bụng, thiếu máu lại giải
phóng các cytokine tạo thành vòng xoắn bệnh lý làm ALOB ngày càng
tăng cao. ALOB tăng cao còn làm tăng áp lực nội sọ, giảm cung lượng tim,
giảm thông khí phế nang giảm dòng máu tới gan, thận, ruột dẫn tới suy đa
tạng và làm tăng tỷ lệ tử vong và biến chứng trong VTC.
Hiểu biết mới này đã giúp các nhà lâm sàng có thêm biện pháp
mới để đánh giá, theo dõi diễn biến và hiệu quả điều trị VTC. Các
Luận án có 27 biểu đồ, 41 bảng, 11 hình ảnh và 139 tài liệu tham
khảo (22 tài liệu tiếng Việt, 117 tài liệu tiếng Anh).
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2. CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA VTC
Sơ đồ 1.1.Tóm tắt cơ chế bệnh sinh của viêm tụy cấp (Frossard J.L)
1.3. CHẨN ĐOÁN VIÊM TỤY CẤP
3
Chẩn đoán xác định VTC theo tiêu chuẩn Atlanta sửa đổi 2007.
- Lâm sàng: Đau thượng vị đột ngột, đau dữ dội, đau xuyên ra sau
lưng kèm theo buồn nôn và nôn.
- Cận lâm sàng: Amylase và /hoặc lipasemáu tăng cao trên 3 lần
so với giá trị bình thường.
* Chẩn đoán hình ảnh: có hình ảnh điển hình của VTC trên siêu
âm hoặc chụp CT.
1.5. PHÂN LOẠI VIÊM TỤY CẤP THEO TIÊU CHUẨN
ATLANTA SỬA ĐỔI 2007 (APCWG)
1.5.1. Phân loại theo lâm sàng
* Giai đoạn sớm (tuần đầu) dựa theo lâm sàng hơn là tổn thương
hình thái học.
- VTC nặng được định nghĩa khi bệnh nhân có hội chứng đáp ứng
viêm hệ thống (SIRS) và/hoặc phát triển thành suy tạng.
-Ngoài ra, nếu bệnh nhân VTC trên cơ địa: suy thận, bệnh lý tim
mạch, suy giảm miễn dịch đều được coi là VTC nặng.
* Giai đoạn sau 1 tuần
Sau 1 tuần, VTC nặng được định nghĩa khi có suy ít nhất 1 tạng và
kéo dài trên 48 giờ.
Suy tạng được định nghĩa khi điểm Marshall hoặc điểm SOFA cho
tạng đó ≥ 2 điểm.
Suy đa tạng được định nghĩa khi có ≥ 2 tạng suy kéo dài ≥ 48 giờ.
1.6. TIÊN LƯỢNG TRONG VTC
Hiệp hộikhoang bụng thế giới năm 2006 đã đưa ra bảng phân loại
tăng ALOB như sau: Độ I: 12 - 15 mmHg (16 - 20 cmH
2
0), độ II : 16 -
20 mmHg (21 - 27 cmH
2
0), độ III: 21 - 25 mmHg (28 - 34 cmH
2
0), độ
IV: > 25 mmHg (> 34cmH
2
0).
* Ảnh hưởng của tăng ALOB tới các cơ quan
Tăng ALOB gây ra rối loạn chức năng tạng theo 2 cách khác biệt:
- Thứ nhất, trong giai đoạn sớm của bệnh, chủ yếu là liên quan đến
tác động của tăng áp lực tác động đến chức năng cơ quan và tưới máu
cơ quan.
- Thứ hai, theo thời gian tiến triển, tăng ALOB không được điều trị
sẽ gây lên hiệu ứng miễn dịch và phản ứng viêm, kết cục là quá trình
tổn thương và suy tạng gây ra hội chứng rối loạn chức năng nhiều cơ
quan (MODS). MODS là hậu quả của phản ứng đáp ứng viêm toàn thể
quá mức, sản xuất ra một khối lượng lớn cytokine.
5
Hình 1.5. Ảnh hưởng của tăng ALOB tới các cơ quan
Nguồn: World Society of the Abdominal Compartment Syndrome (WSACS),
6
1.7. ĐIỀU TRỊ VTC
- Các biện pháp điều trị hồi sức chung bao gồm:Hồi sức tuần
hoàn,hồi sức hô hấp,hồi sức thận,hồi sức chống đau,kháng sinh,nuôi
dưỡng, các biện pháp khác (Thuốc giảm tiết dịch tiêu hóa, ức chế men
bàng quang, có bệnh lý khác gây tăng ALOB, bệnh nhân dưới 16 tuổi,
bệnh nhân có bệnh lý mạn tính nặng.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
7
Nghiên cứu tiến cứu mô tả, theo dõi dọc, có can thiệp, tự chứng.
2.3.1. Thu thập số liệu chung cho nghiên cứu (lâm sàng và cận lâm sàng)
2.3.2. Nghiên cứu mục tiêu 1
2.3.2.1. Đo ALOB khi bệnh nhân nhập viện theo kỹ thuật Cheatham
Bước 1:Chuẩn bị bệnh nhân:Giải thích cho BN để BN hợp tác khi
làm thủ thuật, đặt BN nằm ngửa, tư thế ngay ngắn, hai chân duỗi thẳng,
đầu bằng, vệ sinh BN tại vùng hậu môn, sinh dục (như thủ thuật đặt
sonde Foley bàng quang). Thầy thuốc: rửa tay, mặc áo như làm thủ
thuật vô khuẩn.Bước 2: Đặt sonde Foley dẫn lưu hết nước tiểu.Bước 3:
Kết nối hệ thống khóa ba chạc với nhau. Chạc ba thứ nhất nối một cổng
với sonde Foley, một cổng nối với túi đựng 1.000ml dung dịch muối
đẳng trương; chạc ba thứ 2 nối với chạc ba thứ nhất và một bơm tiêm
60ml; chạc ba thứ 3 nối với chạc ba thứ 2 và hệ thống đo áp lực, và túi
chứa nước tiểu. Bước 4: mở khóa thứ 1, 2, 3 để dẫn lưu hết nước tiểu ra
túi.Bước 5:Đóng đường dẫn túi nước tiểu ở khóa thứ 3, mở đường tới
cổng áp lực. Bước 6:Khóa đường tới sonde bàng quang ở khóa thứ nhất
và mở đường tới túi dịch. Bước 7:Hút 50ml dịch vào bơm tiêm tại chạc
ba thứ 2. Bước 8:Khóa đường tới túi dịch. Bước 9:Mở đường tới sonde
bàng quang. Bước 10:Bơm 50ml dịch vào bàng quang. Bước 11:Sau 1
phút, theo dõi áp lực tại đồng hồ đo áp lực. Bước 12:ghi nhận thông số
áp lực của lần đo.
8
Hình 2.1. Kỹ thuật đo ALOB theo Cheatham
- Đánh giá mức độ tăng ALOB: phân độ theo Hội khoang bụng
thế giới 2006.
2.3.2.4. Đánh giá suy tạng dựa theo thang điểm SOFA
2.3.3.2. Theo dõi diễn biến ALOB hàng ngày (8 giờ đo 1 lần)
2.3.3.Nghiên cứu mục tiêu 2
2.3.3.1. Điều trị bệnh nhân VTC bao gồm:
- Các biện pháp hồi sức cơ bản:Hồi sức tuần hoàn, hồi sức hô
hấp, hồi sức thận, hồi sức chống đau, kháng sinh, nuôi dưỡng, các biện
pháp khác.
9
-Lọc máu liên tục tĩnh mạch - tĩnh mạch:Chỉ định: Bệnh nhân
VTC nặng đến sớm trong vòng 48h đầu hoặc VTC nặng có suy tạng.
Chống chỉ định: Tình trạng sốc nặng chưa đưa huyết áp trung bình lên
được, bệnh nhân và gia đình không hợp tác. Sử dụng thể tích thay thế cao
45 ml/kg/giờ, sử dụng thuốc chống đông bằng heparin. Tiêu chuẩn ngừng
lọc máu: cải thiện tình trạng suy tạng: thoát sốc; giảm tình trạng suy thận:
có nước tiểu >50ml/h và creatinin<150; P/F>250; ALOB < 21 cmH
2
O.
* Dẫn lưu ổ bụng
- Chỉ định: khi có dịch tự do hoặc khu trú trên siêu âm hoặc CT ổ
bụng có thể tiến hành chọc qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc CT.
- Chống chỉ định: Rối loạn đông máu, bệnh nhân từ chối
- Tiến hành:
+ Bệnh nhân được chọc thăm dò và đặt dẫn lưu dưới hướng dẫn
của siêu âm hoặc CT.
+ Dẫn lưu là catheter 1 nòng kích thước 12F – 16F.
+ Dịch ổ bụng được dẫn lưu liên tục đồng thời được đánh giá về
màu sắc, số lượng, xét nghiệm tế bào, định lượng protein, phản ứng
Rivalta, nhuộm soi và nuôi cấy vi khuẩn.
+ Vị trí, số lượng dẫn lưu tùy thuộc vị trí, số lượng ổ dịch
+ Bệnh nhân được kiểm tra siêu âm ổ bụng tại giường hàng ngày.
30-39 36 34,0 2 7,4 38 28,6
40-49 38 35,8 5 18,5 43 32,3
50-59 13 12,3 7 25,9 20 15,0
60-69 3 2,8 2 7,4 5 3,8
≥70 4 3,8 7 25,9 11 8,3
Tổng 106 1000,0 27 100,0 133 100,0
X
±
SD (năm)
45,4±13,8
Tuổi TB là: 45,4±13,8; gặp nhiềunhất từ 30 - 49; tỷ lệ nam/nữ:
106/27, nam chiếm 79,7%, nữ 21,3%.
3.2. Mối tương quan giữa ALOB với mức độ nặng của bệnh nhân VTC
3.2.1. Đặc điểm tăng ALOB trong nhóm BN nghiên cứu
Bảng 3.9. Tỷ lệ tăng ALOB lúc nhập viện theo phân chia của
Hiệp hội khoang bụng thế giới 2006
Phân loại n %
Không tăng ALOB <16cmH
2
O 42 31,6
Độ I 16-20 cmH
2
O 30 22,6
Độ II 21-27cmH
2
O 40 30,0
Độ III 28-34cmH
2
O 14 10,5
Độ IV >34cmH
Suy tuần hoàn 60,4% (n=55) 14,3% (n=5) < 0,001
Suy hô hấp 64,8% (n=59) 11,9% (n=4) < 0,001
Suy thận 65,9% (n=60) 11,9% (n=4) < 0,001
Điểm Ranson, APACHE II, CTSI, Imrie ở nhóm tăng ALOB cao
hơn ở nhóm không tăng ALOB. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tỷ
lệ suy tạng ở nhóm tăng ALOB lớn hơn so với nhóm không tăng
ALOB p <0,001.
3.2.4. Mối tương quantuyến tính giữa ALOB lúc nhập viện với các
thang điểm độ nặng
5 10 15 20 25 30
ALOB
0 5 10
Ranson
5 10 15 20 25 30
ALOB
0 2 4 6 8
Imrie
Biểu đồ 3.2. Tương quan tuyến tính
giữa ALOB lúc nhập việnvới điểm
Ranson
Có mối tương quan rất chặt chẽ
giữa giá trị của ALOB ngày đầu nhập
viện với thang điểm Ranson, p < 0,001.
Biểu đồ 3.3. Tương quan tuyến tính
giữa ALOB lúc nhập viện với điểm
Imrie
Có mối tương quan chặt chẽ
giữa giá trị của ALOB ngày đầu nhập
viện với thang điểm Imrie, p < 0,001.
y = 1,6x + 12,56
Độ
nhạy
Độ đặc
hiệu
GTDB(+) GTDB(-)
Tỷ lệ
chính xác
23,2 98,55 86,88 86,67 96,77 83,68
ALOB ngày thứ nhất với điểm cut - off 23,2 cmH
2
O có khả năng
dự báo sớm các trường hợp VTC nặng (theo thang điểm APACHEII)
với độ nhạy 98,55%; độ đặc hiệu 86,88%, giá trị chẩn đoán dương tính
86,67%, giá trị chẩn đoán âm tính 96,77% và tỷ lệ chính xác 83,68%.
Bảng 3.17: Giá trị dự báo mức độ VTC của ALOB theo thang điểm Ranson
Cut - off
(cmH
2
O)
Độ
nhạy
Độ đặc
hiệu
GTDB(+) GTDB(-)
Tỷ lệ
chính xác
22,7 96,3 74,43 79,09 95,56 81,43
ALOB ngày thứ nhất với điểm cut - off 22,7cmH
2
O có khả năng
(cmH
2
O)
Độ
nhạy
Độ đặc
hiệu
GTDB(+) GTDB(-)
Tỷ lệ
chính xác
23,6 86,75 40,0 70,59 64,52 69,17
ALOB ngày thứ nhất với điểm cut - off 23,6 cmH
2
O khả năng dự
báo sớm các trường hợp VTC nặng (theo thang điểm Balthazar (CTSI)
với độ nhạy 86,75%; nhưng độ đặc hiệu rất thấp40,0%, giá trị chẩn
đoán dương tính 70,59%, giá trị chẩn đoán âm tính 64,52% và tỷ lệ
chính xác 69,17%.
Bảng 3.20. Giá trị dự báo mức độ VTC của ALOB theo phân loại VTC
nặng nhẹ của Atlanta sửa đổi 2007
Cut - off
(cmH
2
O)
Độ
nhạy
Độ đặc
hiệu
GTDB(+) GTDB(-)
Tỷ lệ
Thần kinh 0 6/91 (6,6%)
Nhóm không tăng ALOB tỷ lệ suy các tạng thấp từ 0% (thần kinh)
đến 14,3% (tim mạch).Nhóm tăng ALOB tỷ lệ suy tạng cao hơn từ
6,6% (thần kinh) cao nhất là thận 65,9%; tim mạch 60,4%; hô hấp
64,8%. Sự khác biệt về tỷ lệ suy tạng giữa nhóm tăng ALOB và không
tăng ALOB khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,001.
3.2.6.5. Liên quan giữa ALOB với số tạng suy
Biểu đồ 3.15.Liên quan giữa số tạng suy với mức độ tăng ALOB
Ở nhóm BN không suy tạng, ALOB không tăng. Suy 1 tạng,
ALOB tăng độ I, II. Suy ≥3 tạng, ALOB tăng độ III, IV. Sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê p < 0,05.
15
3.2.6.9.Liên quan giữa ALOB và bệnh nhân tử vong trong VTC
* Tỷ lệ BN tử vong theo mức độ tăng ALOB
Biểu đồ 3.22. ALOB lúc nhập viện liên quan với tỷ lệ tử vong ở BN VTC
Không có BN tử vong ở nhóm không tăng ALOB và tăng ALOB
độ I. Tỷ lệ tử vong tăng theo mức độ tăng ALOB (độ II, III và IV tương
ứng là 22,5; 35,8 và 57,1). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001).
3.3. Sự thay đổi của áp lực ổ bụng trong điều trị VTC nặng có lọc
máu liên tục kết hợp dẫn lưu ổ bụng
Bảng 3.26. Đặc điểm chung của các thông số độ nặng nhóm BN lúc
nhập viện của nhóm BN VTC nặng được điều trị HS cơ bản kết hợp
LMLT+DLOB
Thông số
X
± SD
(n = 55)
Min Max
Tuổi (năm)
43,5 ± 16,5
nặng khi ALOB trung bình là 23,2±4,8 cm H
2
O.
16
3.3.5. Thay đổi ALOB và diễn biến tổn thương các tạng của nhóm
BN VTC nặng được điều trị kết hợp dẫn lưu ổ bụng và LMLT.
Biểu đồ 3.21. Diễn biến của ALOB trong nhóm sống và nhóm tử vong ở
bệnh nhân được điều trị kết hợp với LMLT và DLOB
Áp lực ổ bụng giảm theo thời gian ở nhóm sống có ý nghĩa thống
kê ngay từ ngày thứ 2(p<0,05) về bình thường ở ngày thứ 4, nhóm tử
vong ALOB không thay đổi có xu hướng giữ nguyên, tăng trong tuần
đầu.
Biểu đồ 3.22. Diễn biến của huyết áp TB của BN
HA trung bình có xu hướng tăng sau ngày thứ nhất nhập viện,
duy trì ổn định ở nhóm BN sống; ở nhóm BN tử vong HA trung bình có
xu hướng tăng ở ngày thứ 2 và diễn biến không ổn định và có xu hướng
giảm ở các ngày tiếp theo.
17
Biểu đồ 3.23. Diễn biến của tỷ lệ PaO
2
/FiO
2
Tỷ lệ PaO
2
/FiO
2
có xu hướng tăng dần ở nhóm bệnh nhân sống sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê ngay từ ngày thứ 2 (p<0,05) và giảm dần
ở nhóm BN tử vong.
Biểu đồ 3.24. Diễn biến của Creatinin máu
4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA CÁC BỆNH NHÂN VTC
4.1.1. Giới và tuổi
Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trên 133 bệnh nhân VTC tại
Khoa HSTC Bệnh viện Bạch Mai, trong đó có 106 nam (79,7%) và 27 nữ
ALOB (cmH
2
O)
19
(21,3%), tỷ lệ nam/nữ vào khoảng 4/1 (Bảng 3.1), sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê p < 0,001. Tỷ lệ này cao hơn nhiều nghiên cứu trong nước
và nước ngoài. Hầu hết các nghiên cứu tỷ lệ nam/nữ vào khoảng 1,5 - 2.
4.2. ALOB VÀ ĐỘ NẶNG CỦA VTC KHI VÀO VIỆN
4.2.1. Tăng ALOB trong VTC
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.9 cho thấy 91 bệnh
nhân trong tổng số 133 bệnh nhân có tăng ALOB (68,4%).Trong đó,
mức độ tăng ALOB là 30 bệnh nhân độ I (22,7%), 40 bệnh nhân độ II
(30%), 14 bệnh nhân độ III (10,5%) và 7 bệnh nhân độ IV (5,3%).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của
Nguyễn Đắc Ca (2007) cho thấy tỷ lệ tăng ALOB trong VTC là 69%; và tỷ
lệ tương ứng là độ I 25%, độ II 19,44%, độ III 22,22% và độ IV 2,79%.
4.2.2. ALOB và các thang điểm độ nặng
4.2.2.1. ALOB và thang điểm Ranson trong chẩn đoán độ nặng của VTC
Nghiên cứu mối tương quan tuyến tính giữa ALOB với điểm Ranson
chúng tôi thấy có mối tương quan rất chặt chẽ với r = 0,72, p < 0,001; phương
trình tương quan y = 1,6x + 12,56 (y là điểm Ranson; x là giá trị ALOB).
Khi nghiên cứu mối tương quan này trong quần thể bệnh nhân
nghiên cứu của mình Nguyễn Đắc Ca cũng cho thấy có mối tương quan tuy
nhiên tương quan ở mức thấp hơn với r = 0,527 (có lẽ số lượng bệnh nhân
nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn nhiều so với nghiên cứu của tác giả).
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Dambrauskas (2009).
Nghiên cứu khả năng dự báo mức độ VTC của ALOB nếu lấy
điểm APACHEII là tiêu chuẩn phân độ nặng nhẹ (điểm Cut - off là 8) kết
quả nghiên cứu ở bảng 3.15 cho thấy tại điểm cut - off ALOB = 23,2 cm
H
2
O thì khả năng dự báo VTC nặng nhẹ là khá tin cậy với độ nhạy tới
98,55%, độ đặc hiệu 86,88%; GTDB(+) 86,67%; GTDB(-) 96,77 và tỷ lệ
chính xác là 83,68 và diện tích dưới đường cong nhận dạng đạt tới 0,95.
4.2.2.4. ALOB và thang điểm Balthzar (CTSI)
Nghiên cứu giá trị của ALOB trong chẩn đoán mức độ nặng nhẹ
của VTC theo thang điểm của CTSI (với điểm cắt CTSI ≥ 7) kết quả ở
bảng 3.18 cho thấy với điểm cut - off ở ngày nhập viện ALOB là 22,7
cm H
2
O có giá trị dự báo VTC nặng theo phân độ Balthazar (CTSI) với
độ nhạy là 86,75% nhưng độ đặc hiệu chỉ là 40% GTDB(+) là 70,59%;
GTDB(-) là 64,52% tỷ lệ chính xác là 69,17% diện tích dưới đường
cong nhận dạng ROC là 0,71.Như vậy độ tin cậy trong dự báo độ nặng
của VTC bằng ALOB dựa theo cách phân độ nặng nhẹ của chụp cắt lớp
thì chưa đủ độ tin cậy.
4.2.2.5. Dự báo mức độ VTC của ALOB theo tiêu chuẩn phân loại
nặng nhẹ VTC Atlanta sửa đổi 2007
Nghiên cứu khả năng dự báo mức độ VTC của ALOB khi lấy tiêu
chuẩn Atlanta sửa đổi 2007 làm phân định kết quả nghiên cứu ở bảng
3.19 cho thấy ALOB với cut-off ở ngày nhập viện của BN là 21,9
cmH
2
O cho kết quả khá tin cậy dự báo các BN VTC nặng với độ nhạy
87,38%, độ đặc hiệu là 91,94% GTDB + 90%; GTDB(-) 88,67%, tỷ lệ
chính xác 86,69% và diện tích dưới đường cong (AUC) là 0,88. Phù
ALOB lúc vào khoa là 24,7 ± 4,8cmH
2
O nằm trong phân độ II của tăng
ALOB. Kết quả nghiên cứu ở biểu đồ 3.21 cho thấy ở nhóm bệnh nhân
sống ALOB giảm nhanh và có ý nghĩa thống kê ngay sau ngày thứ nhất
và thứ 2. Trong khi đó ALOB không giảm và có xu hướng tăng lên
trong tuần đầu ở nhóm bệnh nhân tử vong. Nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Đắc Cam (2007). Kết quả nghiên
cứu của Nguyễn Quang Hải và cộng sự cho thấy kết quả ALOB cũng
giảm ngay từ ngày thứ 2, tuy nhiên thì từ ngày thứ 4 trở đi mới có ý
nghĩa thống kê, tác giả không phân tích tách riêng ở nhóm tử vong và
nhóm sống và chỉ nghiên cứu trên 18 bệnh nhân.
Nghiên cứu của Vũ Đức Định so sánh hai nhóm bệnh nhân VTC
nặng có LMLT và không LMLT cho thấy ALOB cũng giảm từ ngày thứ 2.
Tuy nhiên nhóm được LMLT giảm nhanh hơn và về bình thường vào
ngày thứ 5.
4.3.2.2. Diễn biến tình trạng suy tạng
Tuần hoàn, hô hấp và thẩm tách niệu là 3 tạng có tỷ lệ tổn thương
cao nhất trong các tạng ở bệnh nhân VTC nặng có tăng ALOB (bảng 3.23).
22
Trong nghiên cứu của chúng tôi phân tích diễn biến 3 tạng thông
qua các kết quả nghiên cứu các biểu đồ 3.22; 3.23 và 3.24 cho thấy kết
quả nghiên cứu huyết áp trung bình được cải thiện ngay từ ngày thứ 2,
tỷ lệ PaO
2
/FiO
2
, và Creatinin máu cải thiện có ý nghĩa thống kê ngay từ
ngày thứ 2 ở nhóm tử vong và ngày thứ 3 ở nhóm bệnh nhân sống,
tương ứng với sự giảm có ý nghĩa thống kê của ALOB ở nhóm bệnh
Tóm lại cùng với các biện pháp hồi sức cơ bản trong điều trị VTC
thì LMLT nhằm loại bỏ Cytokine, các yếu tố gây viêm hậu hỗ trợ điều
23
trị suy tạng ở giai đoạn muộn và chọc hút dẫn lưu ổ bụng là một biện
pháp hiệu quả giúp dẫn lưu các ổ dịch viêm hoại tử cũng góp phần làm
giảm các yếu tố gây viêm từ đó có tác dụng làm giảm áp lực ổ bụng từ
đó cắt đứt vòng xoắn bệnh lý trong VTC làm giảm tổn thương các tạng,
hạn chế biến chứng suy đa tạng và tử vong.
KẾT LUẬN
1. Mối tương quan giữa ALOB với độ nặng của bệnh nhân VTC
khi nhập viện
1.1. Tỷ lệ tăng ALOB ở bệnh nhân VTC trong nghiên cứu là 68,4%.
1.2. ALOB tương quan tuyến tính thuận chặt chẽ với các thang điểm
(Ranson, Imrie, APACHE II r = 0,72; 0,7 và 0,78), không tương
quan với thang điểm CTSI (r = 0,15).
1.3. ALOB tại các điểm cắt 23,2; 22,7; 21,5; 23,6; 21,9(cmH
2
O)- tương
ứng tăng ALOB độ IIcó giá trị dự báo mức độ của VTCtheo các
thang điểm phân độ APACHEII, Imrie, Ranson và cách phân loại
Atlanta sửa đổi 2007.
1.4. ALOB tại các điểm cắt 18,9; 32(cmH
2
O) có giá trị dự báo biến
chứng suy tạng; tử vong với độ nhạy cao (100% và 97,39%),
nhưng độ đặc hiệu thấp (44% và 27,78%).
2. Đánh giá sự thay đổi của ALOB trong điều trị VTC nặng có
LMLT kết hợp DLOB
2.1. ALOB có tác dụng gợi ý trong viêc trong việc lựa chọn chỉ định
một số biện pháp điều trị:
- Cần tiến hành các nghiên cứu ứng dụng lớn hơn ở các BN có
tăng ALOB nói chung trong môi trường hồi sức, cấp cứu và chống độc.