Mục lục
Lời nói đầu
Phần 1: Giới thiệu chung về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà
Nội(SHB)
1.1. Quá trình hình thành và phát triển
1.2. Các ngành nghề kinh doanh cơ bản
Phần 2: Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Hà Nội - Ngân hàng TMCP SHB
2.1. Sơ đồ tổ chức, các phòng ban và mạng lưới hoạt động
2.2. Chức năng cơ bản của các phòng ban
Phần 3: Thực trạng hoạt động trong 3 năm gần đây
3.1. Hoạt động huy động vốn
3.2. Hoạt động cho vay
3.3. Các hoạt động dịch vụ khác
Phần 4: Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động
4.1. Thuận lợi
4.2. Khó khăn
Phần 5: Phương hướng phát triển trong tương lai.
Kết luận
Danh mục bảng biểu và viết tắt
NHVN : Ngân hàng Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
SHB : Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
TMCP : Thương mại cổ phần
Lời nói đầu
Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã trải qua gần 20 năm đổi mới và phát triển
từ hệ thống Ngân hàng một cấp sang hệ thống Ngân hàng hai cấp, đến nay đã
khẳng định được sự phát triển vượt bậc. Từ năm 2007, Việt Nam chính thức gia
nhập và trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO),
điều này đã tạo môi trường thuận lợi cho hệ thống NHVN đẩy nhanh tiến trình cải
cách, đổi mới và phát triển. Đặc biệt là sự phát triển của các Ngân hàng thương
mại. Các NHTM đã có những sự chuyển mình mạnh mẽ để tận dụng tốt những cơ
gồm vài xã thuộc huyện Châu Thành, đối tượng khách hàng chủ yếu là các hộ nông
dân với mục đích vay vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Trải qua hơn 15 năm hoạt động, đến nay vốn điều lệ của Ngân hàng đã đạt
2000 tỷ đồng…,mạng lưới hoạt động kinh doanh đã có mặt tại các địa bàn Tp Cân
Thơ, Tp Hồ Chí Minh, Tp Hà Nội, Tp Đà Nẵng, Quảng Ninh và tỉnh Hậu Giang,
với nhiều sản phẩm dịch vụ mới tiện ích. Đối tượng khách hàng của Ngân hàng đa
dạng gồm nhiều thành phần kinh tế và hoạt động trong nhiều ngành nghề kinh
doanh khác nhau. Hoạt động kinh doanh trong những năm qua, Ngân hàng luôn
giữ được tỷ lệ an toàn vốn cao cùng với chính sách tín dụng thận trọng và quy trình
hợp lý đảm bảo chất lượng và khả năng phát triển danh mục tín dụng khả quan. Vì
vậy, các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, tạo tiền đề thuận lợi để
Ngân hàng phát triển bền vững.
Ngày 20/1/2006 Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký quyết định số 93/QĐ-
NHNN chấp thuận cho Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gon – Hà Nội chuyển
đổi mô hình hoạt động từ Ngân hàng TMCP nông thôn sang Ngân hàng TMCP đô
thị, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của SHB. Việc chuyển đổi mô hình hoạt
động từ Ngân hàng TMCP nông thôn sang Ngân hàng TMCP đô thị là một giai
đoạn phát triển mới của SHB với mục tiêu trở thành một trong những ngân hàng
TMCP bán lẻ đa năng, phấn đấu chuyển đổi từ một ngân hàng TMCP nông thôn
với phạm vi và quy mô hoạt động hẹp sang Ngân hàng TMCP đô thị, cung cấp sản
phẩm dịch vụ đa dạng cho các thị trường có chọn lựa, ngân hàng hoạt động vững
mạnh và an toàn, phát triển bền vững đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm 2006, là năm đánh dấu sự thay đổi và bước phát triển mạnh mẽ của
ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội, mạng lưới hoạt động kinh doanh của SHB đã trải
rộng khắp trong điạ bàn TP. Cần Thơ và một phần tỉnh Hậu Giang, đối tượng cho
vay không chỉ là các hộ nông dân mà còn mở rộng cho vay: hộ kinh doanh cá thể,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn, nguồn vốn huy động tăng, hoạt động
kinh doanh đạt hiệu quả cao với mức lợi nhuận năm sau luôn cao hơn năm trước.
Trong hoạt động kinh doanh xét trên phương diện an toàn vốn SHB là một
ngânhàng bền vững với cơ sở vốn hiện tại đủ để đảm bảo SHB tiếp tục phát triển
1.2. Các ngành nghề kinh doanh cơ bản
Theo chấp thuận của NHNN Việt Nam, ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
được phép tiến hành các hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cho vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn từ các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế và cá nhân
tùy theo tính chất và khả năng nguồn vốn của ngân hàng, chiết khấu thương phiếu,
trái phiếu và các giấy tờ có giá, kinh doanh tiền tệ, kinh doanh ngoại tệ, ngoại hối;
kinh doanh vàng; và thanh toán quốc tế.
Một số sản phẩm dịch vụ cơ bản:
- Đối với khách hàng cá nhân : Có rất nhiều sản phẩm dịch vụ đa dạng và phong
phú phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng khách hàng khác nhau. Bao gồm các
tài khoản tiền gửi; Tiền gửi tiết kiệm; Các sản phẩm cho vay như cho vay mua ô tô
trả góp, cho vay tín chấp tiêu dùng, cho vay hỗ trợ sản xuất kinh doanh…; các dịch
vụ chuyển tiền; Dịch vụ thẻ; Ngân hàng điện tử; và dịch vụ ngân quỹ.
- Đối với khách hàng doanh nghiệp : Có các tài khoản tiền gửi; các sản phẩm
cho vay như cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay đầu tư theo dự án, cho vay tài
trợ xuất nhập khẩu…;dịch vụ bảo lãnh; dịch vụ ngân quỹ; và các dịch vụ khác như
dịch vụ trả lương qua tài khoản cho các doanh nghiệp, dịch vụ ngoại hối cho doanh
nghiệp.
Đối với chi nhánh được phép thực hiện các nghiệp vụ như tại Hội sở nhưng theo
những hạn chế nhất định do Hội sở đặt ra.
Phần 2 : Cơ cấu tổ chức và bộ máy điều hành của chi nhánh Ngân
hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Qua 16 năm phát triển và trưởng thành, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
đã có hai lần thay đổi cơ cấu tổ chức. Về cơ cấu tổ chức của chi nhánh ta có thể
khái quát bằng sơ đồ sau :
Giám Đốc
Phòng
n
dụng
trách
TTQ
Tế
Các phòng giao dịch
Phòng
kiểm
tra,
kiểm
soát
nội bộ
Chi nhánh là đơn vị trực thuộc ngân hàng, có con dấu và được thực hiện một
số chức năng, nhiệm vụ ngân hàng theo ủy quyền của tổng giám đốc,có bảng cân
đối riêng, tự cân đối thu nhập, chi phí, và có lãi nội bộ. Tại chi nhánh Hà Nội, các
phòng ban được phân chia và thực hiện chức năng riêng của mình.
Giám đốc chi nhánh chịu trách nhiệm chỉ đạo điều hành và kiểm soát công
việc kinh doanh nói chung của chi nhánh và hoạt động cấp tín dụng nói riêng trong
phạm vi được ủy quyền. Đồng thời kiểm soát hoạt động của các phòng giao dịch
trực thuộc chi nhánh.
Các Phó giám đốc được sự ủy quyền của giám đốc chịu trách nhiệm điều
hành kiểm soát từng mảng kinh doanh nhất định.
Phòng Tín dụng : gồm các cán bộ tín dụng thực hiện các chức năng như :
thẩm định các hồ sơ, dự án vay vốn, đầu tư theo yêu cầu của Ban lãnh đạo hay các
cấp có thẩm quyền; Quản lý và phát triển các sản phẩm tín dụng; thẩm định và tái
thẩm định các hồ sơ tín dụng nằm trong hạn mức phán quyết của chi nhánh; tiếp thi
và mở rộng thị phần của ngân hàng thông qua các sản phẩm và dịch vụ cung cấp.
Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm ra nguyên nhân và đề
xuất hướng khắc phục
Phòng Hành chính nhân sự: thực hiện các chức năng quản lý nhân sự, đào
tạo nhân sự; Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, quản lý nhân viên tại chi nhánh
Nguồn ngắn hạn 69,799 712,68 1.865,95
Nguồn dài hạn 38,366 271,686 37,887
Tổng nguồn vốn 108.165 984,366 1.903,837
(Nguồn từ BCTC của chi nhánh Hà Nội 3 năm 2006, 2007,2008)
Xét về kỳ hạn, nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn: Năm 2006 chiếm
64,5%, năm 2007 chiếm 72,4%, năm 2008 chiếm 98,01% trong tổng nguồn vốn
huy động. Nguồn vốn trung và dài hạn có xu hướng tăng lên trong năm 2007
nhưng tăng không đáng kể so với nguồn ngắn hạn và có tỷ trọng giảm dần, và đến
năm 2008 thì giảm đáng kể. Điều này là do trong năm 2008, chính sách lãi suất của
NHNN thường xuyên biến động nên lãi suất của các NHTM cũng có sự thay đổi để
tăng tính cạnh tranh. Do lãi suất không ổn định nên khách hàng chủ yếu là gửi
ngắn hạn. Điều này dẫn đến việc ngay trong 6 tháng đầu năm 2008, vốn huy động
ngắn hạn của SHB tăng lên rất cao. Sự chênh lệch quá lớn giữa nguồn vốn huy
động ngắn hạn và dài hạn có thể gây rủi ro cho Ngân hàng, có thể do nguyên nhân
là sự sụt giảm lãi suất tiền gửi sẽ dẫn đến việc các khách hàng cùng một lúc đến rút
tiền, và sẽ làm mất tính thanh khoản cho SHB. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro, Ngân
hàng SHB đang có kế hoạch điều chỉnh nguốn vốn huy động theo hướng giảm dần
nguồn vốn huy động ngắn hạn và tăng dần nguồn huy động dài hạn. Việc điều
chỉnh cơ cấu nguồn vốn này đảm bảo cho SHB có được nguồn vốn ổn định cho
phát triển kinh doanh.
Xét về cơ cấu, nguồn vốn huy động phân theo cơ cấu năm 2006 thì nguồn
vốn huy động từ khách hàng tăng lên về số lượng so với năm 2005 nhưng chiếm
tỷ trọng ngày càng ít trong tổng vốn huy động. Nguồn tiền gửi từ các TCTD chiếm
tỷ trọng ít trong tổng nguồn huy động, trong đó chủ yếu là tiền gửi của các tổ chức
kinh tế và khách hàng cá nhân. Đặc biệt sang năm 2008, nguồn vốn huy động từ
các TCTD là hơn 274 triệu đồng, và chiếm một tỷ lệ rất nhỏ là 0,014% trong tổng
nguồn vốn huy động. Việc tiền gửi của các tổ chức tín dụng giảm như vậy phân lớn
là do tình hình biến động kinh tế trong năm vừa qua. Sự sụt giảm kinh tế trong năm
đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác,
không chỉ tại chi nhánh mà ảnh hưởng đến toàn hệ thống Ngân hàng.
(Nguồn từ BCTC của chi nhánh Hà Nội 3 năm 2006, 2007,2008)
Từ bảng trên ta có thể thấy rằng tổng dư của Chi nhánh tăng mạnh qua các
năm. Năm 2006 dư nợ của chi nhánh chỉ đạt 64,217 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho
vay ngắn hạn là 47,135 tỷ, chiếm 73,44% trong tổng dư nợ. Đến năm 2007, tổng
dư nợ tín dụng của chi nhánh tăng lên 960,308 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay
ngắn hạn chiếm 60,5% trong tổng dư nợ, tăng 1495% so với năm 2006. Kết thúc
năm 2008, dư nợ của chi nhánh Hà Nội đạt 990,481 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho
vay ngắn hạn đạt 693,336 tỷ, chiếm 70% trong tổng dư nợ tín dụng của toàn chi
nhánh.
Như vậy, ta có thể thấy rằng dư nợ cho vay của Chi nhánh Hà Nội từ năm
2006 – 2008 có mức tăng trưởng cao. Đạt được điều đó là do sự tiếp cận được với
số đông khách hàng, cả khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên
cạnh đó, Chi nhánh còn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vay vốn với
các hình thức phù hợp. Ngoài ra, nguồn vốn huy động tăng trưởng cũng tạo tiền đề
cho sự tăng trưởng dư nợ tín dụng của Ngân hàng.
3.3. Các hoạt động dịch vụ khác
Sau khi chuyển đổi mô hình, Ngân hàng đã có những chính sách phát triển
nhiều loại hình dịch vụ mới. Các hoạt động thanh toán và kinh doanh ngoại tệ được
khai thác triệt để. Đặc biệt trong năm 2008, Chi nhánh đã mở rộng quan hệ thanh
toán, bảo lãnh với các TCTD trong và ngoài nước.
Nhìn chung, các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng tuy mới triển khai nhưng
bước đầu đem lại hiệu quả cho Ngân hàng, đóng góp một phần vào thu nhập của
Ngân hàng.
3.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Hà Nội năm 2006 – 2008
Bảng 3.4: Doanh thu của Chi nhánh Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
5,574
12,937
(0,101)
12,937
4.1. Thuận lợi
Sau sự kiện gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam được dự đoán là sẽ duy trì
tốc độ tăng trưởng ổn định trong những năm tới nhờ sự gia tăng nguồn đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của khối kinh tế tư nhân, những cải
cách mạnh mẽ của khối kinh tế nhà nước, những cơ hội từ quá trình hội nhập kinh
tế toàn cầu. Sự phát triển kinh tế tạo điều kiện cho sự phát triển của SHB nói chung
và chi nhánh Hà Nội nói riêng.
Thêm vào đó, môi trường chính trị pháp luật ổn định đã giúp cho môi trường
kinh doanh ngày càng thông thoáng hơn, khuyến khích tính tự chủ cao hơn của
doanh nghiệp. Cải cách ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh hơn nhằm tạo điều kiện cho
các NHTM đáp ứng được những thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế bằng
việc tăng cường nội lực phát huy tính cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, đảm
bảo hoạt động thương mại, dịch vụ theo các nguyên tắc thị trường.
Lạm phát được kiểm soát tốt và chính sách bình ổn tỷ giá USD/VND của
NHNN tạo môi trường kinh tế ổn định và niềm tin đối với các nhà đầu tư và người
tiêu dùng. Kết quả là sản xuất và tiêu dùng trong nước tăng, đi kèm theo đó là nhu
cầu về tín dụng và các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của người dân cũng tăng
nhanh. Đây là một thuận lợi rất lớn cho hoạt động của ngân hàng, tạo điều kiện cho
sự phát triển của SHB.
Với việc chuyển đổi từ mô hình NHTM cổ phần nông thôn sang mô hình
NHTM cổ phần đô thị đã tạo động lực để cho SHB mở rộng mạng lưới kinh doanh,
tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Điều này đã và đang tạo điều kiện để ngân
hàng tăng dư nợ tín dụng phục vụ hoạt động đầu tư và tiêu dùng.
Với những sản phẩm dịch vụ đa dạng, với phương châm trở thành một ngân
hàng bán lẻ đa năng hiện đại, SHB đã tập trung phát triển nhiều sản phẩm phục vụ
khách hàng cá nhân bằng các sản phẩm đa dạng, đơn giản, dễ hiểu, có tính đại
chúng, tính phổ cập và tiêu chuẩn hóa cao thông qua mạng lưới rộng. Huy động
tiết kiệm với nhiều hình thức đa dạng đã thu hút rất nhiều khách hàng đến tham gia
sử dụng dịch vụ của Ngân hàng.
Ngoài ra, việc hiện đại hóa công nghệ thông tin trên toàn hệ thống ngân
phần nào vấn đề huy động vốn trong Ngân hàng.
Ngoài ra, hoạt động kinh doanh của SHB còn nhiều hạn chế. Sản phẩm huy
động vốn chưa đa dạng do SHB phát triển sản phẩm còn chậm. Dịch vụ ngân hàng
còn đơn điệu, chưa đa dạng, chưa thiết kế cho từng nhóm khách hàng khác nhau
nên thu hút khách hàng chưa mạnh. Hạn chế lớn nhất trong năm qua của Ngân
hàng là chưa triển khai được dịch vụ thanh toán quốc tế, vì đây là mảng dịch vụ
được xem là rất quan trọng để cấu thành lợi nhuận chủ yếu trong tổng thu nhập
toàn ngân hàng.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và có sự tham gia ngày càng nhiều các
định chế tài chính trong và ngoài nước, SHB mới chuyển từ Ngân hàng TMCP
nông thôn lên TMCP thành thị, với thị phần huy động và thị phần tín dụng còn
thấp cũng là một khó khăn không nhỏ đối với hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên
SHB đang hướng dần các hoạt động và nguồn lực của mình nhằm đáp ứng nhu cầu
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho vay khu vực nông thôn và tài trợ cho các dự
án phát triển cộng đồng. Trong lĩnh vực huy động vốn, SHB còn đang phải cạnh
tranh với các công ty khác như công ty bảo hiểm, các công ty cổ phần niêm yết
trên thị trường chứng khoán về nguồn vốn trung và dài hạn, hay cung cấp các sản
phẩm riêng lẻ hoặc hỗn hợp.
Với những thuận lợi và khó khăn trên, SHB nói chung và chi nhánh Hà Nội
nói riêng cần có những chính sách và phương hướng phù hợp để hội nhập và phát
triển.
Phần 5: Phương hướng phát triển trong thời gian tới của chi nhánh
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Mặc dù 2008 là một năm đầy khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam nói
chung và ngành tài chính ngân hàng nói riêng, xong SHB vẫn đạt được mức tăng
trưởng khả quan. Lợi nhuận trước thuế đạt xấp xỉ 269 tỷ đồng, tổng dư nợ tín dụng
6.227 tỷ đồng, tổng huy động trên toàn hệ thống đạt 11.768,7 tỷ đồng. Với tôn chỉ
hoạt động là trở thành một ngân hàng bán lẻ đa năng hiện đại hàng đầu tại Việt
Nam, phấn đấu đến năm 2010 trở thành một Tập đoàn tài chính cung cấp sản phẩm
dịch vụ đa dạng cho các thị trường chọn lựa, hoạt động vững mạnh và an toàn, phát
cứu em đã tổng hợp được những vấn đề cơ bản về Ngân hàng, cũng như phương
hướng phát triển trong tương lai. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo – PGS.TS Đàm Văn Huệ, cùng các anh chị trong ngân hàng đã giúp
em hoàn thành bản báo cáo tổng hợp này. Em rất mong được sự góp ý của thầy cô
và các cô chú anh chị trong ngân hàng để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
class="bi x0 y0 w1 h1"