đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa của người khmer nam bộ - Pdf 18

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA VÀ XU HƯỚNG
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI KHMER NAM BỘ

Trang 1
Người Khmer ở Việt Nam hiện nay có khoảng một triệu người, nhưng
phần lớn tập trung ở Nam bộ, nhiều nhất là ở các tỉnh Trà Vinh,
Kiên Giang, Sóc Trăng và Bạc Liêu; đây là một tộc người có dân
số cao nhất trong nhóm Môn Khmer thuộc ngữ hệ Nam Á. Người
Khmer vốn có một đời sống tinh thần phong phú, với sức lao động
cần cù và một truyền thống văn hóa tốt đẹp, từ nhiều thế kỷ
trước đã cùng với người Kinh người Hoa thắt chặc tình đoàn kết
trong việc khai mở đất đai xây dựng làng xã ở phía Nam và đã tích
cực góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc.
Văn hóa của mỗi dân tộc đều có những đặc trưng nhất đònh và có
những phong cách riêng để thể hiện đời sống xã hội, phong tục
tập quán, tôn giáo tín ngưỡng, văn học nghệ thuật những yếu tố
đó đều là những sản phẩm trí tuệ rất q báu của tập thể con
người đã sáng tạo và bổ sung qua nhiều thời kỳ lòch sử khác nhau;
Ở nước ta hiện nay có tất cả 54 dân tộc với 54 loại hình văn hóa
đặc thù, nhưng tất cả đã cùng hòa quyện với nhau để kết tinh
thành một nền văn hóa chung, đó là nền văn hóa của đại gia đình
dân tộc Việt Nam. Người Khmer Nam bộ trong thời gian qua đã
thực sự có những thành tích nổi bật trong việc phát triển văn hóa
phục vụ con người và xã hội, đồng thời cũng đã có những dấu hiệu
tốt trong xu hướng phát triển văn hóa phù hợp với các điều kiện
về kinh tế thò trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
1/- ĐỜI SỐNG - XÃ HỘI :
1.1. Nơi ở :
Trang 2

đa số những người ở miền Tây thì sử dụng các loại tràm, đước,
cóc, dà, lục bình (cây mai), tre gai. Họ dừng vách bằng lá dừa
nước, thông thường thì lá bên ngoài sóng bên trong, cũng có một
cách dừng vách đâu sóng, theo cách này thì cả vách trong vách
ngoài đều thấy toàn sóng còn lá được ém kín ở giữa trông rất đẹp.
Nhà lớn thường có hai cái, cái trên cái dưới, mỗi cái ba gian, nhà
nhỏ thường một căn một chái cũng gần giống như nhà người Kinh,
loại chái bát vần của người Khmer được làm với kỹ thuật khá cao.
Khi cất nhà, người Khmer có một tập quán rất tốt đẹp là họ luân
phiên phụ giúp với nhau gọi là vần công cất nhà.
Trang 4
Người Khmer tuy cũng có giàu nghèo cao thấp khác nhau, nhưng cách
bày trí xếp đặt bên trong nhà của họ đa số đều gần giống nhau;
thường thì nhà trước là nhà khách có một bộ bàn ghế dài (tâu
tăng) hoặc một bộ ván ngựa (kđa) lớn để ở giữa, hai bên là hai bộ
ván ngựa nhỏ hoặc là hai chiếc chỏng tre để đàn ông con trai
trong nhà nghỉ ngơi , nếu khi có khách thì nhường cho khách
nghỉ , phía sau thường có một hoặc hai chiếc tủ (tu) , bên trong đặt
những chiếc gối thêu (khnơi) rất đẹp để biểu lộ sự khéo tay của
phụ nữ trong nhà . Nhà nào cũng có bàn thờ Phật ở gian chính ,
đôi khi cũng được đặt trên đầu tủ một cách đơn giản nhưng rất
trang trọng . Người Khmer ngày xưa không có phong tục thờ tổ
tiên trong nhà nhưng do dung nạp tín ngưỡng của người Kinh
người Hoa nên có một số gia đình người Khmer ngày nay cũng có
thờ tổ tiên, họ thờ riêng hoặc thờ chung trên bàn thờ Phật,
thường thì ảnh người quá cố được đặt dưới ảnh Phật.
Phía sau phòng khách, nếu nhà khá giả thì ngăn phòng cho vợ chồng
chủ nhà (bân tak kần lạng mây ôn), phòng con cái, nhất là con gái
luôn có phòng riêng (bân tak thơ nông kùm mụn), nếu nhà nghèo
cũng che một góc cho con gái. Người Khmer thường nằm quay đầu

chiếc xà rông sau khi dệt xong đều mang hình ống nhưng người ta
sẽ không tìm ra được một đường nối vải nào, y như một chiếc
khăn tròn tròa liền trơn không đầu mối.
Các loại trang phục truyền thống của người Khmer nói chung vừa kín
đáo vừa trang trọng lại vừa xinh đẹp đã biểu lộ được sắc thái đậm
đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Trang 6
Ngày nay trong một số lễ cưới chú rễ cũng mặc xà rông, áo màu đỏ,
cổ đứng vai trái vắt chiếc khăn dài, lưng đeo dao cưới (kầm pách)
theo tín ngưỡng dân gian để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc săm
pốt, áo đỏ hoặc tím, đầu đội mủ cưới hình chóp, cổ cũng quàng
khăn dài trông thật duyên dáng.
1.3. Ăn uống :
Người Khmer có một món ăn rất nỗi tiếng đó là mắm prahoc (người
Kinh thường gọi trại là bò hóc). Mắm này được làm bằng nhiều
loại cá, cách làm rất công phu và tốn thời gian rất lâu (khoảng
hơn 4 tháng). Mắm prahoc có thể làm bằng các loại cá nhỏ như cá
sặc, cá chốt, cá mè, cá lòng tong hoặc những lọai cá lớn đắt tiền
như cá trê, cá lóc tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của mỗi gia
đình, người giàu có thường làm mắm prahoc ốp bằng cá trê rất
thơm ngon từ mắm prahoc người chế được rất nhiều thức ăn, có
thể đem kho, chưng để ăn với các loại rau mác, rau dừa, hẹ nước,
cải trời, cỏ the, hoặc mắm sống ăn chung với sả ớt và đậu đủa thì
thật là tuyệt diệu. Ngoài ra người Khmer còn dùng mắm prahoc
nêm nếm các loại canh hàng ngày để tăng thêm hương vò, nhất là
món canh cải bẹ xanh nấu với cá lóc chiên nêm mắm prahoc, các
món ăn tuy đơn giản những hương vò thật đặc biệt đậm đà.
Trang 7
Ngoài loại mắm prahoc, còn có các loại mắm pro ot (bò ót), ơng pa, pơ
ling làm bằng tép mồng, tép bạc và một loại mắm chua rất ngon

người Hoa, nhưng hương vò rất đặc biệt và rất gần gũi với mọi
người; một số món ăn đã được Việt hóa ở Nam bộ, người Kinh từ
nhiều năm qua cũng đã có mắm chua cá linh, mắm ruột trộn đu
đủ, tép chau, canh chua, bún nước lèo nhưng mỗi món ăn đều
được cải tiến cho thích hợp với khẩu vò của con người từng đòa
phương.
2/- TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƯỢNG :
Trang 9
Người Khmer đã đón nhận đạo Bà La Môn từ lâu đời, những có lẽ do
những giáo điều gò bó và cách phân chia đẳng cấp quá khắt khe
của Bà La Môn không phù hợp với tính phóng khoáng, bình dò và
dễ dãi của người Khmer nên dần dần vò trí của tôn giáo này đã bò
Phật giáo nam tông (còn gọi là Phật giáo tiểu thừa hay Phật giáo
nguyên thủy) thay thế.
Giáo lý nhà Phật đã hòa nhập vào cuộc sống của người Khmer, lâu
dần đã trở thành đạo lý của con người, trở thành một thứ ý thức
gắn liền vào cuộc đời của họ. Chùa là mái nhà chung của mọi gia
đình, thanh niên trước tuổi trưởng thành đều phải đi tu để trở
thành người đạo đức - để có đủ điều kiện tham gia xã hội, xây
dựng gia đình, người Khmer không coi việc tu hành là bổn phận
hay nhiệm vụ bắt buộc mà là mà là một điều vinh dự, vinh dự
được vào ngôi nhà của Phật để nhận những hạt giống lành và
những phúc duyên thật tốt để sau đó trở lại thế tục với một con
người đầy đủ các điều kiện về nhân cách, phẩm chất, khả năng ,
người nào không muốn ra đời thì tiếp tục tu niệm để tìm giải
thoát. Trong xã hội của người Khmer trước đây, mọi thanh niên
đều phải có thời gian tu ở chùa, vì chùa không những là nơi trau
dồi đạo đức mà còn là mái trường đào tạo văn hóa và nghề
nghiệp, người nào không xuất gia thì bò mọi người khinh rẻ, khó
hòa nhập vào cộng đồng, cả việc cưới hỏi cũng bò trở ngại, người

Tuy nhiên ngoài lòng tin về chùa về Phật, người Khmer còn có những
tín ngưỡng dân gian rất đa dạng và phong phú, phổ biến nhất là
tín ngưỡng về arăk và neakta.
Trang 12
Arăk có nghóa là thần cũng có nghóa là ma quỷ không có hình dáng rõ
rệt, arăk có bổn phận bảo vệ và gìn giữ bình yên cho dòng họ hoặc
thân chủ nào đó, có thể xem đây là một loại thần thiện. Ngày xưa
hầu hết các gia đình Khmer đều thờ arăk, một số lớn bàn thờ arăk
ở đồng bằng sông Cửu Long là những chòi nhỏ ngoài trời được
làm theo kiểu nhà sàn được lợp bằng lá dừa nước, bên trong có bệ
thờ bày trí một khúc thân chuối hoặc một trái dừa để cặm nhang,
một cái dóa bằng bẹ chuối và một cái tháp được làm bằng cây.
Nhưng hiện nay loại chòi nhỏ để thờ arăk còn lại rất hiếm, chỉ
thấy lẻ tẻ một số rất ít ở các vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên về tín
ngưỡng arăk của người Khmer cũng còn rõ nét, họ luôn tin tưởng
arăk của dòng họ (arăk chua bua), các arăk này có tên riêng, có lời
ca riêng để nhập đồng (lên xác) và nhất là các vật dâng cúng cũng
không giống nhau; thí dụ : arăk Cần Tôn Khiu là nữ thần khi dâng
cúng phải là thòt ếch, thòt bò; arăk Chùa Teo Tây cũng là nữ thần
nhưng khi dâng cúng phải có gà, đầu heo; một số arăk rất khác
thường như arăk A Chúk khi mời nhập đồng phải dùng lời ca tục,
khi dâng lễ vật phải chưởi rủa và phải dâng bằng chân, phải đổ
rượu bằng gáo dừa
Arăk thường là bà tổ của dòng họ, hoặc là một người chết oan hoặc
người sau khi chết có những hiện tượng kỳ lạ hoặc là một người
nào đó trong dòng họ rất nỗi tiếng. Khi cúng arăk thường phải có
một người nữ để nhập đồng (rub arak) - người Kinh ở Nam bộ
thường gọi là xác cô, xác cậu, người được chọn thường là một
người không được bình thường, ưa nói năng khó hiểu hoặc có các
thói quen lạ đời; tuy nhiên trong phum sóc đôi khi cũng có người

là hóa thân của neaktà. Có một loại miếu to hơn được đặt ở các
khuôn viên chùa, miếu này thường được làm bằng gạch ngói để
thờ các vò neakta chủ xóm (neakta wâtt, neakta méchas srot), trên
bệ thờ có một viên đá to (thmor thom) và nhiều viên đá nhỏ (thmor
touch); các viên đá này có viên tròn, cũng có viên hình bầu dục,
người Kinh thường gọi nôm na là “ông tà”ø và gọi các miếu thờ là
miểu ông tà.
Trang 15
Về tên gọi của neakta cũng rất đa dạng được phân chia ra làm nhiều
loại : Loại dùng tên của một vật trong thiên nhiên, hoặc dùng đòa
danh để đặt tên, có loại mang tên nhân vật trong truyền thuyết,
có loại căn cứ vào màu sắc để gọi tên, cũng có loại tên có nguồn
gốc từ đạo Bà La Môn như neakta Day Khmau, neakta Kocohom,
neakta Buôn Muk, neakta Pottobol, neakta Neang Khmau, neakta
Neang Khiu. Riêng các neakta Day Khmau và Kocohom được thờ
cúng rất nhiều ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long được người
ta xem như những hóa thân của các thần Vishnou và Siva trong
các truyền thuyết xa xưa. Các neakta này thường được thờ cúng ở
chùa.
Tín ngưỡng arăk và neakta đã ảnh hưởng rất sâu đậm vào cuộc sống
của người Khmer trong nhiều thế kỷ qua, nhất là những đồng bào
nghèo ở các phum sóc xa xôi, người ta luôn tìm chổ dựa tinh thần
vào tổ tiên của dòng họ, vào những vò thần bảo hộ xóm làng,
người ta luôn kêu cứu các vò khuất mặt khuất mày đó để xin được
cứu giúp trong những khi bò thiên tai, dòch bệnh, thất mùa, tai
nạn Nhưng dưới sự truyền bá sâu rộng của Phật giáo nam tông,
các loại tín ngưỡng dân gian của người Khmer càng ngày càng bò
biến đổi hình dạng và cho đến nay trình độ dân trí của người
Khmer đã được nâng cao, nên một số lớn tín ngưỡng về arăk và
neakta cũng đang dần dần bò mai một.

lượng với nhiều đề tài có ý nghóa, các nghệ nhân Khmer phân ra
làm nhiều loại : Chuyện xưa tích cũ, ngụ ngôn, truyện kể về thú
vật và truyện cười.
Trang 17
Truyện ngụ ngôn được phát triển rất lớn vì Phật giáo có lối giảng đạo
cho người bình dân bằng cách kể truyện có ẩn dụ để thay cho
những bài giáo lý khô khan khó hiểu : Các nhà sư thường dùng
những hình tượng cụ thể trong văn học thay thế cho những khái
niệm trừu tượng trong triết học để dễ dàng truyền bá giáo lý
Phật giáo đến mọi người, lâu dần đã thành những câu truyện kể
quen thuộc trong dân gian.
Các truyện nói về loài vật thì mỗi loài được nhân cách hóa và điển
hình cho mỗi trường hợp trong cuộc sống khác nhau, riêng hình
tượng con thỏ đã được gắn vào nhiều truyện cổ tích xa xưa và
người Khmer cũng rất chú ý đến hình tượng con vật này. Một số
lớn người Khmer đều nghó rằng thỏ là loài vật tinh khôn, đẹp về
thân thể, tinh khiết về tinh thần, từng là tiền thân của đức Phật
đã có lần hy sinh thân mạng để cứu người khác, người ta đã khai
thác triệt để ý nghóa hy sinh cao cả này trong các truyện kể dân
gian. Ngòai ra, khỉ và voi cũng là những hình tượng thường được
nhắc đến.
Trang 18
Trong các loại hình truyện kể dân gian có một loại cũng rất được mọi
người thích thú đó là truyện cười. Không chỉ riệng đối với người
Khmer mà cả các dân tộc khác, truyện cười luôn mang lại những
cái vui tươi, hóm hỉnh, sảng khoái, cũng vừa là những bài học có ý
nghóa thâm thúy về cuộc đời của con người. Truyện cười đã phản
ảnh được những thói hư, tật xấu của của quan lại, vua chúa,
những người giàu sang, đạo đức giả, những con người được xem là
“phụ mẫu chi dân” nhưng lại nhẫn tâm áp bức đày đọa : “con

bụng nên người ta phải tắm và buổi tối cái duyên ở chân nên
người ta phải rửa chân để đi ngủ”. Hoàng tử nghe xong tỉnh ngộ
liền tìm vò chúa tể Maha Prum trả lời. Maha Prum bò thua và đã
giữ đúng lời hứa tự cắt chiếc đầu có bốn mặt của mình đặt ở đỉnh
núi Somêru giao cho bảy nàng công chúa con của thần luân phiên
canh giữ.
Nội dung truyện thần thoại này đã nêu lên ý nghóa sự chiến thắng của
con người đối với vò thần có nhiều quyền năng và kiêu ngạo, sự
chiến thắng của trí thông minh, của trí tuệ loài người đối với sức
mạnh của thiên nhiên và các uy lực huyền bí.
Trang 20
Trong các ngôi chùa Khmer, người ta còn thấy biểu tượng Reahu với
chiếc đầu to mồm rộng, răng nhe, mắt trợn, hai tay nắm mặt trời
đưa vào mồm chực nuốt. Biểu tượng này cũng có nguồn gốc từ
một truyện thần thoại rất quen thuộc trong dân gian : Ngày xưa,
trong một gia đình nọ có ba anh em trai, do cha mẹ mất sớm nên
họ đã ở chung một nhà và rất thương yêu nhau. Một hôm có một
đoàn tu só đi khất thực, hai người anh bảo người em út dâng cơm,
người em chạy vào nấu cơm, nhưng cơm chưa chín, đoàn tu só đã đi
qua rồi, hai anh tức giận chưởi mắng thậm tệ, anh thứ hai còn
dùng đủa bếp đánh vào đầu đứa em. Người em nổi giận bỏ nhà ra
đi, đến một con sông thấy nước chảy cuồn cuộn mới ước ao cho
mình có sức mạnh vạn năng, may mắn thay người em lại được đắc
kỳ sở nguyện trở thành người có sức mạnh vô song và sau đó hai
người anh do có công quả tu tập, nên anh cả đã biến thành mặt
trời và anh hai biến thành mặt trăng.
Trang 21
Người em lúc này tự xưng tên là Reahu, ỷ có sức mạnh phi thường nên
xem thường mọi người và còn xem thường cả thần thánh. Một
hôm nghe làng bên có một vò La Hán đang thuyết pháp, dân

thai còn cầu xin Reahu phù hộ cho sinh đẻ được mau mắn và dễ
dàng.
Truyện này phản ánh sự nhận thức của con người thời cổ về các hiện
tượng tự nhiên như giông bão, gió trốt, thủy triều lên xuống, nhật
thực, nguyệt thực , tất cả đều do một năng lực huyền bí gây nên.
Ngoài ra, còn rất nhiều truyện thần thoại khác, mỗi truyện đều
mang một ý nghóa đặc biệt và phản ảnh một đôi phần về các sinh
hoạt và tín ngướng cổ xưa.
3.2. Loại văn vần (kâmnap) :
Trong văn học dân gian Khmer, loại văn vần cũng không kém phần
phong phú hơn loại văn xuôi, có thể nói còn hấp dẫn hơn bởi tính
trữ tình của nó. Gọi chung là thơ ca dân gian nhưng trong đó bao
gồm rất nhiều loại của nhiều thời kỳ lòch sử khác nhau, có cả : ca
hát (châm riêng), hò (Bâm to bât), tục ngữ ca dao (Sphoeaset), dân
ca (Bât chrieng) và các bài thơ ngụ ngôn, trào phúng, châm biếm
Trang 23
Cuộc sống của người Khmer Nam bộ rất gần gũi với thiên nhiên, họ
rất thích ca hát để biểu đạt tình cảm, trong mọi sinh hoạt đình
đám, hội hè, liên hoan, họp mặt đều có ca hát, ca hát là một món
ăn tinh thần rất quen thuộc và quan trọng đối với người Khmer.
Thường thì múa và hát ít khi tách rời, điệu múa làm tăng thêm ý
nghóa cho lời ca và lời ca càng làm tăng thêm nghệ thuật cho điệu
múa. Các nam nữ vừa múa vừa hát đối đáp với nhau qua các bài
ayai. Trong những ngày mùa có những bài ca phục vụ lao động
(châm riêng pôtahkam) người nông dân vừa hát vừa làm việc để
quên đi nổi mệt nhọc trên đồng ruộng. Cũng có những bài ca trữ
tình (châm riêng brâchea brei) các thanh niên nam nữ rất ưa thích
và có cả những bài độc tấu, độc diễn, vừa ca vừa sử dụng đàn dây
(châm riêng chapei).
Người Khmer Nam bộ còn có những điệu hò rất lý thú, đây cũng là

người, nghệ thuật là tiếng nói riêng là biểu hiện bản sắc văn hóa
của từng tộc người trên thế giới, mỗi dân tộc đều có những loại
hình nghệ thuật đặc thù đã phản ánh những phong tục tập quán
của từng đòa phương. Người Khmer là một tộc người vốn có cuộc
sống tinh thần rất phong phú, từ đó sản sinh nhiều loại hình nghệ
thuật rất độc đáo như nghệ thuật múa, âm nhạc, sân khấu, kiến
trúc ; từng loại hình nghệ thuật đã phản ảnh được những góc độ
nhất đònh về tâm tư, tình cảm, phong tục tập quán của người
Khmer trong nhiều thế kỷ qua.
4.1. Âm nhạc :
Trang 25

Trích đoạn Lễ Xin cưới (Si sla banh cheab peak) : Lễ này diễn ra trước ngày cưới, nhà trai mang lễ vật trà rượu trầu cau bánh trái đến nhà gá Lễ cúng trăng : (Pithi Sâm peak preah khe). Lễ giỗ (Bon khuop chhuan). Lễ dâng bơng (Bon phkar) :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status