Tiểu Luận Môn Nghệ Thuật Giao Tiếp - Pdf 18

Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 1
A-MÔÛ ÑAÀU
“Một con người có bản lĩnh” - đó là một lời khen tặng biểu thị
một đánh giá về nhân cách. “Một dân tộc có bản lĩnh” thể hiện trong lịch sử tồn tại
và phát triển của dân tộc ấy, là niềm tự hào của những thành viên trong cộng đồng
người kết thành dân tộc, và điều đó được thế giới biết đến.”
Vì rằng, "có những đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái
tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi
đã nghe về các bạn qua lịch sử, qua văn hóa lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt,
và đặc biệt là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh". Hình như nhận định của của
Philip Kotler, người được xem là chuyên gia lừng danh về marketing ấy, không là "một
cách marketing" về Việt Nam khi ông là khách mời được trân trọng ở đây cách nay
không lâu. Chắc đây không chỉ là ý tưởng riêng của Philip Kotler!
Tuy vậy, đừng quên rằng, cũng đã có lúc dân tộc này dường như đã gần biến mất
trong cả một mưu đồ đồng hóa suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc từ năm 111 trước CN cho
đến năm 905 sau CN. Sau gần mười thế kỷ kiên cường đấu tranh để tồn tại vớii tư cách
là một quốc gia độc lập, lần lượt đánh tan các đạo quân xâm lược phương Bắc, thì đến
nửa đầu thế kỷ XIX, tên của quốc gia ấy bị xóa khỏi bản đồ thế giới trong ngót một trăm
năm đô hộ của phương Tây, để rồi người ta chỉ biết đến một bộ phận của xứ Đông
Dương thuộc Pháp. Thế là đến cái tên cũng chẳng còn chứ không phải chỉ là "lạ hoắc"!
Những hành động tự tin và khẳng định trong giao tiếp được mô tả là: "biểu lộ và
phát biểu ý tưởng và cảm xúc một cách trực tiếp, thành thật, và đúng mức nhưng không
vi phạm đến quyền hạn của người khác".
Khi tự tin, bạn cảm thấy tự chủ và có quyền làm hoặc nói những điều cần thiết,
và có thể lựa chọn đúng lúc và đúng mức. Nhưng để phát biểu được những cảm tưởng,
bạn phải chú tâm và hiểu biết chính mình trước. Như thế bạn mới có thể nhận định được
những nhu cầu, mong muốn, và mối quan tâm của bản thân
Ngược lại, có những hành vi giao tiếp thiếu sự tự tin và không khẳng định được nhu cầu
của cá nhân như những hành vi sau:
I HÀNH VI THỤ ĐỘNG:
Khi bạn hành động theo ý muốn của người khác, mặc dù bạn không nhất thiết

 Những hành động này thường làm người khác trốn tránh hoặc đối nghịch lại, đôi
khi xung đột
 Trong lúc tức thời, có thể sẽ đạt được ý muốn và làm người khác sợ mình.
Nhưng hậu quả lâu dài là: người khác không muốn đến gần, không muốn nói chuyện,
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 3
dễ bị cô lập, cảm thấy cô đơn, và quen phải hung hăng mới đạt được ý muốn, không
biết kiềm chế.
III. HÀNH VI GIÁN TIẾP:
(Đôi khi còn được gọi là sự mạnh bạo lấn át giao tiếp)
Khi bạn không thẳng thắn phát biểu ý muốn của mình và phải giả bộ chiều theo ý
người khác, bạn đang hành động một cách gián tiếp, không khẳng định tự tin. Trong
trường hợp này, bạn không dám tỏ bất đồng, nhưng bạn không chịu nhượng bộ, bạn giả
bộ tỏ vẻ nhượng bộ, nhưng khi không có mặt đối tác, bạn thể hiện sự đối nghịch một
cách rõ ràng và phát biểu cảm tưởng của mình
. Hành vi này có những đặc điểm:
 Chỉ dám ngỏ ý gián tiếp, và hy vọng đối tác sẽ hiểu ý mình. Đòi hỏi người khác
phải hiểu ý của mình.
 Hay phải giả bộ yếu đuối, lo sợ, e dè, ngại ngùng.
 Phụ thuộc vào người khác vì không độc lập tự chủ.
 Lúc tức thời thì có thể đạt được ý muốn gián tiếp, nhưng dễ bị hiểu lầm và dễ trở
nên bực tức vì người khác không làm theo ý.
 Qua thời gian thì sẽ dễ mất lòng tin của người khác, mất tự tin và không dám
trực tiếp đòi hỏi. Vì giả bộ nhiều nên dễ bị vướng mắc vào trường hợp khó xử.
Vì vậy, hành vi tự tin khẳng định là khi bạn tự tin phát biểu ý muốn và cảm tưởng của
mình đúng lúc và đúng mức. Bạn có thể phát biểu một cách bình tĩnh, rõ ràng và đủ
quyền lực. Ngay cả lúc có nhiều áp chế, bạn vẫn giữ mức tự tin đủ để khẳng định lập
trường và cảm nghĩ của mình. Mặc dù bạn tỏ ra tự chủ, bạn không vi phạm hoặc lấn át
quyền hạn của người khác, và vẫn bảo vệ quyền lợi của mình
HÀNH VI TỰ TIN KHẲNG ĐỊNH :

 Không la lối, không lí nhí
 Nói đúng vấn đề, không rào trước đón sau
 Phát biểu hết ý, không để người khác đoán ý
 Cử chỉ, phong thái, dáng điệu bình thường, không thu hẹp, không đe doạ
 Trong lúc phát biểu không nên phân tán tư tưởng.
Cách nói tự tin khẳng định trong giao tiếp:
 Phát biểu những ý, mong muốn, cảm tưởng của "tôi". Sử dụng "tôi" nhiều trong
giao tiếp. Ví dụ: "Tôi e công việc sẽ không xong kịp nếu anh nghỉ nhiều" thay vì "Anh
nghỉ nhiều việc sẽ không làm xong"
 Khi đặt câu hỏi, sử dụng những câu như "Cái gì", "Làm thế nào" thay vì "Tại
sao".
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 5
Tránh nói một cách tổng quát như "Anh không bao giờ đến họp". Nói một cách cụ thể
như "Ba bốn tuần rồi không thấy anh đến họp".
 Tránh sử dụng những từ làm giảm bớt ý như: "Cũng như", "ahhh", "Anh biết
đó", "uhmm".
Khi nói về vấn đề, tránh đặt giả thuyết vô cớ.
 Một tình huống đặc biệt trong giao tiếp là yêu cầu sự thay đổi. Trong trường hợp
này, chúng ta thường có một mong muốn nào, và đòi hỏi đối tác phải thay đổi để thích
ứng với ý muốn của mình. Thay vì có những hành vi tiêu cực như đe doạ hoặc châm
biếm, chúng ta có thể đưa ra yêu cầu một cách trực tiếp và thẳng thắn, nhưng đúng
mức và tôn trọng đối tác.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 6
B-NOÄI DUNG
I/Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học. Tư tưởng về
giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX thì
hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp. Ngay từ khi còn là các tư tưởng

khảo sát giao tiếp dưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người.
Trường phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra một số khái niệm về giao
tiếp như là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động con người, ngang với lao động và
nhận thức (B.G.Ananhev); giao tiếp và lao động là hai dạng cơ bản của hoạt động của
con ngöời (A.N.Lêônchep); và giao tiếp là một hình thức tồn tại song song cùng hoạt
động (B.Ph.Lomov).
Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về giao tiếp
của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng xử
rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa giao
tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời: giao tiếp là một tổng thể toàn vẹn.
I.2.1. Ở Việt Nam
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng. Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát
triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động. Giao tiếp bao gồm
hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri
giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: Giao lưu, tác động tương
hỗ và tri giác
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện. Giao tiếp là quá trình
truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay một
nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác). Thông tin hay thông điệp
được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã chung.
Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao tiếp là
quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự
trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau.
Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên). Giao tiếp là sự tiếp xúc
trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế, trang phục…
Như vậy, có rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo
phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và
làm nổi bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp
xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm…Giao tiếp
là phương thức tồn tại của con người.

Nhm tho món nhu cu no - nhu cu trao i thụng tin, nhu cu chia s tỡnh cm, nhu
cu tip xỳc gii trớ, nhu cu c khng nh trc ngi khỏc
SVTH: Nguyn Th Hng Giang GVHD: Trng Tn Ti
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 9
2.3. Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp với
người khác.
Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin cần
truyền đạt. Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh được đúng nội
dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết quả cao nhất. Đối với các chủ
thể giao tiếp, thông tin có thể đã biết hoặc chưa biết, muốn biết hoặc không muốn biết.
Nội dung thông tin có thể đem lại điều tốt lành hoặc gây thất thiệt hoặc chỉ đơn giản là
một điều thông báo…
Trong nội dung giao tiếp người ta thường chia ra hai loại: nội dung tâm lý và nội
dung công việc.
2.3.1. Nội dung tâm lý trong giao tiếp
Nội dung tâm lý trong giao tiếp bao gồm các thành phần cơ bản là nhận thức,
thái độ xúc cảm và hành vi.
Ở bất kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để lại trong
chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận thức. Nội dung nhận
thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động. Thông qua giao tiếp để người
ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ. Sau mỗi lần giao tiếp mọi
thành viên đều nhận thức thêm được những điều mới mẻ. Thông qua giao tiếp để người
ta truyền đạt và lĩnh hội những tri thức về tự nhiên, xã hội. Cũng chính thông qua giao
tiếp để người ta hiểu biết lẫn nhau.
Như vậy, nội dung nhân thức có thể xảy ra trong suốt cả quá trình giao tiếp hoặc
chỉ xẩy ra mạnh mẽ tại thời điểm gặp gỡ. Dù ở thời điểm nào thì kết thúc quá trình giao
tiếp cũng đưa lại cho con người một nhận thức, một hiểu biết mới.
Thành phần thái độ cảm xúc: Từ thời điểm bắt đầu, qua diễn biến rồi đến kết
thúc của một quá trình giao tiếp đều biểu hiện một trạng thái xúc cảm nhất định của chủ

2.4. Hoàn cảnh giao tiếp
Là bối cảnh trong đó diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm cả khía cạnh vật chất
và khía cạnh xã hội.
Khía cạnh vật chất thí dụ như địa điểm, kích thước không gian gặp gỡ, số người
hiện diện, khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc đồ vật xung quanh…Đây là những khía
cạnh nằm bên ngoài các đối tượng đang giao tiếp
Khía cạnh xã hội ví dụ như mục đích giao tiếp, quan hệ giao tiếp
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 11
2.5. Kênh giao tiếp
Là đường liên lạc giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp. Vì vậy phải tổ chức kênh
sao cho quá trình giao tiếp đạt được hiệu quả nhất. Thí dụ: Kênh giao tiếp là thị giác thì
cần phải cấu trúc bài viết ra sao và làm thế nào để đối tượng giao tiếp nhìn thấy rõ các
chữ viết…
2.6. Quan hệ giao tiếp
Thể hiện mối tương quan giữa các chủ thể giao tiếp. Chẳng hạn như mức độ thân
sơ, vai vế, uy tín, địa vị xã hội, tuổi tác… giữa họ.
2.7.Giao tiếp Phi Ngôn Ngữ !
Chủ đề Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ là một chủ đề rộng và sâu về những cách thức
giao tiếp ngoài lời nói ; nhiều nhà ngôn ngữ học trên Thế Giới đã nghiên cứu và nhận
định : Lời nói có thể không phải là tất cả …
Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của giao tiếp bằng lời nhưng
những buổi diễn thuyết, bữa tiệc hay chỉ đơn thuần là các buổi nói chuyện sẽ trở nên kém
hấp dẫn nếu như không có giao tiếp bằng cử chỉ.
Không phải lúc nào con người ta cũng có thể dùng lời nói để diễn đạt suy nghĩ
của mình. Một chàng trai đã từng viết "chỉ cần nắm tay, hai mắt gặp nhau và một nụ hôn
nhẹ là đã có ý nghĩa với anh hơn cả ngàn lời nói"
Chỉ cần tinh tế một chút trong giao tiếp chúng ta sẽ nhận ra ngay chúng ta không
chỉ giao tiếp bằng lời nói mà bằng cả ngôn ngữ của cơ thể. Martin Luther đã từng nói
"đừng nghe những gì anh ta nói mà hãy nghe những gì bàn tay anh ta nói"

Giao tiếp phi ngôn ngữ mang trong mình rất nhiều thông điệp về các mối quan
hệ con người. Một đứa trẻ chỉ cần nhìn cử chỉ của mẹ là đã có thể biết người đang nói
chuyện với mẹ là bạn mẹ hay người lạ. Cũng như vậy trong một gia đình những nét mặt,
ánh mắt của người chồng hay người vợ cũng nói lên gia đình đó có hạnh phúc hay
không. Do vậy trước khi giao tiếp hay muốn tìm hiểu về những người xung quanh
thì không thể bỏ qua những biểu hiện này
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 13
. Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của giao tiếp bằng lời nhưng
những buổi diễn thuyết, bữa tiệc hay chỉ đơn thuần là các buổi nói chuyện sẽ trở nên kém
hấp dẫn nếu như không có giao tiếp bằng cử chỉ. Bạn mở đầu bài nói của mình bằng một
cử chỉ hài hước thì chắc chắn không khí hội trường sẽ thay đổi và cơ hội thành công của
bạn sẽ cao hơn.
Trong một nghiên cứu mới đây, có đến 90% sự mở đầu của các bài diễn thuyết
có kèm điệu bộ của cơ thể. Mỗi điệu bộ này lại có ý nghĩa rất phong phú. Riêng tư thế
của đầu đã bao hàm các dấu hiệu của sự đồng thuận hay không hoặc cũng có thể thay
cho các từ như rất "nhiều", "sẵn sàng", "tất cả mọi người" hay "tất cả mọi thứ". Trên thực
tế, chính từ ngữ và điệu bộ đã cùng tạo nên nghĩa của câu
. Giao tiếp phi ngôn ngữ chính là một cách để những người không có khả năng
nói giao tiếp với cuộc sống bên ngoài. Họ dùng tay và các hành động của cơ thể để trao
đổi thông tin và tình cảm của mình. Họ không còn thấy tự ti và mở rộng lòng mình hơn
với mọi người
Giao tiếp phi ngôn ngữ đã thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong cuộc
sống của con người. Chúng giúp cho giao tiếp của chúng ta thêm hoàn thiện và phong
phú. Nếu nắm bắt được những chi tiết của cuộc sống, sẽ chẳng có ai coi thường, phớt lờ
những nét mặt, ánh mắt hay điệu bộ của người khác. Mỗi hành vi xã hội đều được dạy và
được học, hãy nắm bắt nó như một kĩ năng sống.
Cuộc sống của chúng ta là những quá trình tìm tòi và học hỏi. Không chỉ có
những điều lớn lao mới nên tiếp thu mà hãy nên bắt đầu từ những điều nhỏ bé mà quan
trọng. Hãy nhìn cuộc sống xung quanh một cách kĩ lưỡng hơn đi bạn sẽ nhận thấy mình

Giao trách nhiệm một cách công khai, tạo ra tình huống chỉ có tiến chứ không có
lùi, ràng buộc bằng những sợi dây vô hình về quan hệ nào đó đã được hình thành.
Gây niềm say mê, tìm được ý nghĩa trong cuộc sống, công việc đang tiến hành.
Củng cố niềm tin, thuyết phục về một kết cục tốt đẹp.
Phải tạo ra sự an toàn, biết cách chống đỡ dư luận, tạo dư luận mới ủng hộ.
Tính đến nhiều phương án, chọn phương án hợp với mình nhất, có thể tạo ra
những vấp ngã nhỏ để luyện tập bản lĩnh, chủ động đề phòng tính tự kiêu.
Trong những trường hợp cụ thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng biến và điều
quan trọng hơn là hãy tìm cho được sơ đồ đi tới thành công riêng của mình.
2.1. Giai đoạn trước khi giao tiếp:
 Xác định mục đích, làm quen đối tượng và gây ấn tượng tốt
 Đánh giá đối tượng, hoàn cảnh:
 Sở thích,thói quen, cá tính.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 15
 Thời gian, không gian cuộc gặp.
 Có hay không có người giới thiệu.
 Lựa chọn phương án ứng xử:
 Tìm cớ làm quen cho hợp lý, tế nhị.
 Ngôn ngữ, cử chỉ dễ cảm mến.
 Văn phong gần gũi, không quá trịnh trọng nhưng cũng không suồng sã.
 Tính trước những tình huống bất ngờ có thể xảy ra để ứng xử nhanh.
2.2. Giai đoạn giao tiếp:
Nên :
 Phá bầu không khí xa lạ bằng việc hỏi han hoặc những câu nói đùa.
 Tìm chủ đề chung, ít chạm đến quan điểm cá nhân.
 Nói ít về mình. Chú ý quan sát cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của đối phương.
 Giới hạn cuộc giao tiếp trong phạm vi vừa đủ, dừng đúng lúc.
 Nêu ra những câu hỏi thăm dò, chủ động gợi chuyện.
 Tự tin.

cách nói hài hước thường làm cho không khí vui nhộn, điều tiết được tình cảm, nhắc
khéo người khác mà không làm họ bực mình. Tất nhiên cũng không nên lạm dụng nó.
Quy luật phổ biến của truyện hài hước là mở đầu dẫn dắt và hình thành làm cho
người ta nghi vấn. Người kể nên có ngữ điệu bình thường, sau đó tăng thêm tình tiết nghi
hoặc và giải quyết bất ngờ.
6. Tình huống phải đi thẳng vào vấn đề khi cần thiết:
Trong cuộc sống có trường hợp không thể quanh co, bóng gió, tế nhị mà phải
bày tỏ quan điểm, thái độ của mình một cách thẳng thắn, kiên quyết. Lúc đó phải diễn
đạt vào thẳng nội dung chính của vấn đề để biểu hiện ý chí và lòng tin ở bản thân. Đối
với những vấn đề then chốt không nên tỏ ra quá cân nhắc, đắn đo làm cho người nghe
cảm thấy thiếu tin tưởng, do dự. Tất nhiên để nói bằng cách này cần phải suy nghĩ, cân
nhắc thật kỹ càng.
7. Tình huống nói ẩn ý bằng ngụ ngôn:
Trong giao tiếp khi cảm thấy khó thuyết phục người khác bằng lý lẽ trực tiếp
hoặc cảm thấy dễ bị phản ứng, không tiện nói thẳng ra, thì người ta thường dùng phương
pháp ẩn ý bằng ngụ ngôn. Tức là chọn những câu chuyện ngụ ngôn có nội dung ẩn ý bên
trong phù hợp với mục đích khuyên răn, thuyết phục của mình để kể cho đối phương
nghe.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 17
Cái lợi của phương pháp này là người nghe phải suy nghĩ mới hiểu hết cái ẩn ý
bên trong đó. Bản thân câu chuyện sẽ đưa ra những lời khuyên sâu sắc chứ không phải
người kể chuyện, do đó không có lý do để nổi khùng, tự ái hoặc mặc cảm.
Tuy nhiên để dùng phương pháp này có hiệu quả, người dùng phương pháp này phải am
hiểu câu chuyện phù hợp với trình độ người nghe, nếu người nghe không hiểu gì cả, sẽ
không có tác dụng.
8. Tình huống phản bác khéo những yêu cầu vô lý ở người khác:
Cũng có lúc bạn gặp những người khăng khăng đưa ra cho bạn những đòi hỏi vô
lý không thể thực hiện được. Trước những tình huống đó nhiều khi ta không thể bác bỏ
thẳng thừng vì chạm lòng tự ái hoặc người không thỏa mãn với ta rồi tiếp tục quấy rối

và không thể tránh được. Không có tranh luận, điều phải trái không được phân định.
Không thể coi tranh luận là một thói xấu mà hạn chế nó.
Song tranh luận có thể dẫn đến sự không thoải mái hoặc đôi khi xung đột. Tranh
luận có phương pháp sẽ đem lại kết quả tốt là điều chúng ta cần chú ý học hỏi.
Một là : khi tranh luận nên có thái độ thật công bằng, đừng làm tổn thương đến
lòng tự ái của người kia. Sự phê phán, bình phẩm người khác không thể quá một giới hạn
nhất định, nếu không có thể làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có.
Hai là : giọng nói phải mền mỏng, thật lòng. Trong tranh luận phải tỏ ra tôn
trọng nhau, làm sao cho người cùng tranh luận tin rằng tranh luận thật là có ích. Trong
tranh luận nhiều khi người thắng không hẳn đã là nhiều lý lẽ biết hùng biện, mà có thể là
người có thái độ đúng mực và chân thực nhất.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 19
Ba là : tranh luận phải có mục đích rõ ràng. Tranh luận nên xoay quanh những
điều cần giải quyết.
12. Tình huống cần thuyết phục bằng hành động:
"Mọi lý thuyết đều màu xám
Còn cây đời mãi mãi xanh tươi”
Trong giao tiếp, khi cảm thấy khó thuyết phục người khác nghe ý kiến của mình
bằng lời nói, bạn có thể dùng hành động để thuyết phục. Thuyết phục bằng hành động
thường hiệu quả lớn nhất. Thông qua việc làm, hành động cụ thể, ta có thể làm cho đối
phương thay đổi cách nghĩ, tình cảm, thái độ, chấp nhận ý kiến của ta.
Bạn là một cán bộ phong trào thanh niên. Bạn muốn tổ chức các hoạt động văn
hóa thể dục thể thao thanh niên nhưng các cấp lãnh đạo ở địa phương chưa tin tưởng vào
khả năng của bạn, chưa tạo điều kiện mọi mặt để bạn làm việc. Bạn đừng nản chí và
cũng đừng dùng lời nói để thuyết phục. Hãy cố gắng tạo ra một vài việc làm cụ thể có
hiệu quả. Từ sự thành công đã đạt được, tận dụng thời điểm gây hưng phấn cao rồi đưa
ra những kiến giải hợp lý với các cấp lãnh đạo.
Như vậy, mục đích và kết quả hoạt động đạt được và mối quan hệ ảnh hưởng của
bạn phát triển tốt hơn.

12. Chêm những câu tiếng nước ngoài trong câu nói của mình một cách tùy tiện.
13. Đột ngột cao giọng.
14. Dùng những lời quá suồng sã với mức độ quan hệ.
15. Dùng những từ đệm không cần thiết.
16. Nói với giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác.
17.Thông tin đơn giản và dễ hiểu
Nghĩa là bạn nên sử dụng những cách diễn đạt đơn giản; dùng từ ngữ dễ hiểu,
đơn nghĩa, chính xác để người nghe dễ dàng nắm bắt được nội dung thông tin. Những từ
ngữ lạ, chuyên biệt hoặc lối nói khách sáo chỉ làm tăng thêm khoảng cách giữa bạn và
người đối thoại và khó đạt được hiệu quả giao tiếp
18.Tiếp nhận phản hồi
Việc chuyển tải nội dung thông tin chỉ là bước đầu tiên trong quá trình giao tiếp.
Cả người nói và người nghe đều cần khuyến khích người kia phản hồi. Phản hồi giúp bạn
biết được người đối thoại có thực sự nắm bắt được vấn đề đang trao đổi hay không, có
hiểu đúng hay không. Từ đó bạn sẽ khẳng định lại những thông tin chưa được hiểu đúng,
tránh việc thực thi sai hoặc hiểu lầm.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 21
19.Xây dựng niềm tin và sự tôn trọng lẫn nhau
Bất cứ ai, nếu giao tiếp với tinh thần tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau đều thấy rõ
ràng hiệu quả giao tiếp sẽ tốt hơn. Với niềm tin và sự tôn trọng, bạn trao đổi cởi mở hơn
và thẳng thắn hơn. Do vậy, cuộc hội thoại giữa bạn và đối tác sẽ mang tính tương tác
nhiều hơn và tất nhiên sẽ hiệu quả hơn.
SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài
Môn : Nghệ Thuật Giao Tiếp Trang 22
C - KEÁT LUAÄN
Theo các kết quả khảo sát, thất bại trong giao tiếp thường không phải do khác
biệt văn hóa hay bất đồng ngôn ngữ. Nhiều người vẫn gặp khó khăn trong giao tiếp với
cấp trên hoặc cấp dưới của mình, dù rằng họ nói cùng một thứ tiếng và có chung một nền
văn hóa. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể giao tiếp hiệu quả nếu cả hai phía đều biết lắng

với bạn. Lắng nghe chủ động cần phải có sự tập trung từ chính bạn. Bên cạnh đó yêu cầu
bạn phải tham gia, thấu hiểu và ghi nhớ được thông điệp của người nói. Thường xuyên
hồi đáp và tham gia vào việc phát triển thông điệp cũng là các bước mà bạn cần thực
hiện khi là người lắng nghe tích cực.
Loại bỏ các yếu tố gây nhiễu: Giao tiếp không phải bao giờ cũng diễn ra một
cách thuận lợi mà nhiều khi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu. Xác định trước các
yếu tố gây nhiễu có thể xảy ra giúp bạn chủ động hơn trong việc loại bỏ các yếu tố này.
Các yếu tố gây nhiễu trong giao tiếp có thể đến từ tâm lý bị động của người nói, thái độ
thiếu tích cực của hai bên, các yếu tố từ môi trường hay các đặc thù văn hóa…Với mỗi
loại yếu tố gây nhiễu bạn cần đề ra các giải pháp phù hợp
Giải quyết các xung đột: Trong quá trình giao tiếp không tránh khỏi việc xảy ra
các bất đồng, mẫu thuẫn giữa các bên. Mâu thuẫn không phải ngẫu nhiên mà nó cũng là
một quá trình tích tụ. Bí quyết để giải quyết các mâu thuẫn đó khi bạn gặp phải hãy chủ
động đặt mình vào vị trí người khác hay “hãy đi đôi giầy của đối tác”. Đặt mình vào vị
trí người khác sẽ giúp bạn thấu hiểu cách nhìn nhận vấn đề của họ. Lắng nghe và đặt câu
hỏi cũng là kỹ năng mà bạn cần vận dụng trong quá trình giao tiếp giải quyết xung đột.
Khi tự tin, bạn cảm thấy tự chủ và có quyền làm hoặc nói những điều cần thiết,
và có thể lựa chọn đúng lúc và đúng mức. Nhưng để phát biểu được những cảm tưởng,
bạn phải chú tâm và hiểu biết chính mình trước. Như thế bạn mới có thể nhận định được
những nhu cầu, mong muốn, và mối quan tâm của bản thân.
Như vậy, có rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo phương
diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và làm nổi
bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm
lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm…Giao tiếp là phương
thức tồn tại của con người.

SVTH: Nguyễn Thị Hương Giang GVHD: Trương Tấn Tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status