i
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC NẮM GIỮ TIỀN
MẶT CỦA CÁC CÔNG TY VIỆT NAM: XEM XÉT TÁC
ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG THƢƠNG MẠI ĐẾN VIỆC
NẮM GIỮ TIỀN MẶT
Tóm tắt:
Bài nghiên cứu này xem xét các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt và
xem xét tác động của tín dụng thương mại đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty
Việt Nam. Mẫu gồm 780 quan sát nghiên cứu dữ liệu của 130 công ty trong giai đoạn
2007-2012. Bài nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nắm giữ tiền mặt của các công ty Việt Nam
là 12%. Sử dụng phương pháp hồi qui Fixed Effect Model và các kiểm định, tác giả
nhận thấy có tác động nghịch chiều giữa cấp và nhận tín dụng thương mại đến nắm
giữ tiền mặt của các công ty Việt Nam. Cụ thể, các công ty nắm giữ thêm 0,6 đồng để
trang trải cho 1 đồng nhận tín dụng thương mại, tuy nhiên chỉ dùng 1 đồng khoản cấp
tín dụng thương mại dự phòng cho 0,49 đồng tiền mặt.
ii
Mục lục
Chƣơng 1: Giới thiệu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phương pháp nghiên cứu 3
4. Bố cục bài nghiên cứu 3
Chƣơng 2: Tổng quan về các bài nghiên cứu trƣớc đây 4
1. Động cơ nắm giữ tiền mặt 4
1.1. Các học thuyết về nắm giữ tiền mặt 4
1.1.1. Thuyết đánh đổi (Trade-off theory) 4
1.1.2. Thuyết trật tự phân hạng (The pecking order theory hay Financing
hierachy theory) 5
3.2.2. LIQUID 26
3.2.3. SIZE 27
3.2.4. LEV 27
3.2.5. DEBTM 27
3.2.6. GROWTH 28
3.2.7. CAPEX 28
3.2.8. CASHFLOW 28
3.2.9. Biến giả DIVIDEND 28
3.3. Tổng hợp các biến tác động và kì vọng về dấu: 29
4. Phương pháp hồi qui 30
4.1. Mô hình hồi qui 30
4.2. Kiểm định 31
4.2.1. Các kiểm định chọn mô hình phù hợp 31
4.2.1.1. So sánh Pooled Regression và Fixed Effect Model 31
4.2.1.2. So sánh Radom Effect Model và Fixed Effect Model 31
iv
4.2.2. Một số kiểm định khác 32
4.2.2.1. Kiểm định đa công tuyến 32
4.2.2.2. Kiểm định tự tương quan 32
Chƣơng 4: Kết quả 33
1. Thống kê mô tả 33
2. Sự tương quan giữa các biến và sự đa công tuyến 36
3. Sự tác động của các yếu tố lên nắm giữ tiền mặt của công ty. 38
4. Hồi qui Fixed Effect Model (FEM), Radom Effect Model (REM) và một vài
kiểm định 40
Kết luận 46
1. Kết luận bài nghiên cứu: 46
2. Hạn chế của bài nghiên cứu và định hướng phát triển: 46
2.1. Hạn chế 46
Lượng tiền mặt có sẵn trong kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có sự khác
biệt lớn giữa lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và lượng tiền mặt sẵn sàng cho chi
trả, thanh toán nợ nần. Lợi nhuận của công ty được tính bằng đơn vị tiền tệ, tuy nhiên
nó chỉ xuất hiện sau khi hoạt động kinh doanh đã trải qua một giai đoạn. Không phải
lúc nào lợi nhuận đạt được cũng thu được hết bằng tiền mặt, trong thực tế, lợi nhuận
đạt được còn tồn động lớn trong các khoản phải thu. Còn lượng tiền mặt thì tính tại
một thời điểm. Thực tiễn kinh doanh đã chứng kiến rất nhiều công ty khi tính toán trên
sổ sách thì có lãi, nhưng vì không đủ tiền mặt để thanh toán các khoản công nợ tới hạn
nên bị phá sản. Việc thiếu tiền mặt cho thanh toán công nợ tại một thời điểm cũng
được gọi là Phá sản Kỹ thuật (Technical Insolvency).
Người điều hành công ty nhiều khi không dự đoán được việc thiếu tiền mặt
trong quá trình vận hành kinh doanh cho tới khi lâm vào hoàn cảnh phải tạm dừng
hoặc bi đát hơn là chấm dứt hoạt động do quá háo hức với các ý tưởng kinh doanh
hoặc do không tính toán đủ hết các chi phí có thể phát sinh. Cỗ máy kinh doanh sẽ
kiếm được bao nhiêu tiền trong tương lai không phải là vấn đề nếu công ty không có
đủ tiền để duy trì hoạt động đến lúc đó. Nhân viên không đợi đến khi khách hàng trả
tiền mới được nhận lương. Người cho thuê nhà không quan tâm đến việc các thương
lượng đầu tư đang tiến triển tốt và tiền nhà cho 12 tháng tới sẽ có đủ trong tuần sau.
Nhà cung cấp không bằng lòng cho kéo dài thời gian trả chậm…
Dòng tiền chính là mạch máu của cơ thể kinh doanh. Điều hành một công ty
qui mô lớn không có nghĩa mối lo về tiền mặt giảm đi mà nhiều khi còn ngược lại.
Một khoản vay ngắn hạn vài trăm triệu đồng có thể đã quá dư thừa với một doanh
nghiệp vừa và nhỏ để đảm bảo vốn lưu động nhưng với một công ty lớn như những
tập đoàn đa quốc gia, đơn vị tính có thể là nhiều tỷ đồng chứ không đơn thuần là vài
trăm triệu.
2
Nhận thấy tầm quan trọng của tiền mặt đối với đời sống của công ty, tác giả
mong muốn nghiên cứu nội dung “Các yếu tố tài chính tác động đến việc nắm giữ
tiền mặt của các công ty tư nhân”. Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu của
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2007-2012.
Các dữ liệu được xử lý và chạy hồi quy kiểm định được tiến hành dựa vào phần mềm
Eviews 6 và Microsoft Excel 2013.
4. Bố cục bài nghiên cứu
Mở đầu bài nghiên cứu là phần tóm tắt, trình bày tóm lược lại các vấn đề chính
và kết quả của bài nghiên cứu.
Chương 1 giới thiệu đưa ra lý do chọn đề tài, trình bày mục tiêu nghiên cứu,
phương pháp nghiên nghiên cứu và bố cục bài nghiên cứu.
Chương 2 giới thiệu tổng quan về các thuyết về nắm giữ tiền mặt, các bằng
chứng nghiên cứu thực nghiệm về việc nắm giữ tiền mặt và các yếu tố tác động.
Chương 3 trình bày phương pháp thu thập mẫu dữ liệu, phương pháp xây dựng
mô hình hồi qui ước lượng, các kiểm định.
Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu và các kiểm định.
Chương 5 trình bày phần kết luận. Bên cạnh đó còn nêu rõ những hạn chế của
bài nghiên cứu và định hướng cho những nghiên cứu tiếp sau đó.
4
Chƣơng 2: Tổng quan về các bài nghiên cứu trƣớc đây
1. Động cơ nắm giữ tiền mặt
1.1. Các học thuyết về nắm giữ tiền mặt
1.1.1. Thuyết đánh đổi (Trade-off theory)
Thuyết đánh đổi lập luận rằng các công ty tối đa hóa giá trị của mình bằng cách
xem xét các chi phí cận biên và lợi ích cận biên của việc nắm giữ tiền mặt. Lợi ích
biên của việc nắm giữ tiền mặt là giảm nguy cơ kiệt quệ tài chính, cho phép công ty
thực hiện chính sách đầu tư mục tiêu của mình, và tránh (giảm) chi phí liên quan đến
huy động nguồn vốn từ bên ngoài hay thanh lý tài sản. Vì công ty hoạt động trong thị
trường không hoàn hảo, nên hoặc họ có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn
vốn bên ngoài, hoặc họ phải chịu một chi phí cao. Việc nắm giữ tiền mặt như là một
tấm đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của công ty. Chi phí cận biên của việc nắm giữ
tiền mặt là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn.
Thuyết này cho rằng không có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho một công ty.
Myers và Majluf (1984), cho rằng các công ty giữ tiền mặt để tài trợ cho các dự án
mới và cơ hội mới. Theo thuyết này, phát hành cổ phiếu mới sẽ rất tốn kém do vấn đề
thông tin bất cân xứng, để giảm thiểu các chi phí liên quan đến vấn đề này, các công
ty sử dụng tiền mặt như một công cụ có sẵn đầu tiên, họ chuyển sang sử dụng nợ,
chứng khoán an toàn và cổ phiếu được dùng như là một phương án cuối cùng. Theo
nhận định trên, các công ty không có một mức tiền mặt mục tiêu, nhưng thay thay vào
đó họ sử dụng tiền mặt như một bộ đệm giữa thu nhập và đầu tư.
Theo Dittmar và các cộng sự (2003), quan điểm hệ thống trật tự phân hạn cho
thấy rằng không có mức tối ưu tiền mặt, cũng như không có mức tối ưu của số dư tiền
nợ. Số dư bằng tiền mặt chỉ đơn giản là kết quả của các quyết định đầu tư và tài trợ
thực hiện bởi các công ty. Các công ty có dòng tiền lớn sẽ trả cổ tức, trả nợ và tích lũy
tiền mặt. Các công ty có dòng tiền thấp sẽ giảm lượng tiền mặt của họ, phát hành nợ
để tài trợ cho dự án đầu tư, nhưng họ sẽ hạn chế phát hành cổ phiếu bởi vì khá tốn
kém.
6
1.1.3. Mô hình dòng tiền tự do (free-cash flow model)
Mô hình dòng tiền tự do đã đưa ra một cái nhìn khác về nắm giữ tiền mặt.
Jensen (1986) cho rằng dòng tiền tự do cho thấy khả năng xung đột nghiêm trọng vì
số lượng lớn dự trữ tiền mặt có thể phục vụ chủ yếu là lợi ích quản lý. Các nhà quản lý
có biện pháp khuyến khích tăng quĩ tiền mặt dưới sự kiểm soát của họ, vì điều này cho
phép họ tăng sức mạnh của mình và được tự do để chấp nhận các dự án mới mà không
một sự cho phép của các cổ đông, lãng phí tiền bằng cách tiêu thụ bổng lộc và/hoặc
quyết định đầu tư không hiệu quả. Mặt khác, các cổ đông có thể thích dòng tiền tự do
được trả lại cho họ hơn.
1.2. Động cơ nắm giữ tiền mặt:
Trên đây, tác giả đã giới thiệu về một số mô hình nói về động cơ nắm giữ tiền
mặt. trong phần này, để tóm gọn lại các động cơ nắm giữ tiền mặt theo bài nghiên
Maxwell (2008) cung cấp bằng chứng cho thấy các nhà quản lý cố thủ có nhiều khả
năng sẽ xây dựng tiền mặt dư thừa, nhưng chi tiêu tiền mặt dư thừa một cách nhanh
chóng.
1.3. Những nghiên cứu thực nghiệm
Nadiri (1969) đi tiên phong trong nghiên cứu về nắm giữ tiền mặt bằng cách
thu thập dữ liệu từ lĩnh vực sản xuất Mỹ giai đoạn 1948-1964 để ước lượng mô hình
liên quan đến mức độ mong muốn nắm giữ tiền mặt trong thực tế. Kết quả cho thấy
nhu cầu đối với số dư tiền mặt trong thực tế được xác định bởi: đầu ra, lãi suất, tỷ lệ
thay đổi mức giá chung dự kiến, và các yếu tố về giá. Vẫn tại nước Mỹ, Opler và các
cộng sự (1999) thu thập dữ liệu trong giai đoạn 1971-1994 từ 1048 công ty Mỹ có
niêm yết để tìm những yếu tố quyết định và tác động lên nắm giữ tiền mặt của công
ty. Thông kiểm tra dữ liệu thời gian và dữ liệu chéo, họ phát hiện ra rằng các công ty
có cơ hội phát triển mạnh mẽ và có dòng lưu chuyển tiền tệ rủi ro hơn sẽ có tỷ lệ tiền
mặt trên tổng tài sản không bằng tiền mặt tương đối cao. Các công ty có điều kiện tiếp
cận với thị trường vốn cao hơn có xu hướng giữ tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản không
bằng tiền mặt thấp hơn. Opler và các công sự (1999) cũng nhận thấy rằng các công ty
hoạt động tốt có xu hướng tích lũy tiền mặt nhiều hơn.
8
Ferreira và Vilela (2004) đã nghiên cứu yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt
của công ty, sử dụng một mẫu gồm 400 công ty trong 12 quốc gia trong khối Liên
minh Kinh tế và Tiền tệ (EMU) trong giai đoạn 1987-2000. Kết quả của họ cho thấy
rằng nắm giữ tiền mặt có tương quan dương với cơ hội đầu tư và lưu chuyển tiền tệ;
và tương quan âm với tính thanh khoản, đòn bẩy và quy mô công ty. Nợ ngân hàng và
nắm giữ tiền mặt có tương quan âm, chứng minh rằng với một mối quan hệ chặt chẽ
với các ngân hàng, cho phép công ty nắm giữ ít tiền mặt hơn cho động cơ phòng ngừa.
Ngoài ra, các công ty tại các quốc gia có bảo vệ nhà đầu tư tốt và sở hữu tập trung
nắm giữ ít tiền mặt hơn, minh chứng cho vai trò chi phí đại diện trong việc giải thích
mức tiền mặt. Ferreira và Vilela cũng nhận thấy rằng sự phát triển thị trường vốn có
tương quan âm đối với mức tiền mặt, trái với quan điểm của động cơ đại diện.
công ty của các công ty phi tài chính của Pakistan, thông qua qui mô công ty khác
nhau và các ngành công nghiệp khác nhau. Họ đã sử dụng dữ liệu trong giai đoạn
1998-2005 về quy mô công ty, cơ hội phát triển, dòng tiền, vốn lưu động ròng, đòn
bẩy, dòng tiền không chắc chắn, và chi trả cổ tức. Họ phát hiện ra mối tương quan âm
giữa tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách, vốn lưu động ròng, đòn bẩy, cổ tức với
nắm giữ tiền mặt và các mối tương quan dương với quy mô công ty, dòng tiền với
nắm giữ tiền mặt. Phát hiện của họ cho thấy quy mô công ty, dòng tiền, dòng tiền
không chắc chắn, vốn lưu động ròng, và đòn bẩy tài chính ảnh hưởng đáng kể nắm giữ
tiền mặt của các công ty phi tài chính ở Pakistan.
Drobetz và Grüninger (2007) đã nghiên cứu yếu tố quyết định nắm giữ tiền
mặt với một mẫu toàn diện gồm 156 công ty phi tài chính Thụy Sĩ từ năm 1995 đến
năm 2004. Thông qua phân tích hồi quy, họ thấy rằng, tài sản hữu hình và quy mô
công ty đều có tương quan âm với nắm giữ tiền mặt của công ty. Chi trả cổ tức và lưu
chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh có tương quan dương đến dự trữ tiền mặt.
Ngoài ra, Drobetz và Grüninger nhận thấy một mối tương quan dương giữa i) Giám
đốc điều hành kiêm nhiệm (Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm nhiệm chức vụ giám đốc
điều hành) và nắm giữ tiền mặt của công ty, và ii) mối quan hệ không đáng kể giữa
qui mô hội đồng quản trị và nắm giữ tiền mặt của công ty. Cụ thể, Giám đốc điều
hành kiêm nhiệm hướng đến nắm giữ tiền mặt cao hơn đáng kể và độ lớn về qui mô
hội đồng quản trị không ảnh hưởng đến nắm giữ tiền mặt của công ty.
10
Hardin III và các công sự (2009) sử dụng mẫu gồm 1.114 quan sát từ 194 quỹ
tín thác đầu tư bất động sản (REITs) ở Mỹ giai đoạn 1998-2006. Thông qua phương
pháp phân tích hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), họ nhận thấy rằng nắm giữ tiền
mặt của REIT tỷ lệ nghịch với kinh phí hoạt động, đòn bẩy tài chính và tư vấn nội bộ,
và có liên quan trực tiếp đến chi phí tài trợ bên ngoài và triển vọng phát triển. Nắm
giữ tiền mặt cũng có tương quan âm đến khả năng tiếp cận hạn mức tín dụng và sử
dụng chúng. Kết quả ngụ ý rằng các nhà quản lý của REIT thích giữ ít tiền mặt để
giảm những vấn đề đại diện của dòng tiền, do đó làm tăng tính minh bạch và giảm chi
tiền mặt nhiều hơn. Đồng thời, các công ty-nhà hàng lớn, nắm giữ tài sản không bằng
tiền có tính thanh khoản cao nhiều hơn tiền mặt; các công ty với chi phí vốn cao hơn,
và các công ty chi trả cổ tức nắm giữ ít tiền mặt hơn. Kim và các cộng sự mô tả rằng
cả hai động cơ phòng ngừa và động cơ giao dịch đóng vai trò quan trọng trong việc
giải thích các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt của các công ty-nhà hàng.
Rizwan và Javed (2011) thu thập dữ liệu từ 300 công ty Pakistan niêm yết trên
sàn chứng khoán Karachi (KSE) trong giai đoạn 1998-2007. Họ thấy rằng việc nắm
giữ tiền mặt của các công ty Pakistan tăng lên cùng với sự gia tăng trong lưu chuyển
tiền tệ và tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách. Họ cũng phát hiện ra rằng vốn lưu
động ròng và đòn bẩy có tương quan âm với nắm giữ tiền mặt của công ty Pakistan.
Wenfeng Wu, Oliver M. Rui, Chongfeng Wu (2011) nghiên cứu tác động của tín
dụng thương mại, khả năng tài trợ của ngân hàng và thay đổi chính sách của chính phủ
đến các công ty thuộc các ngành nghề truyền thống ở Trung Quốc. Họ đã thu thập dữ
liệu gồm gồm 13.229 quan sát từ 1626 công ty trong giai đoạn 1999-2009. Wenfeng
Wu, Oliver M. Rui, Chongfeng Wu (2011) nhận thấy, tín dụng thương mại có 2 tác
động nghịch chiều với nắm giữ tiền mặt. Họ cũng phát hiên ra rằng công ty ở khu vực
có khả năng cung cấp tài trợ cao hơn có xu hương nắm giữ tiền mặt ít hơn cho các
khoản nhận tín dụng thương mại, đồng thời, xem các khoản cấp tín dụng thương mại
như một khoản dự phòng lớn hơn cho tiền mặt. Thêm vào đó, họ cũng nhận ra khả
năng dự phòng của khoản cấp tín dụng còn cao hơn nữa khi chính sách mới ở Trung
Quốc được thi hành.
12
Bảng 1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm:
Tác giả
Năm
Quốc gia
Phát hiện
Nadiri M. I
nhiều hơn tiền mặt; chi tiêu vốn cao hơn và
chi trả cổ tức cao hơn dẫn đến nắm giữ ít tiền
mặt hơn. Động cơ phòng ngừa và giao dịch
giữ vai trò quan trọng trong việc giải thích
các yếu tố quyết định nắm giữ tiền mặt cho
các công ty-nhà hàng.
Ferreira,
M.A., và
Vilela, A.S.
2004
Liên minh
kinh tế và
tiền tệ (EMU)
Nắm giữ tiền mặt có mối tương quan dương
với cơ hội tăng trưởng và lưu chuyển tiền tệ;
và có tương quan âm với tính thanh khoản,
đòn bẩy tài chính, qui mô công ty, nợ ngân
13
hàng và sự phát triển của thị trường vốn.
Chen N. và
Mahajan A.
2010
EMU
Sự ra đời của đồng Euro và việc thành lập
kinh tế và Liên minh tiền tệ (EMU) đã làm
giảm tính thanh khoản của công ty trong EU.
Tiền mặt và nợ có tính thay thế hơn trong EU
so với các nước không thuộc EU trong việc
chuyển đổi sang đồng tiền chung.
14
lệ nghịch với đòn bẩy tài chính. Đối với các
công ty đang phát triển, có một mối tương
quan âm giữa tiền mặt và qui mô công ty,
mức tài sản lưu động và nợ ngắn hạn; trong
khi mức tiền mặt của các công ty đã trưởng
thành tăng theo qui mô công ty, mức độ đầu
tư và chi trả cổ tức cho cổ đông và giảm với
tín dụng thương mại và các chi phí đầu tư và
phát triển.
Afza T. và
Adnan S.M.
2007
Pakistan
Nắm giữ tiền mặt và tỷ lệ giá trị thị trường
trên giá trị sổ sách, vốn lưu động ròng, đòn
bẩy tài chính, chi trả cổ tức có tương quan
âm và có mối tương quan dương giữa qui mô
công ty, dòng tiền, và nắm giữ tiền mặt.
Rizwan M.F.
và Javed T.
2011
Pakistan
Nắm giữ tiền mặt của các công ty Pakistan
tăng lên cùng với sự gia tăng trong lưu
chuyển tiền tệ và tỷ lệ giá trị thị trường trên
giá trị sổ sách, nhưng vốn lưu động ròng và
đòn bẩy tài chính có tương quan âm với nắm
giữ tiền mặt của công ty.
16
2. Các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt
2.1. Triển vọng phát triển:
Thuyết đại diện dự báo một mối tương quan âm giữa nắm giữ tiền mặt và cơ
hội đầu tư bởi vì từ góc độ thuyết đại diện, các nhà quản lý bảo thủ của các công ty có
cơ hội đầu tư cao có thể giữ tiền mặt và sử dụng nó cho những nỗ lực cá nhân (Opler
và các cộng sự, 1999). Mặt khác, theo thuyết đánh đổi, Opler và các công sự (1999)
và Harris và Raviv (1990) tình trạng các công ty có cơ hội đầu tư hơn có thể phải đối
mặt với chi phí từ nguồn tài trợ bên ngoài cao hơn do chi phí cao hơn từ chi phí đầu tư
không hiệu quả và chi phí kiệt quệ tài chính. Do đó, để giảm chi phí kiệt quệ tài chính,
những công ty này dự kiến sẽ giữ lượng tiền mặt lớn hơn để phòng ngừa rủi ro, làm
nảy sinh một mối tương quan dương dự kiến giữa nắm giữ tiền mặt và cơ hội phát
triển. Tương tự như vậy, thuyết trật tự phân hạng dự đoán một mối tương quan dương
giữa các cơ hội đầu tư và nắm giữ tiền mặt, kể từ khi các công ty có cơ hội đầu tư cao
về mặt lý thuyết có thể sinh lợi nhiều hơn và do đó có nhiều tiền mặt hơn. Kim, Mauer
và Sherman (1998) thấy rằng các công ty có cơ hội đầu tư nắm giữ nhiều tiền mặt hơn.
Kết quả tương tự được tìm thấy bởi Opler và các cộng sự (1999), Ferreira và Vilela
(2003), Lee và Song (2007) và Bates và các cộng sự (2009). Kết luận này cũng được
tìm thấy bởi Bigelli và Vidal (2009) khi nghiên cứu các công ty tư nhân.
Đồng quan điểm với thuyết đánh đổi và thuyết trật tự phân hạn tác giả kì vọng
sẽ tìm thấy một mối tương quan dương giữa nắm giữ tiền mặt và cơ hội đầu tư.
2.2. Qui mô công ty
Theo thuyết đánh đổi, qui mô công ty và nắm giữ tiền mặt có một mối tương
quan âm bởi vì các công ty lớn có thể dễ dàng tiếp cận với các nguồn tài trợ giá rẻ
(Ferri và Jones, 1979). Ngoài ra còn có một mối tương quan âm giữa qui mô công ty
và các thông tin bất đối xứng (Harris và Raviv, 1990), đây là lý do tại sao các công ty
lớn không cần tích lũy tiền mặt để tránh việc đầu tư vào các dự án không hiệu quả như
các công ty nhỏ làm. Ngược lại, thuyết trật tự phân hạng dự đoán mối quan hệ giữa
qui mô công ty và nắm giữ tiền mặt tương quan dương bởi vì các công ty lớn thường
lượng tài sản thanh khoản thay thế thể làm cho lượng tiền mặt nắm giữ giảm. Bates và
các cộng sự (2009), Opler và các cộng sự (1999), Ferreira và Vilela (2003) và Tong
18
(2006) nhận thấy có một mối tương quan âm giữa các tài sản thanh khoản thay thế và
nắm giữ tiền mặt. Lee và Song (2007) tìm thấy hệ số tương quan âm đáng kể các
khoản thay thế tiền mặt ở các công ty sau khi khủng hoảng tài chính châu Á. Bigelli và
Vidal (2009) thấy rằng vốn lưu động ròng trong một công ty tư nhân càng cao, công ty
này nắm giữ càng ít tiền mặt.
Tác giả kì vọng có một mối tương quan âm giữ tài sản thanh khoản thay thế với
nắm giữ tiền mặt vì các tài sản thanh khoản thay thế có thể chuyển đổi thành tiền mặt
dễ dàng nên lam giảm lượng tiền mặt nắm giữ.
2.5. Chi tiêu vốn
Thuyết trật tự phân hạng kì vọng có một mối tương quan âm giữa chi tiêu vốn
và nắm giữ tiền mặt bởi vì chi tiêu vốn rõ ràng trực tiếp làm giảm tiền mặt của công
ty. Ngược lại, thuyết đánh đổi kỳ vọng có một mối tương quan dương giữa chúng bởi
vì các công ty có chi tiêu vốn cao giữ tiền mặt như một lá chắn chống lại chi phí giao
dịch liên quan đến vốn và chi phí cơ hội của việc không đủ nguồn lực tài chính. Bates
và các cộng sự (2009) phát biểu rằng chi phí vốn có thể làm tăng khả năng vay nợ và
do đó làm giảm nhu cầu tiền mặt bởi vì chi phí vốn giúp có được tài sản mà có thể
được dùng làm tài sản thế chấp cho các khoản nợ. Lee và Song (2007) tìm thấy một
mối tương quan âm giữa chi phí vốn và nắm giữ tiền mặt ở các công ty sau cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á. Tuy nhiên, Opler và các cộng sự (1999) nhận thấy
rằng nắm giữ tiền mặt tăng với chi phí vốn.
Tác giả kì vọng chi tiêu vông sẽ có tương quan âm với nắm giữ tiền mặt bởi vì
chi tiêu vốn làm giảm tiền mặt (thuyết trật tự phân hạng)
2.6. Đòn bẩy tài chính
Cả thuyết đánh đổi và thuyết trật tự phân hạng dự đoán một mối tương quan âm
giữa đòn bẩy và nắm giữ tiền mặt. Theo thuyết đánh đổi, Caglayan - Ozkan và Ozkan
(2002) và Diamond (1984) cho rằng nợ có thể thay thế cho nắm giữ tiền mặt vì nợ làm