MỤC LỤC
i
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
BNN&PTNN (BNN): Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BKHCN&MT: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
DDT: Diclodiphenyltricloetan
DDE: Diclodiphenydicloetylen
FAO: Tổ chức Nông lương thế giới
GEF : Quỹ môi trường toàn cầu
HCBVTV: Hoá chất bảo vệ thực vật
KLN: Kim loại nặng
KT – XH: Kinh tế - Xã hội
LD
50
: Liều gây chết 50% vật thí nghiệm (Lethal Dose)
LD
1
: Liều gây chết 1% vật thí nghiệm (Lethal Dose)
NĐ: Nghị định
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
POP: Chất hữu cơ khó phân huỷ
TTg – CP: Thủ tướng Chính phủ
TT: Thông tư
TTCP: Tiêu chuẩn cho phép
UBND: Ủy ban nhân dân
UNEP: Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
VSV: Vi sinh vật
WHO: Tổ chức y tế thế giới
ii
DANH MỤC BẢNG
iii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên 19
Hình 2.1. Bản đồ khu vực lấy mẫu 36
Hình 3.1. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 1
45
Hình 3.2. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Trạm vật tư nông
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 2
46
Hình 3.3. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Công ty Vật tư Nông
nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ - Đợt 1
49
Hình 3.4. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Công ty Vật tư Nông
nghiệp tỉnh Thái Nguyên cũ - Đợt 2
50
Hình 3.5. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Khu trung chuyển
của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 1
51
Hình 3.6. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường đất tại Khu trung chuyển
của Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 2
52
Hình 3.7. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước tại Trạm vật tư nông
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 1
54
Hình 3.8. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước tại Trạm vật tư nông
nghiệp huyện Đồng Hỷ cũ - Đợt 2
54
Hình 3.9. Dư lượng thuốc BVTV trong môi trường nước Khu trung chuyển của
Trạm vật tư nông nghiệp huyện Định Hoá cũ - Đợt 1
địa bàn toàn tỉnh.
Các kho tồn lưu hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có số lượng
lớn, rải rác trên địa bàn, chủ yếu là kho tạm, hầu hết được xây dựng từ những năm
1980 trở về trước, khi xây dựng chưa quan tâm đến việc xử lý, kết cấu nền móng
nên việc ô nhiễm đất tại các kho thuốc này là điều không thể tránh khỏi. Hơn nữa,
các kho này hiện nay không còn hồ sơ lưu trữ và thông tin về các khu vực này cũng
1
hết sức hạn chế. Một thực tế cho thấy, do thiếu thông tin và nhận thức về sự nguy
hiểm của hoá chất BVTV còn rất hạn chế nên hầu hết các khu vực hóa chất BVTV
trước đây đã trở thành các công trình công cộng, ruộng canh tác thậm chí là đất ở
của người dân.
Ô nhiễm hóa chất BVTV là một trong các dạng ô nhiễm có mức độ nguy
hiểm cao nhất và có khả năng để lại những hậu quả rất nghiêm trọng đến sức khoẻ
con người và sinh vật. Tuy vậy, đến nay chưa có một hoạt động nghiên cứu nào tiến
hành rà soát một cách tổng thể và đánh giá mức độ tồn dư hóa chất BVTV nói
chung và hợp chất cơ clo nói riêng trong môi trường đất trên phạm vi toàn tỉnh.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mức độ
tồn dư các hợp chất cơ clo trong môi trường đất ở một số khu vực kho chứa hóa
chất bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” với mục đích phát hiện và
khoanh vùng, đánh giá mức độ ô nhiễm các khu vực tồn lưu hóa chất BVTV và đề
ra các phương án xử cho khu vực có mức độ tồn lưu cao nhất.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Điều tra, thu thập thông tin đối với các địa phương nhằm xác định các điểm
ô nhiễm do hóa chất BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Lấy mẫu đất và nước, phân tích các chỉ tiêu hóa chất BVTV gốc clo
(Aldrin, DDT, DDE, Lindan), khoanh vùng, đánh giá phạm vi ô nhiễm, mức độ ô
nhiễm tại các điểm đã phát hiện;
- Đề xuất giải pháp nhằm xử lý ô nhiễm hóa chất BVTV tại khu vực có mức
độ tồn lưu cao nhất.
2
Có nhiều cách để phân loại hóa chất BVTV, một số cách phổ biến như sau:
a. Theo đối tượng phòng trừ
- Thuốc trừ sâu: là những thuốc phòng trừ các loại côn trùng gây hại cây
trồng, nông sản, gia súc, con người.
- Thuốc trừ bệnh: là những thuốc phòng trừ các loài vi sinh vật gây bệnh
cho cây (nấm, vi khuẩn, tuyến trùng).
- Thuốc trừ cỏ: là những thuốc phòng trừ các loài thực vật, rong, tảo, mọc
lẫn với cây trồng, làm cản trở đến sinh trưởng cây trồng.
- Thuốc trừ chuột: là những thuốc dùng phòng trừ chuột và các loại gậm
nhấm khác.
- Thuốc trừ nhện: là những thuốc chuyên dùng phòng trừ các loài nhện hại
cây trồng.
Ngoài ra còn có các loại thuốc trừ tuyến trùng, thuốc trừ ốc sên, thuốc điều
tiết sinh trưởng cây trồng (còn gọi là thuốc kích thích sinh trưởng), …
b. Phân loại theo gốc hóa học
- Nhóm Clo hữu cơ: trong thành phần hóa học có chất Clo (Cl). Nhóm này
có độ độc cấp tính thấp nhưng tồn lưu lâu trong cơ thể người, động vật và môi
trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm đã bị hạn chế và cấm sử dụng. Các
chất điển hình là DDT, Aldin, Lindan, Thiordan, Heptaclor,
- Nhóm Lân hữu cơ: là những dẫn xuất của axit photphoric. Nhóm này có
thời gian bán phân hủy trong môi trường tự nhiên nhanh hơn nhóm clo hữu cơ. Các
chất điển hình là Monocrotophos, Clorphenphot, Clorophos, Malathion, Acephat.
- Nhóm Carbamate: là dẫn xuất của axit Carbamat, hóa chất thuộc nhóm này
thường ít bền vững trong môi trường tự nhiên nhưng lại có độc tính rất cao với người
và độc vật. Thuộc nhóm này gồm có Padan, Furadan, Bassa,
4
- Nhóm Pyrethroide (Cúc tổng hợp): là nhóm thuốc tổng hợp dựa vào cấu
tạo chất Pyrethrin có trong hoa của cây Cúc sát trùng. Hoạt chất này có tác dụng
nhanh, phân hủy dễ dàng, ít gây độc cho người và gia súc. Các chất điển hình như:
Sherpa, Permethrin, Cypermethrin.
Ký hiệu mức
độ độc trên
nhãn thuốc
Biểu tượng
nhóm độc
Độc cấp tính bằng LD
50
(chuột nhà) mg/kg
Qua miệng Qua da
Thể
rắn
Thể
lỏng
Thể
rắn
Thể
lỏng
Ia
Cực
độc
Chữ “Cực độc”
màu đen trên
vạch đỏ
Đầu lâu xương
chéo đen trên
nền trắng
5 20 10 40
Ib
Rất độc
nhẹ
Chữ “Chú ý”
màu đen trên
vạch xanh
Chữ thập đen
trên nền trắng
500
-2000
2000
-3000
1000 4000
IIIb
Không
gây độc
cấp khi
Vạch màu xanh
lá cây
>2000 >3000
Theo phân loại độ độc của WHO (bảng 1), thuốc BVTV được phân loại
thành 5 nhóm độc khác nhau là nhóm độc Ia (rất độc), Ib (độc cao), II (độc trung
bình), III (ít độc) và IV (rất ít độc).
Bảng 1.2. Phân chia nhóm độc của Việt Nam [1]
Phân nhóm và ký hiệu Biểu tượng
Độc tính LD
50
qua miệng (mg/kg)
Thể rắn Thể lỏng
I - “Rất độc”
(chữ đen, vạch màu đỏ)
+ Dạng nhũ dầu, ký hiệu là: ND, E hoặc EC
+ Dạng huyền phù, ký hiệu là: HP, AS, F hoặc FL, FC, SC
+ Dạng bột thấm nước, thường có các ký hiệu là: BTN, BHN, WP
+ Dạng bột hòa tan, thường có ký hiệu: SP
+ Dạng thuốc hạt, có ký hiệu: H, G hoặc GR
Ngoài các dạng thuốc phổ biến trên, còn có một số dạng và ký hiệu như:
AC: Dung dịch đặc OD: Huyền phù trong dầu
DF: Huyền phù khô SD: Hạt tan trong nước
EW: Nhũ dầu WDG: Huyền phù hạt
FS: Huyền phù đậm đặc WG: Hạt thấm nước
FW: Huyền phù nước WS: Bột phân tán trong nước
1.1.3. Quản lý nhà nước đối với hoá chất BVTV
a. Các văn bản pháp luật đối với thuốc BVTV
Giai đoạn từ 1957-1985, thời kỳ kinh tế bao cấp thuốc BVTV được Bộ Nông
Nghiệp và Công nghiệp thực phẩm giao cho Công ty vật tư nông nghiệp độc quyền
trong việc nhập khẩu và phân phối. Từ năm 1985-1990 Nhà nước giao cho Cục
BVTV lên kế hoạch nhập thuốc BVTV và trực tiếp phân phối cho các địa phương
qua mạng lưới vật tư nông nghiệp, sau đó phân phối cho các hợp tác xã nông
nghiệp.
7
Năm 1991, Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm quy định về việc đăng
ký sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam.
Năm 1993 nhà nước ban hành pháp lệnh “Bảo vệ và kiểm dịch động thực
vật”, chính phủ ban hành nghị định số 92/CP “Hướng dẫn thi hành Pháp lệnh bảo
vệ kiểm dịch thực vật” kèm theo Điều lệ về quản lý thuốc BVTV.
Đến nay, tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước đã bước vào giai
đoạn mới - giai đoạn hội nhập Quốc tế, thì việc quy định nghiêm ngặt về sử dụng
thuốc BVTV trong nông nghiệp càng phải được chú ý. Thực tế nông sản hay thuỷ
sản của ta xuất khẩu ra nước ngoài đã có nhiều trường hợp bị trả lại do có dư lượng
hoá chất độc hại cao. Chính vì vậy, trong nỗ lực hội nhập Quốc tế, nhà nước ta đã
thực vật tồn lưu gây ra trên phạm vi toàn quốc;
Ngoài ra còn có các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn
chất lượng thuốc BVTV về cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, quy trình kiểm tra sử
dụng thuốc BVTV trên cây trồng và các văn bản hướng dẫn của Cục BVTV. Như
vậy, đến nay Chính phủ và các Bộ đã có đủ các cơ sở pháp lý để quản lý thuốc
BVTV từ khâu sản xuất, gia công, sang chai đóng gói, kinh doanh đến khâu sử
dụng. Những văn bản đó có hiệu lực thi hành, nhưng chưa được phổ biến rộng rãi
đến mọi đối tượng có liên quan, nhất là bà con nông dân, những người trực tiếp sử
dụng thuốc BVTV.
b. Quản lý nhập khẩu thuốc BVTV
Các loại thuốc BVTV đang lưu thông trên thị trường sử dụng ở nước ta phần
lớn được nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy khâu quản lý nhập khẩu thuốc là vấn đề
cực kỳ quan trọng. Trong những năm qua, việc quản lý nhập khẩu thuốc được thực
hiện theo hai nhóm: thuốc BVTV trong danh mục được phép sử dụng và thuốc
BVTV trong danh mục hạn chế sử dụng. Theo Quyết định số 145/2002/QĐ-BNN
ngày 18/12/2002 của Bộ NN&PTNT việc nhập khẩu thuốc BVTV trong danh mục
được phép sử dụng, thì mọi tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đều có thể nhập
khẩu thuốc không cần phải có giấy phép. Các loại thuốc BVTV trong danh mục hạn
chế sử dụng phải được Bộ NN&PTNT cấp giấy phép nhập khẩu.
9
Trước năm 1991 mỗi năm nước ta nhập khoảng 7.500-8.000 tấn thành phẩm
thuốc BVTV hạn chế sử dụng. Từ 1994, nhà nước chỉ cho phép nhập 3.000 tấn
thành phẩm mỗi năm. Đến năm 1997, giảm xuống còn 2.500 tấn, và đến năm 1999
giảm xuống còn 1.000 tấn thành phẩm. Như vậy chủ trương giảm dần các loại thuốc
BVTV có độc tính cao, dễ gây hại cho con người và môi trường đã được nhà nước
thực hiện. Từ năm 1994-1997, nhà nước chỉ cho phép 22 doanh nghiệp đủ điều kiện
nhập khẩu thuốc BVTV hạn chế sử dụng, năm 2004, số đầu mối được nhập chỉ còn
18 doanh nghiệp. Một điều đáng chú ý nữa là tỷ lệ thuốc trừ sâu nhập khẩu đã giảm
dần từ 88,3% năm 1991 xuống còn 48,3% năm 1999; ngược lại cũng trong thời gian
này số lượng thuốc trừ bệnh và trừ cỏ đã tăng từ 20% lên khoảng 50%. Tình hình
của phân bón hoá học dư thừa trong đất. Do khả năng diệt khuẩn cao nên thuốc bảo
vệ thực vật đồng thời cũng diệt nhiều vi sinh vật có lợi trong đất, làm hoạt tính sinh
học trong đất giảm. Ở trong đất, hoá chất BVTV tác động vào khu hệ vi sinh vật đất,
giun đất và những động vật khác làm hoạt động của chúng giảm, chất hữu cơ không
được phân huỷ, đất nghèo dinh dưỡng.
Tác động đến môi trường nước
Hoá chất BVTV có thể trực tiếp đi vào nước do phun hoặc xử lý nước bề mặt
với hoá chất BVTV để tiêu diệt một số sinh vật truyền bệnh cho người; thải bỏ hoá
chất BVTV thừa sau khi phun; nước dùng để cọ rửa thiết bị phun được đổ vào sông,
hồ, ao, ngòi; cây trồng được phun ngay ở bờ nước; rò rỉ hoặc đất được xử lý bị xói mòn.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng 25% tổng lượng DDT đã sử dụng được
chuyển vào đại dương.
Tác động đến môi trường không khí
Ô nhiễm không khí do hoá chất BVTV chủ yếu do phun thuốc. Ngay trong
quá trình phun thuốc, các hạt nhỏ bay hơi tạo thành những hạt mù lỏng có thể bay
rất xa theo gió. Thông thường hoá chất BVTV loại tương đối ít bay hơi như DDT
cũng bay hơi trong không khí rất nhanh khi ở vùng khí hậu nóng gây ô nhiễm
không khí và rất nguy hiểm nếu hít phải hoá chất BVTV trong không khí. Tuy vậy,
11
hoá chất BVTV cũng có thể bám dính theo các hạt bụi và xâm nhập cơ thể con
người qua hít thở hoặc bám lên rau quả xâm nhập cơ thể người qua ăn uống.
b. Tác động của thuốc BVTV đến sức khỏe con người
Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của thuốc BVTV phụ thuộc vào độ
độc hại của thuốc, tính mẫn cảm của từng người, thời gian tiếp xúc và con đường
xâm nhập vào cơ thể. Có 3 con đường xâm nhập vào cơ thể người:
- Đường hô hấp: khi hít thở thuốc dưới dạng khí, hơi hay bụi.
- Hấp thụ qua da: khi thuốc dính vào da.
- Đường tiêu hóa: do ăn, uống phải thức ăn nhiễm thuốc hoặc sử dụng những
Ngoài các vấn đề sức khỏe con người, hàng năm thuốc BVTV còn gây ra
hàng chục ngàn vụ ngộ độc ở gia súc, thú nuôi. Các sản phẩm thịt, trứng, sữa,
cũng có thể nhiễm thuốc BVTV và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn.
Như vậy, do người dân vì hiểu biết còn hạn chế nên chưa chấp hành những quy
định về an toàn đối với môi trường và sức khỏe của chính mình cộng với kỹ thuật và
phương tiện bảo hộ còn thiếu nên đã xảy ra những trường hợp nhiễm độc do nhiều
nguyên nhân mà yếu là nhiễm độc do tiếp xúc trực tiếp trong quá trình phun thuốc
đang ngày càng đe dọa sức khỏe cộng đồng ở mỗi quốc gia và trên thế giới.
1.1.5. Độc tính của một số hoá chất hoá chất BVTV điển hình
a. DDT
Đặc điểm
Thuốc trừ sâu DDT là chữ viết tắt tiếng Anh của hoá chất Dichlo - Dibenzen
- Trichlothan, được phát minh năm 1872. DDT có tính năng trừ sâu rất tốt, dùng để
diệt các loài sâu phá hoại lương thực, cây ăn quả, rau xanh và các loài côn trùng gây
bệnh. DDT còn được biết đến với các tên thương mại Anfex, Arkotin, Dicofol,
Genitox, Ixodex, Neoxid, Pentachlorin, Peprothion, 7~erdane DDT ở dạng bột
trắng hay xám nhạt, không tan trong nước, rất tan trong cychlorhexanon, tan ít hơn
trong xylen và aceton, ít tan trong dầu hoả.
Tính chất của DDT khá ổn định, có hiệu quả lâu dài, hơn nữa DDT không dễ
hoà tan trong nước (sau khi phun thuốc không bị nước mưa rửa sạch) cho nên về kinh
tế, nó đã thể hiện tính ưu việt so với các loài thuốc trừ sâu khác. Bắt đầu từ năm 1943
thuốc trừ sâu DDT đã được sử dụng rộng rãi với số lượng lớn trên toàn thế giới.
13
Độc tính với con người
Liều gây độc đối với người là 30 gam. DDT có tác dụng tích luỹ. Tuy nhiên
khoảng cách an toàn giữa nồng độ diệt được côn trùng và liều gây độc cho người
khá lớn.
Độc tính cấp
năm 60 của thế kỷ XX, rất nhiều nước đã cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT.
b. HCH và Lindan
Tên chung: BHC (Benzene hexachloride)
- HCH (Hexachlorcychlorhexane).
- Lindan: tên chung của 99% đồng phân gamma HCH.
Tên thương mại:
- HCH: Benzex, Denzex, Dolmox
Hexafur, Hexyclan, Kotol, Submar.v.v
- Lindan: Exaggama, Forlin, Gammex, Inexit,
Isotox Lindanrgam, Lindanlo, Bovigam,
HCH - 666 là bột trắng mùi sốc, không tan trong nước, dễ tan trong cồn,
benzen aceton, xylen, dầu hoả Sản phẩm thương nghiệp là hỗn hợp 5 đồng phân,
trong đó đồng phân gamma, hay lindan, còn gọi là gammexan, không vị, không
mùi.
Độc tính cấp
Theo cấp phân loại của WHO HCH và Lindan có độc tính vừa (II).
Đường hấp thu chủ yếu của lindan và các đồng phân khác của HCH là đường
hô hấp, tiêu hoá và qua da. Tác động chủ yếu do phơi nhiễm với lindan là kích thích
hệ thần kinh gây co giật. Các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc lindan và HCH
từ nhẹ đến vừa là: chóng mặt, buồn nôn, đau dạ dày, nôn, suy yếu, dễ kích thích, lo
âu và dễ cáu giận. ở thể nhiễm độc nặng hơn có thể gây giật cơ, có giật, khó thở.
Tiếp xúc với da có thể thấy phát ban.
Độc tính mãn
- Gây ung thư.
- Gây quái thai và giảm tỷ lệ sinh sản.
15
- Tác hại khác gồm hại đến thận, tuỵ, phá huỷ niêm mạc mũi, suy nhược, cao
huyết áp, co giật, thiếu máu. Lindan còn gây giảm sản hay bất sản tuỷ xương, gan
aldrin. Các triệu chứng có thể có như đau đầu, hoa mắt, kích thích, buồn nôn và
nôn, lo lắng, giật cơ, và chuyển nhanh sang co giật [Jager, 1970]. Co giật có thể
kéo dài và dấu hiệu của kích thích có thể kéo dài vài ngày [Spiotta, 1951; Black,
1974]. Sau nhiễm độc aldrin cấp thường có rối loạn chức năng thận. Nó làm tăng
nồng độ ure trong máu, có hồng cầu và albumin niệu.
Đường hô hấp
Đường này thường xảy ra khi công nhân đang sản xuất hay đang phun thuốc
trừ sâu. Dù sao, không có trường hợp nhiễm độc cấp nào xảy ra với đường tiếp xúc
này. Đa số các ca bệnh đều là bán cấp và không có triệu chứng nhiễm độc, triệu
chứng lâm sàng đầu tiên thường là cơn động kinh co giật.
Đường qua da
Đường tiếp xúc này rất khó phân biệt với đường hô hấp, và có lẽ cả hai cùng
tác động (ATSDR, 1993). Giống như phơi nhiễm qua đường hô hấp, hấp thụ qua da
thường xảy ra đầu tiên với các công nhân. Nếu phơi nhiễm cấp nặng, triệu chứng
tiến triển giống như với nhiễm qua đường miệng. Dù sao, rất nhiều trường hợp
nhiễm độc bán cấp không có triệu chứng và triệu chứng đầu tiên là cơn co giật động kinh.
Nhiễm độc mãn tính
Đường tiêu hóa
Không có ảnh hưởng về thần kinh học, huyết học và gan trên người nồng độ
dưới 0.003 mg/kg/day [Hunter & Robinson, 1967].
Đường hô hấp
Co giật có thể xuất hiện đột ngột không có triệu chứng báo trước có thể do
sự tích lũy aldrin (và chất chuyển hóa của nó là dieldrin) sau nhiều ngày [Jager,
1970]. Thiếu máu và chậm phục hồi vết thương có thể xảy ra sau thời gian dài tiếp
xúc [Muirhead và CS, 1959; Pick và CS, 1965; de Jong, 1991].
17
1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Thái Nguyên
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên
a. Vị trí địa lý
b. Đặc điểm khí hậu
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23.6
0
C trong đó nhiệt độ trung bình cao
nhất đạt 28.9
0
C (thời gian tháng 6) và trung bình thấp nhất khoảng 17.0
0
C. Nhiệt độ
cao nhất trong năm là 40.1
0
C.
Bảng 1.5. Nhiệt độ không khí qua các tháng
Nhiệt độ không khí trung bình tháng (
0
C)
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
17,5 17 20,3 24,1 27,3 28,9 27,9 28,2 25,5 25,6 22,8 18,6
Hình 1.1. Bản đồ hành chính tỉnh Thái Nguyên
19
Tốc độ gió
Hướng gió thịnh hành tại Thái Nguyên là Đông Bắc (mùa lạnh) và Đông
Nam (mùa nóng).
Bảng 1.6. Tốc độ gió (m/s)
NĂM THÁNG
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx dd fxfx
mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian.
Bảng 1.8. Lượng mưa trong tháng một số năm gần đây (Đơn vị: mm)
Năm THÁNG
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
2000 7,6 54,3 53,1 32,3 204,4 250,0 621,7 142,0 196,4 213,2 1,4 0,7 1.777,1 271,3
2001 21,4 39,1 118,5 136,6 241,1 340,4 593,9 357,3 101,0 130,4 30,2 15,6 2.125,5 294,0
2002 14,2 16,1 26,5 49,7 185,2 230,6 226,4 199,4 125,4 83,1 47,3 42,5 1.246,4 175,0
2003 32,8 31,0 12,3 67,3 379,1 244,0 370,2 384,9 88,6 66,0 8,2 5,5 1.689,9 255,5
2004 24,4 22,8 65,5 103,7 366,7 136,5 511,6 238,4 145,5 0,1 1.615,2 233,1
TB 19,1 28,4 85,6 86,7 238,8 287,9 446,6 342,2 139,3 105,2 32,1 27,8 1.834,3 260,0
Max 32,8 91,8 239,9 195,7 379,1 634,2 621,7 633,8 268,9 213,2 101,2 108,9 2.329,7 329,9
Min 5,4 0,3 12,3 32,3 125,0 101,0 226,4 142,0 63,4 0,1 1,4 0,7 1.246,4 175,0
c. Đặc điểm hệ thống sông ngòi và chế độ thuỷ văn khu vực
Thái Nguyên có 2 sông chính là:
- Sông Công: có lưu vực 951 km
2
bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định
Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái
Nguyên. Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nước
rộng khoảng 25km
2
, chứa được 175 triệu m
3
nước.
- Sông Cầu: Lưu vực sông Cầu có dòng chính là sông Cầu với chiều dài 290
km bắt nguồn từ núi Văn Ôn (Vạn On) ở độ cao 1.170 m và đổ vào sông Thái Bình
ở Phả Lại. Trong lưu vực sông Cầu có tới 26 phụ lưu cấp một với tổng chiều dài
670 km và 41 phụ lưu cấp hai với tổng chiều dài 645 km và hàng trăm km sông cấp
ba, bốn và các sông suối ngắn dưới 10 km. Lưu vực sông Cầu nằm trong vùng mưa
lớn (1.500 - 2.700 mm/năm) của các tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Tổng lưu lượng