Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 1 Lớp: 08SHH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 2 Lớp: 08SHH
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong một đất nước có nền kinh tế đang phát triển và
ngày càng phát triển nhanh chóng. Vì vậy, giáo dục cũng phải từng bước thay đổi
để ngày càng hiện đại hơn, phù hợp hơn và đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Đó là
đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng cao, có
năng lực giải quyết vấn đề đặt ra từ cuộc sống. Để đáp ứng được những yêu cầu đó
giáo dục môn Hoá học THPT cần hướng tới mục tiêu: cung cấp cho HS hệ thống
kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực và gắn với đời sống.
Hóa học là một bộ môn thực nghiệm, có nhiều kiến thức liên quan đến thực
tiễn. Vì vậy, mục tiêu trên được định hướng như sau:
- Nội dung phải gắn bó thực tiễn đời sống, xã hội.
- Nội dung phải gắn liền với thực hành, TN.
- BT Hóa học phải có nội dung thiết thực.
Hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn là mục đích, là nội dung và cũng là
phương pháp dạy học hiệu quả. Bằng cách này, bài giảng Hóa học sẽ dễ dàng đạt
yêu cầu vì có liên hệ thực tiễn; giúp HS giải thích những hiện tượng trong tự nhiên,
tránh việc mê tín dị đoan; kích thích được lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS. Tăng cường sử dụng câu hỏi và BT
thực tiễn trong dạy học Hoá học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục: học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn với thực tiễn.
Bằng những kiến thức Hoá học, HS có thể trả lời được những câu hỏi “Tại sao?”
nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa có thể đưa ra giải pháp tối ưu cho tình huống từ
dục học và các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu thực tiễn: sưu tầm các câu hỏi và BT thực tiễn. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 4 Lớp: 08SHH
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Mục tiêu, nguyên lý, phƣơng pháp giáo dục THPT [11], [12]
Theo Luật giáo dục ban hành năm 1998:
- Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những
kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu
biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học, cao đẳng,
trung cấp chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
- Hoạt động giáo dục phải đuợc hoạt động theo nguyên lý học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội.
- Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động sáng
tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh.
Như vậy giáo dục phổ thông không phải là truyền thụ kiến thức đơn thuần
- Hóa hữu cơ: Vận dụng lý thuyết chủ đạo nghiên cứu các hợp chất hữu cơ cụ
thể, một số dãy đồng đẳng hoặc loại hợp chất hữu cơ tiêu biểu, có nhiều ứng dụng,
gần gũi trong đời sống và sản xuất.
- Một số vấn đề về phân tích Hóa học, Hóa học và các vấn đề kinh tế, xã hội,
môi trường.
+ Hóa học và vấn đề phát triển kinh tế: Vai trò của sản xuất Hóa học trong
việc nâng cao chất lượng cuộc sống (các vật liệu mới, chất mới, sản phẩm mới,
năng lượng mới…)
+ Hóa học và vấn đề xã hội: Vai trò của Hóa học đối với sự phát triển của
xã hội.
+ Hóa học và vấn đề môi trường: Mối liên quan giữa các hoạt động của con
người, giữa sản xuất Hóa học với sự ô nhiễm môi trường, phương pháp xử lí chất
thải.
Những vấn đề trên vừa được lồng ghép trong khi học về các chất cụ thể vừa
được tách ra thành chương trình riêng nhằm tăng thêm tính thiết thực của chương
trình.
b. Kỹ năng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 6 Lớp: 08SHH
Phát triển các kỹ năng giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực nhận thức
và năng lực hành động cho HS như:
- Quan sát TN, dự đoán, phân tích, kết luận và kiểm tra kết quả…
- Làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham khảo: tóm tắt nội dung
chính, thu thập tài liệu, phân tích và kết luận…
- Thực hiện một số TN Hóa học độc lập và theo nhóm.
- Cách làm việc hợp tác với các HS khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành một
nhiệm vụ nghiên cứu.
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống hằng
- Nội dung có sự chọn lọc từ chương trình Hóa học của các nước tiên tiến trên
thế giới.
- Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý báu của Việt Nam.
- Đảm bảo tính phân hóa ở cấp THPT.
- Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực.
- Coi trọng thực hành và TN Hóa học.
- Đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của HS:
+ Chú ý hơn việc đánh giá trình độ tư duy, năng lực và kỹ năng vận dụng
kiến thức Hóa học để giải quyết vấn đề.
+ Đa dạng hóa nội dung, hình thức câu hỏi và BT nhằm đánh giá được
những mục tiêu đã đặt ra cho môn Hóa học.
+ Tạo điều kiện và bồi dưỡng để HS biết đánh giá và tự đánh giá kết quả
học tập Hóa học.
+ Loại bỏ những câu hỏi có nội dung lắt léo, quá khó, mang tính chất đánh
đố HS hoặc xa rời với thực tiễn Hóa học.
1.4. Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong môn Hóa học [2], [8]
Thông qua quá trình đào tạo nhà giáo dục giúp HS lĩnh hội về cả lý thuyết
lẫn thực hành, những cơ sở khoa học của nền sản xuất hiện đại, nền công nghệ tiên
tiến và nền kinh tế quốc dân đang đổi mới, chuẩn bị tốt cho HS tự giác, tích cực, tự
lực bước vào thế giới lao động.
Thông qua việc học môn Hóa học HS sẽ được:
- Tìm hiểu về sản xuất Hóa học, công nghệ Hóa học (tham quan, tìm hiểu các
công nghệ, dây chuyền sản xuất, nhà máy sản xuất).
- Biết được vai trò của Hóa học và cách vận dụng khoa học Hóa học vào sản
xuất nhằm nâng cao hiệu suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành sản
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 8 Lớp: 08SHH
phẩm: sử dụng các nguyên vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm, tận dụng chất thải của dây
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 9 Lớp: 08SHH
1.5.2. Tác dụng của câu hỏi và BT Hóa học
- Rèn luyện cho HS kỹ năng vận dụng được kiến thức đã học, biến những kiến
thức tiếp thu được qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của mình.
- Đào sâu mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú giúp HS
nắm vững kiến thức một cách sâu sắc mà không làm nặng khối lượng kiến thức HS.
- Kiến thức cũ nếu chỉ đơn thuần nhắc lại sẽ làm cho HS nhàm chán vì không
có gì mới và hấp dẫn. Câu hỏi và BT Hóa học sẽ ôn tập, củng cố và hệ thống hóa
các kiến thức đã học một cách thuận lợi nhất. Đồng thời cũng đòi hỏi HS phải vận
dụng kiến thức của nhiều chương, nhiều bài khác nhau và qua việc giải các BT Hóa
học HS sẽ tìm ra mối liên hệ giữa các nội dung từ đó sẽ hệ thống được kiến thức đã
học.
- Rèn luyện được những kỹ năng cần thiết về Hóa học như kỹ năng cân bằng
phản ứng, kỹ năng tính toán theo công thức Hóa học và phương trình Hóa học, kỹ
năng thực hành…góp phần vào việc giáo dục kỹ năng tổng hợp đồng thời phát triển
trí thông minh ở HS.
- Giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học Hóa học, từ đó tạo động cơ học tập tích
cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn
Hóa học và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ
giúp cho HS có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai.
- Vì các BT Hóa học thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của
gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần phát
triển động cơ học tập của HS: học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 11 Lớp: 08SHH
thân và cộng đồng. Với những kết quả ban đầu của việc vận dụng kiến thức Hóa
học phổ thông để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS thêm tự tin vào bản thân mình
để tiếp tục học hỏi, phấn đấu và phát triển.
2.3. Các giải pháp để sử dụng câu hỏi và bài tập Hóa học thực tiễn vào bài
giảng
2.3.1. Sử dụng sau khi đã kết thúc bài học
- Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS căn cứ vào những kiến thức đã học
tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, HS sẽ
suy nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài
học mới tiếp theo.
Ví dụ 01: Vì sao hiện nay người ta khuyến cáo hạn chế dùng bao bì bằng chất
dẻo để đựng thực phẩm? Nêu biện pháp thay thế. Hình 2.1: Bao bì bằng chất dẻo Hình 2.2: Bao bì bằng các vật liệu khác
Các bao bì bằng chất dẻo sau khi sử dụng thường rất khó tiêu hủy do đó gây
Nên Ag
2
S bị hoà tan, bề mặt dây bạc lại trở nên sáng bóng.
Áp dụng: Đây là những ứng dụng rất hay của bạc. GV có thể đưa vấn đề này vào bài
đại cương về kim loại.
2.3.2. Sử dụng qua các phƣơng trình phản ứng Hóa học cụ thể trong bài học
- Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập nhật, làm cho HS hiểu và thấy
được ý nghĩa thực tiễn bài học. GV có thể giải thích để giải toả tính tò mò của HS
mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất phổ thông.
Ví dụ 03: Trong cuốn sách "800 mẹo vặt trong đời sống" có viết rằng: nồi nhôm
chỉ nên dùng để nấu cơm, nấu nước; không nên dùng để
nấu canh chua, không nên để canh chua quá lâu trong
nồi nhôm. Em hãy giải thích vì sao?
Hình 2.3: Nồi nhôm
Đồ ăn có chất chua có tính axit. Nếu dùng nồi nhôm để nấu hoặc đựng canh
chua thì sẽ xảy ra phản ứng: Al
2
O
3
+ 6H
+
→ 2Al
3+
+ 3H
2
O
giới thiệu bài giảng mới
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 13 Lớp: 08SHH
Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho HS bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất
khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày HS vẫn gặp nhưng lại tạo sự
chú ý quan tâm của HS trong quá trình học tập.
Ví dụ 05: Ấm đun nước dùng lâu thường có một lớp cặn ở đáy. Lớp cặn đó là
chất gì? Nêu cách loại bỏ lớp cặn đó?
Lớp cặn đó là CaCO
3
. Để loại bỏ lớp cặn đó ta dùng giấm pha với nước rồi
đổ vào ấm, sau vài giờ rồi súc sạch.
CaCO
3
+ CH
3
COOH → (CH
3
COO)
2
Ca + CO
2
+ H
2
O
Áp dụng: GV có thể vận dụng vấn đề này khi dạy phần một số hợp chất của canxi.
Ví dụ 06: Vì sao nước rau muống đang xanh, khi vắt chanh vào thì chuyển màu?
Có một số chất hoá học được gọi là chất chỉ thị màu, chúng làm cho màu của
O
5
) → nC
6
H
12
O
6
→ 2nC
2
H
5
OH
Ta có:
- Khối lượng tinh bột trong khoai:
1.0,75.0,8 0,6( ) 600( )
tb
m t kg
- Chuỗi phản ứng:
6 10 5 6 12 6 2 5
2
162 ( ) 96 ( )
600( ) ( )
n
C H O nC H O nC H OH
n g n g
kg x kg
n(NH
2
)
2
C=O + nHCHO → (-NH-CO-NH-CH
2
-)
n
+ nH
2
O
Khối lượng ure cần:
22
()
1000.60 (100 15) 100
. . 944,4
72 100 75
NH CO
m kg
Khối lượng HCHO cần: 472,2 kg
2.3.5. Nêu hiện tƣợng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thƣờng
Thông qua những câu chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể
xen vào bất cứ thời gian nào trong suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo
không khí học tập thoải mái. Đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học hoá.
Ví dụ 09: Phát minh do ngủ quên
a) Hóa chất: Lòng trắng trứng
b) Dụng cụ: Cốc thủy tinh, đèn cồn.
c) Cách tiến hành:
Cho lòng trắng trứng vào cốc thủy tinh.
Đun cốc thủy tinh trên ngọn lửa đèn cồn.
Đợi 1 thời gian, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn. Quan sát hiện tượng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 16 Lớp: 08SHH
d) Hiện tượng: Lòng trắng trứng đã đông tụ lại khi đun nóng.
e) Kết quả: Thành công.
Hình 2.5: Rán lòng trắng trứng
f) Giải thích: Thành phần chính trong lòng trắng trứng là protein mà protein sẽ bị
đông tụ khi có nhiệt độ.
g) Áp dụng: Đây là vấn đề hiện tượng thực tế, có thể được giải thích sau khi HS học
bài protit – protein.
Ví dụ 12: Vì sao phèn chua có thể làm trong nước?
a) Hóa chất: Nước đục, phèn nhôm.
b) Dụng cụ: Cốc thủy tinh 1000ml.
c) Cách tiến hành:
Hoà tan phèn nhôm.
Cho nước đục vào cốc thủy tinh. Cho tiếp phèn nhôm vào cốc.
Đợi 1 thời gian, khi phản ứng xảy ra hoàn toàn. Quan sát hiện tượng.
d) Hiện tượng: Trong nước có xuất hiện kết tủa keo, các chất bẩn bám vào kết tủa
keo đó và dần dần lắng xuống. Sau một thời gian ta thấy nước trở nên trong hơn.
e) Kết quả: Thành công.
Hình 2.6: Phèn chua làm trong nước
→ 2Al
3+
+ 3SO
4
2-
Al
3+
+ H
2
O → AlOH
2+
+ H
+
AlOH
2+
+ H
2
O → Al(OH)
2
+
+ H
+
Al(OH)
2
+
+ H
2
O → Al(OH)
Căn cứ vào bản chất của các chất liệu làm nên vải, ta có thể nhận biết cách
đơn giản sau:
1/ Nếu vải làm bằng sợi bông: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu vàng,
có mùi như đốt giấy và tro có màu xám đậm.
2/ Nếu vải làm bằng sợi tơ tằm: Khi đốt sợi vải cháy chậm hơn vải sợi bông,
có mùi khét như đốt tóc, sợi tơ co cục, màu nâu đen, lấy tay bóp thì tan.
3/ Nếu vải làm bằng lông cừu (len lông cừu): Khi đốt bắt cháy không nhanh,
bốc khói, có mùi khét như đốt tóc và tạo thành những bọt phồng, rồi vón cục có
màu đen hơi óng ánh, giòn, bóp tan ngay.
4/ Nếu vải làm bằng sợi viscozơ: Khi đốt sợi vải cháy nhanh, ngọn lửa màu
vàng, có mùi như đốt giấy và tro có màu xám nhưng rất ít.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 18 Lớp: 08SHH
5/ Nếu vải làm bằng sợi axetat: Khi đốt sợi vải bắt cháy chậm ,thành giọt dẻo
màu nâu đậm, có hoa lửa, không bốc cháy thành ngọn lửa, sau đó kết thành cục màu
đen, dể bóp nát.
6/ Nếu vải làm bằng sợi poliamit (nilon): Khi đốt sợi vải không cháy ngọn lửa
mà co vón lại và cháy thành từng giọt dẻo màu trắng, có mùi của rau cần, khi nguội
thì biến thành cục cứng có màu nâu nhạt, bóp khó nát.
Áp dụng: GV có thể đưa vào phần nhận biết của bài dạy liên quan, mặt khác cũng
có tác dụng cung cấp cho HS phương pháp trong đời sống nhận biết các chất liệu
vải phục vụ cho mục đích sử dụng, điều này cũng rất thực tiễn.
Ví dụ 14: Tại sao khi ăn cơm nhai kỹ sẽ thấy vị ngọt?
Cơm chứa một lượng lớn tinh bột, khi ăn cơm trong tuyến nước bọt của ngư-
ời có các enzim. Khi nhai kỹ trộn đều, tuyến nước bọt làm tăng cơ hội chuyển hoá
một lượng tinh bột theo phản ứng thuỷ phân thành mantozơ, glucozơ gây ngọt theo
sơ đồ:
- Câu hỏi và BT thực tiễn phải gần gũi với HS.
- Dựa theo chương trình phổ thông.
- Có tính hệ thống, logic.
- Đảm bảo logic sư phạm.
2.6. Quy trình xây dựng hệ thống câu hỏi và BT thực tiễn
Bước 1:
- Phân tích mục tiêu của chương, bài để thiết kế câu hỏi và BT.
- Nghiên cứu nội dung và các ứng dụng thực tiễn liên quan đến bài học.
- Nghiên cứu trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống của HS để thiết kế câu
hỏi và BT cho phù hợp.
Bước 2:
- Thiết kế câu hỏi và BT theo những yêu cầu đưa ra ở trên.
- Trả lời và kiểm tra lại câu hỏi, BT.
Bước 3:
- Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng sao cho hiệu quả nhất.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 20 Lớp: 08SHH
Chƣơng 3
HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC TIỄN
Trả lời: Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng là hợp chất Ca
5
(PO
4
)
3
OH được tạo
thành bằng cân bằng:
5Ca
2+
+ 3PO
4
2-
+ OH
-
→ Ca
5
(PO
4
)
3
OH (1)
Trong kem P/S có các muối CaF
2
, NaF. Các muối này phân ly cho Ca
2+
và F
-
.
Theo nguyên lý Lơ Sa-Tơ-Li-ê, sự có mặt của Ca
nên cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận.
Câu 03: Hãy cho biết người ta lợi dụng yếu tố nào để tăng tốc độ phản ứng trong
các trường hợp sau:
a. Dùng không khí nén, nóng thổi vào lò cao để đốt cháy than cốc (trong sản xuất
gang).
b. Nung đá vôi ở nhiệt độ cao để sản xuất vôi sống.
c. Nghiền nguyên liệu trước khi đưa vào lò nung để sản xuất clanhke (trong sản xuất
xi măng).
Trả lời:
a. Dùng yếu tố áp suất và nhiệt độ.
b. Dùng yếu tố nhiệt độ.
c. Dùng yếu tố diện tích tiếp xúc.
Câu 04: Tại sao khi sản xuất vôi người ta phải đập nhỏ đá vôi tới một kích thước
nhất định tùy theo từng loại lò?
Trả lời:
Phản ứng nung vôi: CaCO
3
→ CaO + CO
2
Do phản ứng trên là thuận nghịch nên để tăng hiệu suất của phản ứng ta phải đập
nhỏ đá vôi nhằm tăng diện tích bề mặt được cung cấp nhiệt trực tiếp. Đồng thời
cũng tạo ra những lỗ hở để thoát CO
2
ra ngoài giúp hạn chế phản ứng xảy ra theo
chiều nghịch.
Tuy nhiên không được đập đá vôi tới một kích thước quá nhỏ vì như thế khi nung
đá vôi dễ bị tơi nhỏ ra và bít kín lò, CO
2
không lưu thông được với bên ngoài,dẫn
đến cân bằng chuyển dịch theo chiều nghịch.
Phương trình ion:
2
10 1 0
H OH H O
mol mol
Để
7 5 7
7 10 10 .10 0,01
OH
pH OH H M n mol
→ n
OH-
= 10 +0,01 = 10,01 mol
Ca(OH)
2
→ Ca
+ CaC
2
O
4
+ H
2
SO
4
→ ? + ? + ? + CO
2
+ H
2
O
a. Hoàn thành PTPƯ. Viết phương trình ion thu gọn.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 23 Lớp: 08SHH
b. Giả sử canxi oxalat kết tủa từ 1,00ml máu của một người tác dụng vừa hết
với 2,05ml dd KMnO
4
4,48.10
-4
M. Hãy biểu diễn nồng độ ion canxi trong
máu người đó ra đơn vị mg Ca
2+
/ 100ml máu.
Trả lời:
a.
4 2 4 2 4 2 4 4 4 2 2
Ca
2+
+ C
2
O
4
2-
→ CaC
2
O
4
↓
22,96.10
-7
22,96.10
-7
Khối lượng Ca
2+
trong 1ml máu là 22,96.10
-7
.40 = 9,2.10
-5
g = 0,092mg
Khối lượng Ca
2+
trong 100 ml máu là 9,2mg
Vậy nồng độ ion Ca
2+
Nước ở đây đóng vai trò là dung môi. Do đó cần bảo quản thuốc ở chỗ khô, tránh để
thuốc bị ẩm.
Câu 08: Vì sao khả năng dẫn điện của nước vôi trong để trong không khí giảm dần
theo thời gian?
Trả lời: Vì Ca(OH)
2
hấp thụ CO
2
trong không khí tạo ra kết tủa CaCO
3
và H
2
O làm
giảm nồng độ các ion trong dung dịch nên khả năng dẫn điện giảm dần.
Câu 09: Muối ăn khi khai thác từ nước biển, mỏ muối, hồ muối thường có lẫn nhiều
tạp chất như MgCl
2
, CaCl
2
, CaSO
4
làm cho muối có vị đắng chát và dễ bị chảy
nước gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng muối. Để loại bỏ tạp chất của muối người ta
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 24 Lớp: 08SHH
dùng hỗn hợp gồm: Na
2
CO
2+
+ SO
4
2-
→ BaSO
4
↓
Câu 10: Trong nước biển magie là kim loại có hàm lượng lớn thứ hai sau natri. Mỗi
kg nước biển chứa khoảng 1,3 g magie dưới dạng các ion Mg
2+
. Ở nhiều nước
magie được khai thác từ nước biển. Quá trình sản xuất magie từ nước biển gồm các
công đoạn sau:
Nung đá vôi thành vôi sống
Hòa tan vôi sống trong nước biển tạo kết tủa Mg(OH)
2
Hòa tan kết tủa Mg(OH)
2
trong dung dịch HCl
Điện phân nóng chảy MgCl
2
Viết PTHH của các phản ứng xảy ra trong quá trình sản xuất trên dưới dạng
phân tử và ion rút gọn.
Trả lời:
CaCO
3
→ CaO + CO
2
2
khan điện phân nóng chảy:
MgCl
2
→ Mg + Cl
2
Câu 11: Thành phần chính của dịch vị dạ dày là nước, enzim và axit clohidric. Sự
có mặt của axit clohidric làm cho pH của dịch vị trong khoảng từ 2 đến 3. Khi độ
axit trong dịch vị dạ dày tăng thì dễ bị ợ chua, ợ hơi, buồn nôn, loét dạ dày, tá tràng.
Để làm giảm bớt lượng axit dư trong dịch vị dạ dày người ta thường uống “thuốc
muối dạ dày” (bột NaHCO
3
) từng lượng nhỏ và cách quãng để:
a. pH của dịch vị tăng từ từ.
Hình 3.1: Ruộng muối
t
o
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Lan Anh
SVTH: Bùi Thị Thanh Hằng 25 Lớp: 08SHH
b. Khí cacbonic thoát ra từ từ, ít một. Nếu khí cacbonic thoát ra nhiều sẽ làm
giãn các cơ quan tiêu hóa gây nguy hiểm cho con người.
c. Cả 2 lí do trên.
Chọn một trong các đáp án trên. Viết PTPƯ
Trả lời: Đáp án c.
NaHCO
3
+ HCl → NaCl + CO
2
O HCO
3
-
+ H
3
O
+
CO
2
+ 3H
2
O CO
3
2-
+ 2H
3
O
+
CO
2
đóng vai trò là axit, phân ly tạo ra ion H
3
O
+
làm cho pH < 7.
3.2. Hệ thống bài tập thực tiễn phần vô cơ
3.2.1. Kim loại
Câu 01: Nổi, chìm những viên long não
a) Hóa chất: Viên long não, dung dịch CH