BÀI BÁO CÁO SEMINAR
Đề : Phân biệt tiền với tư bản, sản xuất hàng hoá với sản xuất TBCN, từ đó rút ra điều kiện tồn tại và
phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Bài làm
I. Phân biệt tiền với tư bản :
Tiền tệ là một hình thức giá trị của hàng hóa, là do kết quả của quá trình phát triển sản xuất
và trao đổi hàng hóa. Nó là phương tiện được thừa nhận chung cho việc trao đổi, mua bán hàng hóa,
dịch vụ
Tiền xuất hiện là do kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa. Do sản
xuất ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa những người sản xuất ngày càng thường
xuyên và mở rộng, các hình thái của giá trị hàng hóa ngày càng phát triển từ thấp đến cao : từ hình
thái giản đơn ngẫu nhiên (1 hàng hóa A = 3 hàng hóa B), hình thái đầy đủ mở rộng (1 hàng hóa A =
3 hàng hóa B = 4 hàng hóa C) sang hình thái chung của giá trị (trong đó người ta chọn một hàng
hóa nào đó làm vật ngang giá chung biểu thị giá trị sử dụng của các loại hàng hóa khác) và cuối cùng
là hình thái tiền của giá trị (trong đó vật ngang giá chung đóng vai trò tiền tệ, biểu thị cho giá trị của
tất cả hàng hóa). Như vậy, tiền là hình thái giá trị phát triển cao nhất của hàng hóa, nó xuất hiện là kết
quả của sự giải quyết liên tục những mâu thuẩn trong quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và SX
hàng hóa. Khi tiền tệ xuất hiện, thế giới hàng hóa phân hai cực: một phía là các hàng hóa thông
thường, một phía là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ.
Về bản chất , tiền cũng là hàng hóa với đầy đủ 2 thuộc tính (giá trị và giá trị sử dụng), tuy
nhiên tiền tệ còn là một loại hàng hóa đặc biệt ở chỗ nó được tách ra làm làm vật ngang giá chung
cho tất cả mọi loại hàng hóa, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những
người sản xuất hàng hóa.
Về chức năng, tiền có 5 chức năng cơ bản. Một là tiền được dùng để đo giá trị của các hàng
hóa khác, giá trị của mỗi hàng hóa được biểu thị ở một lượng tiền nhất định, gọi là giá cả của hàng
hóa. Hai là trong lưu thông hàng hóa, tiền như một loại phương tiện lưu thông làm chức năng môi giới
trong quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa. Ba là tiền sau khi rút ra khỏi lưu thông nó có chức năng
cất trữ, dự trữ để đến khi cần lại được đem ra mua hàng hóa. Bốn là tiền có chức năng làm phương
tiện thanh toán khi mua hàng, trả tiền mua chịu, trả nợ. Năm là tiền tệ thế giới dùng làm công cụ mua
bán, thanh toán quốc tế, công cụ dịch vụ, di chuyển của cải từ nước này sang nước khác.
sử dụng của hàng hóa (các hàng hóa trao đổi với nhau phải có giá trị sử dụng khác nhau). Còn
mục đích của lưu thông tư bản là giá trị và giá trị lớn hơn nên số tiền thu về phải lớn hơn số tiền
ứng ra. Vậy với tính cách là tư bản, công thức vận động của tiền là T-H-T’, trong đó T’ = T+t, với
T là lượng tiền ứng ra ban đầu gọi là tư bản, t là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra, gọi là giá
trị thặng dư. Như vậy, trong công thức chung của tư bản T-H-T’ (T’=T+m), tư bản cho dù là mang
hình thái cụ thể nào cũng đều là mang lại giá trị thặng dư
- Ba là giới hạn và phạm vi của tiền trong 2 hình thức lưu thông trên khác nhau. Trong
lưu thông hàng hóa giản đơn, tiền chỉ là phương tiện lưu thông để đạt được mục đích tiêu dùng
nằm ngoài lưu thông, nên sự vận động của tiền có giới hạn. Nó sẽ chấm dứt ở giai đoạn thứ hai,
khi Tiền (T) chuyển thành Hàng hóa (H). Còn mục đích của lưu thông tư bản là làm cho giá trị
không ngừng tăng lên, (tức là làm tăng giá trị thặng dư), vì vậy sự vận động của nó là không có
giới hạn
Từ công thức chung của tư bản: T-H-T’ làm cho người ta lầm tưởng rằng cả sản xuất lẫn
lưu thông đều tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Thật ra, lưu thông có tạo ra giá trị và làm
tăng thêm giá trị không? Hay nói cách khác ý kiến của Mác “Tư bản không thể xuất hiện
từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện từ bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong
lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” là đúng hay sai?
Thật vậy, lưu thông là quá trình trong đó diễn ra các hành vi mua và bán. Nếu mua – bán
ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái, từ tiền thành hàng hoặc từ hàng thành tiền, còn tổng số
giá trị cũng như phần giá trị trong tay mỗi người tham gia trước và sau trao đổi vẫn không thay
đổi. Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu hàng hóa được bán cao hơn giá trị, thì
người bán sẽ được lời, còn nếu hàng hóa bán thấp hơn giá trị thì người mua được lời. Nhưng
trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất đều là vừa là người mua vừa là người bán, không
thể có người chỉ bán mà không mua và ngược lại. Vì vậy cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ là cái
thiệt khi mua. Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội
không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua là sự ăn chặn và
đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi. Từ sự phân tích trên cho thấy lưu thông không tạo ra
giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng rõ ràng nếu không có lưu thông, tức là tiền để trong tủ sắt, hàng
hóa để trong kho thì cũng không thể có được giá trị thặng dư.
một đối tượng cụ thể, một hệ thống phân phối và đối tượng cụ thể để sản xuất ra một giá trị sử dụng
cụ thể có thể chuyển được những giá trị của tư liệu sản xuất vào trong hàng hóa mới. Lao động trừu
tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa biểu hiện sự hao phí sức lao động của con người về
cơ bắp, tinh thần… trong quá trình lao động chung của con người, không kể hình thức cụ thể của nó
như thế nào. sự hao phí lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa. Như vậy, một cách cụ thể
hơn giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa đã kết tinh trong hàng
hóa đó. Lao động cụ thể và lao động trừu tượng là hai mặt vừa thống nhất vừa mâu thuẫn của lao
động sản xuất hàng hóa, do đó, 2 thuộc tính của hàng hóa cũng vừa thống nhất và đối lập với nhau.
Sự đối lập ấy được bộc lộ ra khi thực hiện hàng hóa trên thị trường biểu hiện ở 2 cực đối lập mua và
bán. Chỉ khi sự đối lập đó được chuyển hóa thông qua sự thỏa thuận thì khi đó hàng hóa mới thực
hiện được giá trị và giá trị sử dụng của mình
Sự ra đời của sản xuất hàng hóa gắn liền với sự phát triển của phân công lao động và trao
đổi, nó tồn tại trong chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa. Theo
Mác thì SX hàng hóa chỉ tồn tại trong một số phương thức xã hội gắn với những điều kiện lịch sử nhất
định. Những điều kiện lịch sử đó là : phải có sự phân công lao động xã hội và phải có sự tách biệt
tương đối về kinh tế của những người sản xuất hàng hóa. Sự phân công lao động xã hội là sự phân
chia lao động xã hội ra thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất, tạo nên sự chuyên môn hóa lao động.
Do có sự phân công lao động, mỗi người chỉ sản xuất một thứ hay vài thứ sản phẩm nên người sản
xuất này phải dựa vào người sản xuất khác, phải trao đổi mua bán sản phẩm của nhau. Tuy nhiên, chỉ
có sản phẩm của lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới trao đổi với nhau như
những hàng hóa. Vậy sản xuất hàng hóa ra đời không phải chỉ có điều kiện phân công lao động mà
còn điều kiện thứ hai, đó là phải có sự tách biệt tương đối về kinh tế của những người sản xuất
hàng hóa. Sự tách biệt này do lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau của những
người sản xuất hàng hóa. Đó là sự tách biệt do chế độ sở hữu quy định. Ngoài ra, sự tách biệt còn do
chế độ sử dụng, sự khác nhau giữa các loại lao động có ích với tư cách là công việc của những chủ
thể sản xuất độc lập, của những ngành nghề lao động khác nhau. Trong những điều kiện đó khi muốn
tiêu dùng sản phẩm của nhau họ phải thông qua mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới hình
thức hàng hóa, làm cho sản xuất hàng hóa ra đời.
3
Trong kinh tế hàng hóa giản đơn, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu tư liệu sản xuất,
độc lập tương đối của những người sản xuất hàng hóa
- Những điểm khác nhau : trong sản xuất hàng hóa, người sản xuất trực tiếp là người sở hữu
về tư liệu sản xuất, trong khi đó ở sản xuất TBCN người sản xuất trực tiếp là công nhân làm thuê,
không phải là người sở hữu về tư liệu sản xuất , tư liệu sản xuất thuộc về nhà tư bản. Trong sản xuất
hàng hóa, sản phẩm sản xuất ra thuộc về người sản xuất trực tiếp, trong khi đó ở sản xuất TBCN sản
phẩm sản xuất ra thuộc về nhà tư bản.
4