Đánh giá sự thuần nhất của quần thể tế bào gốc trung mô được phân lập từ lớp lót trong tĩnh mạch dây rốn trẻ sơ sinh trong nuôi cấy in vitro - Pdf 18

LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cố
GS.TS.
Nguyễn
Mộng Hùng, nguyên Trưởng phòng Công nghệ Tế bào Động vật –
Trung
tâm Nghiên cứu
Khoa học Sự sống. Thày là người đã đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển phòng Công
nghệ Tế bào Động vật để ngày hôm nay chúng tôi được học tập và nghiên cứu khoa học một
cách tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Lai Thành và ThS. Đặng Văn Đức, những
người thầy đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm
làm
việc từ
khi tôi bước vao nghiên cứu khoa học. Trong quá trình làm việc, các thầy luôn theo sát,
hướng dẫn tận tình cũng như đưa ra những lời nhận xét, góp ý quý báu để tôi có thể thực
hiện tốt
nghiên
cứu của
mình.
Tôi xin chân thành cám ơn tập thể cán bộ tại khoa D2, bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
cũng như Viện Huyết học và Truyền máu Trung ương đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có được
điều kiện tốt nhất trong quá trình thực hiện những nghiên cứu của mình.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo công tác tại bộ môn Tế
bào – Mô phôi và Lý sinh cũng như các thày cô trong Khoa Sinh học đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức cơ sở để tôi có thể thực hiện được khóa luận tốt nghiệp cũng như vận dụng
trong công việc sau này.
Ngoài ra, tôi còn phải gửi lời cảm ơn đến các anh, các chị, các bạn và các em sinh
viên đang học tập và công tác tại phòng Công nghệ Tế bào Động vật – những người đã nhiệt
tình giúp đỡ, hỗ trợ trong công việc học tập và nghiên cứu của tôi.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã quan tâm, động viên tinh

MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ 3
1.1.1. Định nghĩa tế bào gốc trung mô 3
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tế bào gốc trung mô 3
1.1.3. Các nguồn thu nhận MSC 5
1.1.4. Các đặc điểm của MSC 6
1.1.4.1. Khả năng tự đổi mới 6
1.1.4.2. Chỉ thị bề mặt của MSC 8
1.1.4.3. Tiềm năng biệt hóa của MSC 9
1.1.5. Ứng dụng của tế bào gốc trung mô 12
1.1.5.1. Các bệnh về tim 12
1.1.5.2. Các bệnh về xương 12
1.1.5.3. Các bệnh về sụn 13
1.1.5.4. Các bệnh về gân 13
1.1.5.5. Các bệnh về thần kinh 14
1.1.5.6. Điều trị bỏng và tái tạo da 14
1.1.6. Nghiên cứu MSC ở Việt Nam 14
1.2. TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ TỪ TĨNH MẠCH DÂY RỐN 15
1.2.1. Cấu trúc dây rốn 15
1.2.2. Tế bào gốc trung mô từ tĩnh mạch dây rốn 16
1.3. FLOW CYTOMETRY VÀ ÚNG DỤNG TRONG PHÂN TÍCH DI
TRUYỀN TẾ BÀO 18
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu Flow cytometry 18
1.3.2. Hệ thống Flow cytometry và nguyên tắc hoạt động 20
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 22
2.2. NGUYÊN VẬT LIỆU, VẬT TƯ, THIẾT BỊ 22
2.2.1. Dụng cụ vật tư tiêu hao 22
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học

Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Danh mục hình minh họa
DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 1. Khả năng tự đổi mới của MSC 6
Hình 2. Tiềm năng biệt hóa của MSC 10
Hình 3. Những giải thích khả dĩ cho tính mềm dẻo của tế bào gốc 11
Hình 4. Cấu tạo của dây rốn 16
Hình 5. Sơ đồ của một máy Flow cytometry điển hình 21
Hình 6. Dây rốn trẻ sơ sinh thu nhận từ bệnh viện Phụ sản Hà Nội 22
Hình 7. Sơ đồ tóm tắt quy trình thí nghiệm 26
Hình 8. Rửa bề mặt dây rốn bằng dung dịch muối Ringer 27
Hình 9. Bơm Collagenase vào trong tĩnh mạch dây rốn 28
Hình 10. Ủ dây rốn trong dung dịch Ringer ở 370C 28
Hình 11. Mát – xa dây rốn 29
Hình 12. Tế bào 2 ngày nuôi cấy in vitro sau khi phân lập 32
Hình 13. Kết quả phân tích quần thể tế bào phân lập từ lớp lót tĩnh mạch bằng
phương pháp dòng chảy tế bào 33
Hình 14. Tế bào sau 7 ngày nuôi cấy chọn lọc dòng tế bào gốc 35
Hình 15. Tế bào sau 14 ngày nuôi cấy chọn lọc dòng tế bào gốc 36
Hình 16. Quần lạc tế bào gốc trung mô sau 16 ngày nuôi cấy 37
Hình 17. Kết quả phân tích quần thể tế bào sau 16 ngày nuôi cấy và chọn lọc 37
Hình 18. Quần lạc tế bào gốc trung mô sau 40 ngày nuôi cấy 38
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Danh mục hình minh họa
Hình 19. Kết quả phân tích quần thể tế bào sau 40 ngày nuôi cấy và chọn lọc 39
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Danh mục bảng
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Dữ liệu về sự biểu hiện chỉ thị bề mặt của MSC 8
Bảng 2. Lịch sử phát triển của Flow cytometry 18

MSCs rất dồi dào và luôn sẵn có vì chúng là rác thải sinh học sau khi em bé ra đời.
MSCs có thể được phân lập từ các nguồn khác nhau trong dây rốn, đó là máu,
Wharton’s jelly (lớp mô đệm của dây rốn), màng lót và lớp nội mô tĩnh mạch dây rốn.
Trong số đó, phân lập MSCs từ tĩnh mạch dây rốn là hướng đi mới nhất và đang được
nghiên cứu rộng rãi.
MSC được phân lập từ các nguồn khác nhau không đại diện cho một quần thể tế
bào đồng nhất. Hiện nay, vẫn chưa có cách nào đơn giản để xác định MSC bằng một
dấu hiêu đơn nhất. Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá sự thuần
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Mở đầu
nhất của quần thể tế bào gốc trung mô được phân lập từ lớp lót trong tĩnh mạch dây rốn
trẻ sơ sinh trong nuôi cấy in vitro“ nhằm đánh giá sự biểu hiện các marker bề mặt của
MSC trong từng giai đoạn nuôi cấy từ đó chủ động nguồn tế bào gốc trung mô phục vụ
cho các nghiên cứu tiếp theo.
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ
1.1.1. Định nghĩa tế bào gốc trung mô
Tổng hợp từ các kết quả nghiên cứu trước đó, Soufiane Ghannam đã đưa ra ba
tiêu chuẩn sau để định nghĩa MSC [27]:
• Là một quần thể các tế bào tăng sinh in vitro, bám dính vào bề mặt nhựa, có
khả năng phát triển thành các quần lạc dạng nguyên bào sợi.
• Không biểu hiện các chỉ thị bề mặt CD11b, CD14, CD34, CD45 nhưng biểu
hiện CD73, CD90, và CD105.
• Có khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào trung mô có nguồn gốc khác
nhau gồm xương, mỡ, sụn.
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu tế bào gốc trung mô
“Trung mô” là thuật ngữ để chỉ mô liên kết thưa đang phát triển của một phôi,
chủ yếu bắt nguồn từ trung bì, và tạo ra phần lớn các tế bào của mô liên kết ở cơ thể

in vivo thì ở trạng thái nghỉ. Những nghiên cứu cấy ghép sử dụng các ống khuếch tán
có chứa CFU–F nuôi cấy của giống chuột khoang vào xoang trong phúc mạc của động
vật chủ tạo nên sự hình thành xương, điều mà không thu được khi cấy ghép nguyên bào
sợi thu từ tụy. Phát hiện này đã được chứng minh và mở rộng bởi những nhà nghiên
cứu khác, với những chứng minh về sự hình thành xương, sụn và các mô sợi bên trong
ống khuếch tán được tiêm vào cùng với các nguyên bào sợi từ tủy xương được nuôi
cấy [37].
Friedenstein (1980) còn chỉ rõ, CFU–F đã được hình thành từ những tế bào đơn
lẻ, một số CFU–F này còn có thể hình thành cả xương lẫn vi môi trường cần thiết cho
sự hình thành những phân tử tạo máu. Điều này đã dẫn đến khái niệm về sự tồn tại của
một loại tế bào chất nền không biệt hóa nằm ở tủy xương, có khả năng hình thành cả
xương và sụn; tuy nhiên không thể loại trừ khả năng có tồn tại các tế bào gốc đã định
hướng, mà mỗi tế bào tạo ra một loại tế bào chuyên hóa khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn
đề này, các dòng nguyên bào sợi đơn lẻ được cấy ghép vào lớp dưới vỏ thận. Khoảng
15% số quần lạc được cấy ghép tạo ra một cơ quan tủy xương bao gồm mô tạo xương,
các tế bào mỡ thông thường và các tế bào chất nền tủy xương. Bởi vậy, các quần lạc
bắt nguồn từ một tế bào đơn nhất có khả năng tạo ra nhiều dòng tế bào khác nhau [37].
Khái niệm về việc tế bào gốc đa tiềm năng bắt nguồn từ chất nền nằm ở tủy
xương đã được chính thức đưa ra lần đầu tiên bởi Owen năm 1978. Ông cho rằng các
loại tế bào biệt hóa nằm trong chất nền tủy xương có thể bắt nguồn từ một tế bào tiền
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
thân hay tế bào gốc chung, tương tự các nhân tố tạo máu trong tủy xương. Trên cơ sở
giả thuyết này, ông cũng đã mở rộng và đề xuất mô hình chi tiết hơn, trong đó các tế
bào gốc, tế bào tiền thân được định hướng, và tế bào trưởng thành đều xuất hiện trong
chất nền tủy xương, với khả năng biệt hóa thành các tế bào lưới, nguyên bào sợi, mỡ,
và tế bào tạo xương, Vào năm 1991, Caplan tiếp tục mở rộng học thuyết này và cho
rằng tế bào gốc hay tiền thân chung đó có khả năng biệt hóa thành tất cả các tế bào
thuộc dòng trung mô, cụ thể là các tế bào cơ, sụn, gân, xương, mỡ và nguyên bào sợi
chất nền. Ông là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Tế bào gốc trung mô”, tuy nhiên

phân lập từ các nguồn khác nhau có những khác biệt trong sự biểu hiện của những chỉ
thị phân tử bề mặt nhất định [64], tiềm năng tăng sinh và biệt hóa [28, 47].
Trong các nguồn trên thì dây rốn là nơi có thể thu nhận được nhiều quần thể
MSC nhất. Gần đây, một số nhóm thành công trong việc phân lập MSC từ nhiều vị trí
khác nhau của dây rốn. Romanov và cộng sự (2003) đã tìm ra phương pháp chọn lọc
MSC từ qui trình phân lập tế bào nội mô tĩnh mạch dây rốn ở người và Baksh (2007)
báo cáo nghiên cứu so sánh cho thấy rằng MSC phân lập từ tĩnh mạch dây rốn tăng
sinh nhanh hơn và khác biệt tiềm năng so với MSC phân lập từ tủy xương. Vì vậy, tĩnh
mạch dây rốn được cho là một nguồn hứa hẹn của MSC [50].
1.1.4. Các đặc điểm của MSC
1.1.4.1. Khả năng tự đổi mới
Một trong những đặc trưng của tế bào gốc là khả năng tự đổi mới, tạo ra những
tế bào con giống hệt với tế bào mẹ qua một quãng thời gian dài (thậm chí toàn bộ đời
sống của sinh vật) [23, 52].
Hình 1. Khả năng tự đổi mới của MSC
Các tế bào gốc phân chia liên tục, một trong hai tế bào con giữ các vẫn giữ các đặc điểm của
tế bào gốc trong khi tế bào còn lại phân chia thành các tế bào gốc đa tiềm năng có định
hướng và từ đó hình thành các tế bào chuyên hóa [46].
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
Theo các tác giả Reyes và Colter thì MSC thu được từ tủy xương ở người là một
quần thể hỗn hợp nhiều loại tế bào khác nhau. Chúng gồm ba loại tế bào có hình thái,
sinh lý, biểu hiện chỉ thị bề mặt, khả năng tăng sinh và biệt hóa khác nhau: các tế bào
nhỏ thuôn dài có khả năng tăng sinh cao, các tế bào lớn hơn phẳng hoặc h́nh đa giác có
khả năng tăng sinh chậm và các tế bào nhỏ tăng sinh rất nhanh mà được cho là các tế
bào gốc sớm nhất và có tiềm năng biệt hóa mạnh nhất (MAPC) [14, 30, 48].
Trong điều kiện nuôi cấy in vitro, MSC ban đầu bám vào bề mặt chai nuôi cấy
và có hình dạng giống nguyên bào sợi, chúng phát triển thành những quần lạc đối xứng
sau 5 đến 7 ngày nuôi cấy. Mật độ tế bào nuôi cấy ban đầu không chỉ ảnh hưởng đến
sự tăng sinh của MSC mà còn ảnh hưởng đến hình thái của chúng. Khi tế bào sinh

được phân lập cho đến nay [30]. Chúng có thể được phân biệt với các tế bào trưởng
thành hơn nó nhờ sự có mặt của các epitope bề mặt đặc hiệu và các protein được biểu
hiện như thụ thể cho nhân tố sinh trưởng nội mô mạch máu 2 (vascular endothelial
growth factor receptor 2–VEGFR–2), thụ thể tyrosine kinase, thụ thể transferrin và
annexin II. Các tế bào này không biểu hiện Stro–1 [19, 48].
Trong điều kiện nuôi cấy in vitro, sự biểu hiện của một số kháng nguyên có thể
bị thay đổi, do những điều kiện nuôi cấy đặc biệt và thời gian trước mỗi lần cấy
chuyển. Thú vị là, một số kháng nguyên được biểu hiện trên MSC ngay sau khi phân
lập, nhưng sau đó lại biến mất trong khi duy trì, ví dụ như CD34. Phân tử CD34 biểu
hiện trên MSC thu được từ phôi thai chuột, nhưng không biểu hiện in vitro khi nuôi
cấy [22]. Điều này có thể giải thích là do sự biểu hiện của phân tử này biến mất trong
quá trình trưởng thành. Các phân tử có hiện tượng tương tự như trên là các thụ thể
chemokine như CCR1, CCR7, Việc thay đổi trong kiểu hình của MSC có liên quan
đến việc tăng số tế bào dừng lại ở G0 và sự kích thích của con đường chết theo chương
trình [9].
Sự thay đổi trong biểu hiện kháng nguyên cũng được thể hiện ở các MSC trải
qua quá trình biệt hóa. Ví dụ, phân tử CD166 trình diện trên MSC chưa biệt hóa nhưng
lại biến mất khỏi các tế bào đã trải qua quá trình biệt hóa thành tế bào xương. Hơn nữa,
các dòng tế bào thu được từ các mô khác nhau có thể khác nhau đôi chút về các phân
tử bề mặt. Ví dụ như MSC phân lập từ mô mỡ có thêm CD49d, CD62e và CD31 so với
MSC phân lập từ tủy xương [34].
Bảng 1. Dữ liệu về sự biểu hiện chỉ thị bề mặt của MSC
Loại chỉ thị
Tên chỉ thị
Dương tính Âm tính
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
Kháng nguyên
đặc hiệu
SH2, SH3, SH4, Stro–1,

endoglin (CD105), hyaluronate
(CD44), CK18, CK19
ICAM –3 (CD50), E–selectin
(CD62E), P–selectin (CD62P),
PECAM –1 (CD31), vWF,
Cadherin 5
Các chỉ thị khác
CD9, CD13, Thy–1 (CD90),
HLA–ABC (MHC I) (thấp)
HLA–DR (MHC II)
Đây là những dẫn liệu thu được từ các nhóm nghiên cứu của Pittenger, Minguel,
Majumdar, Wagner [37].
1.1.4.3. Tiềm năng biệt hóa của MSC
Ngay từ sau khi phát hiện được MSC vào những năm 1960, người ta đã bắt đầu
nghiên cứu về tiềm năng biệt hóa của nó trong in vitro. Trong những nghiên cứu ban
đầu, các nhà khoa học đã chứng minh được rằng MSC phân lập từ tủy xương của
người, chó, thỏ, chuột có khả năng biệt hóa thành các tế bào có nguồn gốc trung bì.
Mới đây, qua nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng ta biết được rằng
MSC không chỉ có khả năng biệt hóa thành các tế bào có nguồn gốc từ trung bì mà còn
có thể biết hóa thành nhiều loại tế bào có nguồn gốc từ cả ba lá phôi, gồm cả nguyên
bào xương, tế bào sụn, tế bào mỡ, nguyên bào sợi, nguyên bào cơ và tế bào cơ tim, tế
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
bào gan, tế bào nội mô, và thậm chí là cả tế bào thần kinh [30, 35, 38, 43, 50]. Hiện
tượng này được gọi là “Tính mềm dẻo của tế bào gốc” .
Hình 2. Tiềm năng biệt hóa của MSC
Tế bào gốc trung mô có khả năng biệt hóa thành các tế bào có nguồn gốc khác nhau như
nguyên bào xương, tế bào sụn, tế bào mỡ,… thậm chí là tế bào thần kinh, tế bào cơ tim,…
[12].
Ít nhất có bốn giải thích khả dĩ cho tính mềm dẻo của tế bào gốc [62, 63] (Hình

complex – MHC) lớp I nhưng không biểu hiện MHC lớp II cũng như các phân tử đồng
kích thích như CD40, CD80 và CD86, những phân tử gây ra đáp ứng miễn dịch; bởi
vậy, cấy ghép MSC không yêu cầu phải có sự ức chế miễn dịch ở cơ thể nhận. Thêm
vào đó, MSC có thể điều hòa hệ thống miễn dịch thông qua kích thích hay ức chế sự
tăng sinh của các tế bào miễn dịch [60]. Ngoài ra, như đã đề cập, nguồn thu nhận MSC
là rất đa dạng, do đó dễ dàng tiếp cận với tế bào MSC mà không vấp phải những vấn
đề về mặt đạo đức hay pháp luật.
Với khả năng biệt hóa thành nhiều loại tế bào có nguồn gốc khác nhau, và với
các ưu điểm về đáp ứng miễn dịch, nguồn thu nhận,… MSC đã trở thành công cụ ứng
dụng cho các thử nghiệm lâm sàng trong y học tái tạo sửa chữa các mô, cơ quan bị sai
hỏng.
1.1.5.1. Các bệnh về tim
Điều trị lâm sàng bệnh tim bằng tế bào gốc bắt đầu với một số giai đoạn I và II
nghiên cứu sử dụng tế bào đơn nhân tủy xương. Một số giai đoạn I và II nghiên cứu
hiện đang sử dụng điều trị cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim giãn, và bệnh
thiếu máu tim cục bộ.
Hiện nay, chứng nhồi máu cơ tim là một trong những bệnh về cơ tim được quan
tâm nhất. Wang và cộng sự đã chứng minh rằng MSC của chuột tham gia vào quá trình
hình thành các tế bào cơ tim mới ở cá thể khỏe mạnh. Họ tiêm MSC thu được từ cùng
cơ thể, sau đó chứng minh được rằng các MSC đó có mặt ở tim, biểu hiện các chỉ thị
của tế bào cơ tim [66]. Nhóm của Tomita và cộng sự đã sử dụng mô hình động vật có
thương tổn ở tim và chứng minh MSC đã định cư ở mô bị tổn thương và biệt hóa thành
các tế bào tim hoạt động [56].
1.1.5.2. Các bệnh về xương
Có thể nói, một trong những bệnh về xương được nghiên cứu sớm và rộng rãi
nhất là hội chứng xương bất toàn (osteogenesis imperfecta – OI), gây ra bởi sai hỏng
của gen qui định collagen loại I, dẫn đến biến đổi cấu trúc của xương. Horwitz và cộng
sự năm 1999 là những người đầu tiên ứng dụng cấy ghép MSC vào chữa trị bệnh này.
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan

type I đã lấy lại gần 65% trường lực tối đa của gân bình thường [1].
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
1.1.5.5. Các bệnh về thần kinh
MSC được kiểm tra như là các tác nhân liệu pháp cho sự sửa chữa tổn thương
não. Nghiên cứu của Chopp và Li cho thấy rằng việc cấy ghép MSC tăng cường khả
năng phục hồi sau tai biến mạch máu não hay những tổn thương khác ở não. Thêm vào
đó, khi đồng nuôi cấy in vitro MSC với các tế bào gốc thần kinh, người ta quan sát
thấy, MSC có thể biệt hóa thành tế bào thần kinh [13].
Trong mô hình bệnh Parkinson, chuột cảm ứng được tiêm MSC biểu hiện
tyrosine hydrolase, đã biểu hiện sự cải thiện quan trọng trong chức năng não. Với mô
hình đột quỵ, chuột được tiêm MSC cho thấy sự cải thiện mô thần kinh [1].
1.1.5.6. Điều trị bỏng và tái tạo da
MSC cũng được sử dụng trong điều trị các khuyết hổng da, cũng như tái tạo da
trong những năm gần đây. Nhiều báo cáo đã điều trị thành công các khuyết hổng da
như bỏng, các vết loét khó lành trong các bệnh tiểu đường MSC sau khi tăng sinh, đã
có khả năng biệt hóa in vivo thành các tế bào cơ, tế bào sợi,… khi cấy chúng vào vết
thương [3].
1.1.6. Nghiên cứu MSC ở Việt Nam
Ở nước ta hiện nay, nghiên cứu về MSC vẫn còn rất hạn chế do đó chưa thể áp
dụng công nghệ MSC vào trong y học một cách rộng rãi. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã
đạt được những thành công bước đầu đáng ghi nhận.
Nhóm nghiên cứu của Mai Mạnh Tuấn từ bệnh viện Y học cổ truyền Trung
Ương và bệnh viện Saint Paul Hà Nội đã cấy ghép MSC trên màng Biobrane (Dow
Hickams Pharmaceuticals, Mỹ) vào những bệnh nhân bị bỏng, tổn thương trong phẫu
thuật ghép da, vết loét gan bàn chân, ngoài ra còn trên bệnh nhân được phẫu thuật thẩm
mỹ. Các kết quả đều cho thấy các vết thương đều lành nhanh hơn nhiều so với phương
pháp thông thường. Bệnh nhân được phẫu thuật thẩm mỹ cũng được làm đầy những vết
lõm và mờ nếp nhăn [3].
Năm 2005 PGS.TS. Phan Toàn Thắng phân lập thành công MSC từ màng lót

marker CD34, CD45 và HLA–DR. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng biệt hóa được
MSCs này thành các tế bào giống tế bào mỡ [4].
1.2. TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ TỪ TĨNH MẠCH DÂY RỐN
1.2.1. Cấu trúc dây rốn
Dây rốn là đoạn kết nối giữa rốn của thai nhi và nhau thai bám ở thành tử cung
của người mẹ, có vai trò là cầu nối giữa người mẹ và em bé để vận chuyển chất dinh
dưỡng từ người mẹ chuyển qua đứa trẻ.
Dây rốn thường có chiều dài 50 cm và dày 2 cm, có một tĩnh mạch và hai động
mạch bao quanh bởi các mô nhầy hay gelatin, còn gọi là chất nền Wharton (Wharton’s
jelly) và được bọc bởi màng ối. Có thể xác định ba vùng khác nhau của chất nền: vùng
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
dưới màng ối, chất nền Wharton, và lớp mô bao quanh các mạch máu. Vùng chất nền
Wharton gồm các phân tử collagen loại I, III, VI nằm ở trong những khoảng không
gian có hình dạng giống như rãnh. Xung quanh rãnh này là các phân tử collagen loại
VI, laminin và heparin sulfate proteoglycan. Các khoảng không gian chứa đầy chất nền
Wharton có dạng rãnh được bao quanh bởi các tế bào chất nền là các nguyên bào sợi
cơ mảnh có dạng ống biểu hiện vimentin, desmin và actin cơ trơn. Dây rốn giai đoạn
sớm chỉ có vimentin và desmin. Cấu trúc và thành phần của dây rốn giúp bảo vệ các
mạch máu khỏi bị nén và cũng có thể hỗ trợ quá trình trao đổi giữa máu dây rốn và
dịch ối [44].

Hình 4. Cấu tạo của dây rốn
Các nghiên cứu mới đấy chỉ ra rằng dây rốn là một nguồn giàu tế bào gốc. Có
hai loại tế bào gốc đã được xác định trong dây rốn: tế bào gốc trung mô từ chất nền,
tĩnh mạch, các vùng xung quanh và giữa các động mạch, vùng dưới màng ối và máu
của dây rốn; tế bào gốc tạo máu từ máu dây rốn [58]. Các tế bào gốc thu được từ dây
rốn và máu thai biểu hiện kháng nguyên bạch cầu người (human leukocyte antigen–
HLA) ở mức thấp và ít bị đào thải trong cấy ghép. Đây là nguồn tế bào gốc quan trọng
trong việc thay thế tủy xương khi không thể tìm được người cho có HLA phù hợp.

[17, 35, 43].
Cũng giống như MSC từ tủy xương, UV–MSC cũng có hình thuôn dài, dạng
giống như nguyên bào sợi. Khi nuôi cấy đạt mật độ cao, chúng hình thành các quần lạc.
Tốc độ nhân đôi của chúng là khoảng 2 lần mỗi 24h. Tiềm năng tăng sinh giảm sau 6–
20 lần cấy chuyển [17, 35, 43, 50].
Nguyễn Hồng Trường K52A Sinh học
Khóa luận tốt nghiệp 2011 Chương 1 – Tổng quan
Nghiên cứu kiểu hình miễn dịch của UV–MSC cho thấy chúng không biểu hiện
MySM (smooth muscle myosin), các kháng nguyên của tế bào mono hay đại thực bào,
vWF, PECAM–1, CD45, CD14, glycophorin A, HLA–DR, CD51/61, CD106 và
CD49d, biểu hiện ASMA, CD29, CD13, CD44, CD49e, CD54, CD90, HLA lớp I và
tạo ra fibronectin, collagen loại I trong chất nền ngoại bào [43, 50]. Kết quả này khá
giống với kết quả thu được từ MSC tủy xương và các nguồn khác [11, 15, 21, 29, 39].
Thêm vào đó, nhóm của Kestendjieva (2008) bằng phương pháp RT–PCR và
miễn dịch huỳnh quang đã cho thấy UV–MSC dương tính với survivin, hTERT và
Bcl–2. Việc biểu hiện cả survivin, hTERT và Bcl–2 đã chứng minh tiềm năng tăng
sinh, biệt hóa cũng như khả năng hình thành quần lạc của UV–MSC.[35] Việc điều hòa
giảm sự biểu hiện của survivin trong quá trình biệt hóa UV–MSC chứng tỏ rằng những
tế bào này mất khả năng tăng sinh sau khi biệt hóa [35].
Về tiềm năng biệt hóa, ngay từ nghiên cứu của mình Romanov và cộng sự đã
chứng minh được UV–MSC có thể biệt hóa thành các tế bào mỡ và xương.[50] Khả
năng này đã được chứng minh lại ở các nghiên cứu sau đó. Nhóm của Kestendjieva
(2008) còn phát hiện ra tiềm năng biệt hóa thành tế bào nội mô của UV–MSC.[35]
Năm 2005, nhóm của các nhà khoa học Iran đã thành công trong việc biệt hóa UV–
MSC thành tế bào cơ tim [32], đây là một hướng đi mới trong việc tìm phương pháp
chữa trị các bệnh về tim.
1.3. FLOW CYTOMETRY VÀ ÚNG DỤNG TRONG PHÂN TÍCH DI
TRUYỀN TẾ BÀO
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu Flow cytometry
Flow cytometry hay đếm tế bào theo dòng chảy là công cụ mạnh mẽ để đánh giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status