Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO
ĐạI HọC HUế
TRƯờNG ĐạI HọC Y DƯợC HONG B CN
NGHIÊN CứU TìNH HìNH TIÊM VắC XIN
PHòNG UốN VáN ở PHụ Nữ MANG THAI
PHƯờNG HƯƠNG LONG THàNH PHố HUế
Ngi hng dn lun vn
PGS.TS. inh Thanh Hu
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn đều có thật và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào.
Huế,ngày 20 tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Hoàng Bá Cần
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CBVC Cán bộ viên chức
DCL Dây chuyền lạnh
1.9. Vắc xin phòng uốn ván 8
1.10. Quản ly dây chuyền lạnh và vắc xin 10
1.11. Một số nét về địa điểm nghiên cứu 12
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1. Đối tượng nghiên cứu 13
2.2. Phương pháp nghiên cứu 13
2.3. Các chỉ số và biến số nghiên cứu 14
2.4. Thu thập số liệu 16
2.5. Phương pháp xử ly số liệu 18
2.6. Thời gian nghiên cứu 18
2.7. Đạo đức nghiên cứu 18
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
3.1. Một số Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu 19
3.2. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván của đối tượng nghiên cứu 21
3.3. Các yếu tố liên quan đến tiêm vắc xin phòng uốn ván 24
Chƣơng 4: BÀN LUẬN 28
4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 28
4.2. Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván khi mang thai 30
4.3. Các yếu tố liên quan đến thực trạng bà mẹ tiêm vắc xin phòng
uốn ván khi mang thai 32
KẾT LUẬN 38
KIẾN NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
hiện, nay đã có 9/9 Huyện, Thành phố và 150 xã, phường đã triển khai đầy đủ
[28]. Qua kết quả tổng kết chương trình TCMR của tỉnh năm 2010 cho thấy, tỉ
lệ tiêm vắc xin uốn ván cho PNMT đạt 92,8%, luôn đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS
[13].
Tuy UVSS đã được loại trừ hơn 5 năm qua, nhưng chúng ta không chủ
quan mà cần chủ động giám sát, đôn đốc và thường xuyên theo dõi tình hình
chủng ngừa và sự tiếp cận dịch vụ tiêm vắc xin phòng uốn ván, đặc biệt là ở
PNMT, nhằm nâng cao chất lượng của công tác phòng bệnh mà cụ thể là tỉ lệ
PNMT được tiêm đầy đủ vắc xin phòng uốn ván đạt yêu cầu và luôn đạt chỉ
tiêu loại trừ UVSS, góp phần trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức
khỏe nhân dân nói chung và chăm sóc thai sản nói riêng, phù hợp thực tế với
chiến lược hoạt động và phát triển của ngành y tế nước ta lấy “ y học dự
phòng làm gốc”. Chính vì những lẽ đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu dề tài:
“Nghiên cứu tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai
phường Hương Long thành phố Huế ”.
Với những mục tiêu như sau:
1. Xác định tỷ lệ tiêm vắc xin phòng uốn ván ở phụ nữ mang thai phường
Hương Long thành phố Huế.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván
cho phụ nữ mang thai.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
to hơn thân và nằm về một
đầu vi khuẩn nên vi khuẩn có
hình dạng giống như đinh
Ghim. Sự hình thành nha bào
nhanh hay chậm phụ thuộc
vào điều kiện nhiệt độ, tăng
lên trong điều kiện canh
thang có huyết thanh và
không có Glucose [33].
1.2. MỤC TIÊU CHƢƠNG TRÌNH TIÊM VẮC XIN PHÒNG UỐN
VÁN CHO PHỤ NỮ MANG THAI:
Tiêm vắc xin phòng uốn ván cho phụ nữ mang thai là một trong những
hạng mục bắt buộc của chương trình TCMR ở nước ta củng như trên thế giới,
nhằm mục tiêu hạn chế tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ tử vong do bệnh uốn ván gây ra.
Tiến tới loại trừ UVSS [3],[4].
1.3. ĐỐI TƢỢNG TIÊM CHỦNG:
Chương trình này phục vụ cho đối tượng PNMT và PNTSĐ (Lứa tuổi
trong độ tuổi sinh đẻ có thể chưa có thai lần nào thì được tiêm 5 mũi vắc xin
phòng uốn ván hoặc có thai lần đầu tiên thì được tiêm 2 mũi vắc xin phòng
uốn ván, lần mang thai kế tiếp thì được tiêm thêm 1 mũi nữa nếu chưa quá 5
năm tính từ lần đẻ trước, nếu đã quá 5 năm thì phải tiêm lại 2 mũi vắc xin
phòng uốn ván như lần mang thai đầu tiên) [3],[7],[9]. Trực khuẩn uốn ván
5
1.4. CHIẾN LƢỢC CỦA CHƢƠNG TRÌNH TIÊM VÁC XIN PHÒNG
UỐN VÁN CHO PHỤ NỮ MANG THAI:
Chương trình TCMR được áp dụng rộng rãi trên khắp toàn quốc với 2
4% năm 1991 lên 94% năm 2009 [17].
1.8. DỊCH TỂ HỌC VÀ LÂM SÀNG BỆNH UỐN VÁN:
1.8.1. Dịch tể học bệnh uốn ván:
Hơn một thế kỷ qua, kể từ ngày tìm ra trực khuẩn uốn ván, nhưng bệnh
uốn ván vẫn là vấn đề cần được quan tâm vì tỉ lệ tử vong cao khi đã mắc
bệnh, nhất là trẻ sơ sinh. Theo thông báo dịch quý II năm 1993, trẻ sơ sinh bị
bệnh uốn ván là 36,4%, lứa tuổi khác là 15,1% [11],[15].
Mọi người đều có thể mắc bệnh uốn ván. Ở các nước phát triển bệnh
uốn ván tương đối ít gặp và có tính chất tản phát, tỉ lệ chết/mắc theo tuổi từ
27% ở những người từ 40 – 49 tuổi, cho tới 80% ở những người trên 80 tuổi
[2],[8].
Qua số liệu năm 1993 và 2001 của hệ thống giám sát báo cáo
UVSS/chết tại 11 tỉnh khu vực miền Trung Vệt Nam cho thấy: Năm 1993 có
tới 235/317 tỉ lệ chết/mắc [11], năm 2001 có 70/93 tỷ lệ chết/ mắc [12]. Tỉ lệ
chết do UVSS chiếm 40% tổng số chết sơ sinh[9],[12].
1.8.2. Khả năng lây bệnh và lâm sàng bệnh uốn ván:
Uốn ván là bệnh nhiểm độc thần kinh Trung ương bởi độc tố của trực
khuẩn uốn ván, trực khuẩn này tồn tại trong môi trường bẩn, phân gia súc, gia
cầm và ngay cả trong ruột già của người[2],[30]. Chúng tồn tại trong thiên
nhiên rất lâu dưới dạng nha bào và xâm nhập vào cơ thể qua vết thương bẩn,
ở trẻ sơ sinh qua vết cắt rốn do dụng cụ cắt rốn mang nha bào uốn ván không
được tiệt trùng kỉ [5],[8].
7
Khi xâm nhập vào cơ thể chúng sinh ra ngoại độc tố, độc tố này vào
máu, tác động vào các bản vận động thần kinh – cơ, làm co cơ rồi dần dần
bệnh nhân co giật, hôn mê và tử vong. Tuy nhiên khi ta ăn phải nha bào uốn
ván thì trực khuẩn uốn ván sẻ bị phá hủy bởi acid ở dạ dày, do vậy chúng
không lây bệnh qua đường tiêu hóa [2],[6],[15].
1.9. DỰ PHÒNG BỆNH UỐN VÁN:
hoạt do EDWART JENNER phát hiện ra, đã có nhiều loại vắc xin được sản
xuất thử nghiệm thành công [22], một trong số đó là vắc xin phòng uốn ván.
Tại Việt Nam, từ năm 1986 trở về trước, áp dụng sản xuất vắc xin
phòng uốn ván theo phương pháp nuôi cấy cổ điển. Từ 1986 lại nay, nước ta
đã sản xuất vắc xin này theo phương pháp nuôi cấy trên nồi lên men, chủng
sản xuất có nguồn gốc từ Harward (Mỹ) mang số hiệu 40205, môi trường
nuôi cấy lấy độc tố là FMM(Fisek-Mueller-Miller), thành phần chính của môi
trường nuôi cấy là các acid amin từ nguồn N2-CaseTT (thủy phân Cazein),
dung dịch đường Glucose, muối NatriClorua, các Vitamin và một số chất
khoáng vi lượng. Nuôi cấy vi khuẩn trên nồi lên men 100 lít thu nhận độc tố,
tiến hành giải độc, tinh chế và cuối cùng hỗn hợp thành vắc xin DPT và vắc
xin TT[26],[33].
Công hiệu vắc xin DPT 120UI/ml và công hiệu vắc xin TT là 80UI/ml
[33].
Khi cơ thể đã được dùng giải độc tố uốn ván sẽ tạo được miễn dịch chủ
động và tình trạng miễn dịch được tồn tại ít nhất 10 năm sau khi tiêm chủng
đầy đủ, nếu được tiêm nhắc lại sau tiêm chủng đầy đủ sẻ tạo được miễn dịch
cao hơn, bằng cách cứ 01 năm tiêm nhắc lại 01 lần.
Tiêm vắc xin phòng uốn ván cho tất cả PNMT và PNTSĐ ở những
vùng có nguy cơ mắc UVSS là biện pháp quan trọng để phòng UVSS. Nếu
9
mẹ trẻ được phòng uốn ván đầy đủ thì trẻ đó cũng có miễn dịch uốn ván kéo
dài đến 1 tháng sau sinh [26]. Đây là miễn dịch thụ động được truyền qua
nhau thai với điều kiện bà mẹ đã được tiêm vắc xin phòng uốn ván ít nhất 2
liều trong khi mang thai lần đầu hoặc 1 mũi trong lần có thai tiếp đúng lịch
[29]. Như vậy tiêm chủng cho PNMT nhằm ngăn ngừa UVSS, đồng thời bảo
vệ bà mẹ không bị đe dọa bởi những nguy cơ do bệnh uốn ván khi sinh đẻ
trong điều kiện kém vệ sinh [31].
1.10.2. Các chế phẩm của vắc xin uốn ván:
Không có tác dụng
UV2
Ít nhất 4 tuần sau UV1
3 năm
80 – 90%
UV3
Ít nhất 6 tuần sau UV2
5 năm
95 – 98%
UV4
Ít nhất 1 năm sau UV3
10 năm
UV5
Ít nhất 1 năm sau UV4
Suốt thời kỳ sinh đẻ
98 – 100%
- Phụ nữ mang thai: Nếu có thai lần đầu, chỉ cần tiêm 2 mũi vắc xin phòng
uốn ván (Mũi thứ nhất tiêm càng sớm càng tốt khi có thai, mũi thứ 2 tiêm sau
mũi thứ nhất ít nhất 4 tuần và trước ngày sinh ít nhất 2 tuần). Nếu lần có thai
tiếp theo cách lần trước dưới 5 năm (với điều kiện lần mang thai trước đã
được tiêm vắc xin phòng uốn ván đầy đủ) thì chỉ cần tiêm 1 mũi vắc xin nhắc
lại là đủ, nếu đã quá lần mang thai trước 5 năm thì cần tiêm đủ 2 mũi vắc xin
phòng uốn ván như lần mang thai đầu tiên [4].
1.10.3. Kỷ thuật tiêm chủng:
Tiêm chủng được SALK định nghĩa như sau: “Tiêm chủng là nghiên
cứu và ứng dụng miễn dịch học vào công tác phòng chống các bệnh truyền
nhiểm bằng vắc xin” [20].
đảm bảo DCL
Vắc xin TT cùng dung môi phải được bảo quản ở ngăn mát của tủ
lạnh(2 – 8
0
C), không bỏ ở ngăn cánh tủ.
12
1.12. VÀI NÉT VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Phường Hương Long Thành phố Huế, nằm cách Trung tâm Thành phố
Huế 6 km về phía Tây, với tổng diện tích 720ha. Phường gồm 1850 hộ gia
đình, với 9850 nhân khẩu. Tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi)
là 2655 người, trong đó số phụ nữ đã có chồng là 1586 người[33].
- Phía Tây giáp với xã Hương Hồ, Hương An huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Phía Bắc giáp với phường Hương Sơ – Thành phố Huế.
- Phía Đông giáp với phường Kim Long – Thành phố Huế.
- Phía Nam giáp với sông Hương và phường Thủy Biều – Thành phố Huế.
Năm 1995, cán bộ và nhân dân phường Hương Long được Nhà nước
phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”.
Trạm y tế phường Hương Long nằm trên địa bàn Tổ 14, Khu vực 2
phường Hương Long Thành phố Huế, với diện tích 500m
2
. Năm 2008, Trạm
được công nhận là trạm Y tế chuẩn quốc gia, theo quyết định số 962/QĐ-
UBND ký ngày 21 tháng 4 năm 2008. Là đơn vị chịu trách nhiệm về công tác
tiêm chủng trên địa bàn phường, trong đó có tiêm vắc xin phòng uốn ván cho
phụ nữ mang thai.
kế sẵn, với nội dung câu hỏi sát, rõ ràng và cụ thể, có thái độ tôn trọng, thân
thiện và chú ý lắng nghe ý kiến của người dân.
+ Phương pháp gián tiếp: Thông qua sổ sách thống kê báo cáo của trạm Y Tế
phường Hương Long thành phố Huế.
14
2.2.2.Phƣơng pháp chọn mẫu:
2.2.2.1.Cách chọn mẫu:
Chọn tất cả các bà mẹ mang thai và bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại thời
điểm điều tra của phường Hương Long thành phố Huế.
2.2.2.2. Quy trình chọn mẫu:
Lập khung mẫu: Là bản danh sách gồm 256 bà mẹ mang thai và bà mẹ
có con dưới 1 tuổi của phường Hương Long thành phố Huế.
Trong khung mẫu có một số đối tượng vắng mặt khi chúng tôi điều tra,
do vậy nghiên cứu điều tra được 240 bà mẹ, trong đó có 107 bà mẹ mang thai
và 133 bà mẹ có con dưới 1 tuổi.
2.3.CÁC CHỈ SỐ VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU:
2.3.1. Đặc điểm dân số học của các bà mẹ:
- Tuổi của các bà mẹ được chia thành các nhóm:
+ 18 – 29 tuổi
+ 30 – 43 tuổi
- Nghề nghiệp chính của các bà mẹ được phân theo:
+ CBVC.
+ Buôn bán.
+ Làm ruộng.
- Trình độ học vấn của các bà mẹ được phân theo:
+ Tiểu học.
2.3.5. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tình hình tiêm vắc xin phòng uốn ván
khi mang thai:
Nghiên cứu mong muốn tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tình
hình tiêm vắc xin phòng uốn ván cho PNMT, gồm có các yếu tố:
16
- Mối liên quan giữa tiêm vắc xin phòng uốn ván và đặc điểm dân số học của
các bà mẹ được điều tra.
- Mối liên quan giữa tiêm vắc xin phòng uốn ván và sự hiểu biết về tiêm vắc
xin phòng uốn ván của các bà mẹ được điều t ra.
2.4. THU THẬP SỐ LIỆU:
Những đơn vị, cá nhân cần phải phối hợp để tiến hành lập kế hoạch và
điều tra:
+ Phòng Đào tạo Đại học - Trường ĐHYD Huế.
+ Giáo viên hướng dẫn làm luận văn.
+ Trung tâm YTDP tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Trung tâm YTDP thành phố Huế.
+ UBND phường Hương Long thành phố Huế.
+ Trạm Y Tế phường Hương Long thành phố Huế.
2.4.1. Công tác chuẩn bị:
- Phương pháp chọn hộ điều tra: Điều tra tất cả các hộ gia đình có bà mẹ
mang thai và bà mẹ có con dưới 1 tuổi.
- Hướng dẫn mẫu điều tra cho bà mẹ mang thai và bà mẹ có con < 1 tuổi.
- Đối tượng được điều tra: Tất cả các bà mẹ mang thai và bà mẹ có con dưới 1
tuổi (tháng 12 năm 2011).
- Sắp xếp, bố trí thời gian tiến hành điều tra (Theo lịch nhà trường ).
2.4.2. Tiến hành điều tra:
Điều tra 240 bà mẹ mang thai và bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại phường
Hương Long thành phố Huế vào tháng 12 năm 2011.
thể có một số bà mẹ chỉ mới tiêm được 1 mũi hoặc chưa được tiêm mũi nào
(do tuổi thai còn nhỏ), nên chúng tôi quy ước như sau:
18
+ Với bà mẹ mang thai lần đầu, nếu trong 3 tháng cuối của thai kỳ mà chưa
tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván.
+ Với bà mẹ đã có ≥ 1 con (Con nhỏ nhất dưới 5 tuổi) mà trước đó đã tiêm
vắc xin phòng uốn ván đầy đủ, nếu trong lần mang thai này chưa được tiêm
thêm mũi nào vắc xin phòng uốn ván.
+ Với bà mẹ có con < 1 tuổi, nếu khi mang thai đứa con này không được tiêm
vắc xin phòng uốn ván đầy đủ.
2.5. XỬ LÝ SỐ LIỆU:
Sử dụng phần mềm Excel, test
2
hiệu chỉnh của Yale và ngưỡng p = 0,05
2.6. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu được tiến hành trong một đợt, tháng 12 năm 2011.
2.7. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU:
Điều tra, phỏng vấn không gây tổn hại đến sức khỏe cho các bà mẹ ,
các bà mẹ có quyền đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không đồng ý mà
không cần phải giải thích.
Mọi thông tin cá nhân đều được giử bí mật.
2,9
10
69,2
17,9
Nghề nghiệp
CBVC
Buôn bán
Làm ruộng
43
87
110
17,9
36,3
45,8
Mức thu nhập
(Vnđ)
≥1.000.000
<1.000.000
110
130
45,8
54,2
Nhận xét: Từ bảng 3.1 thấy
- Độ tuổi dưới 30 chiếm phần lớn (57,5%).
- Đa số các bà mẹ có trình độ học vấn là THPT chiếm 69,2%.
- Nghề nghiệp là CBVC chiếm tỷ lệ 17,9%, buôn bán chiếm 36,3% và
làm ruộng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (45,8%).
- Số bà mẹ sống trong hộ gia đình có mức thu nhập bình quân
≥1.000.000vnđ /người/tháng chiếm tỷ lệ 45,8%.