1. Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về rủi ro
hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 5
2. Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về
rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam 7
3. Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán 10
4. Trình bày các phương thức đầu tư chứng khoán. Nhận xét của anh chị về hoạt động đầu tư
chứng khoán ở Việt Nam hiện nay 12
5. Trình bày thu nhập và phương pháp xác định thu nhập trong đầu tư chứng khoán theo các
phương thức đầu tư hưởng lợi, đầu tư nắm quyền kiểm soát và tạo lập thị trường 15
6. Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán 16
7. Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư hưởng lợi
17
8. Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức đầu tư nắm quyền
kiểm soát 18
9. Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị trường
19
10. Trình bày các phương pháp xác định chỉ số giá chứng khoán: Phương pháp Passcher;
Phương pháp Laspeyres; Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher; Phương pháp số bình quân giản
đơn; Phương pháp bình quân nhân giản đơn 19
11. Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả. Nhận xét của Anh (Chị) về mức
độ hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam 22
12. Trình bày các giả thuyết trong mô hình Markowitz 23
13. Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz 24
14. Trình bày ý nghĩa và phương pháp xác định đường biên hiệu quả 32
15. Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa của đường CML 34
16. Trình bày phương pháp xác định và ý nghĩa đường SML 36
17. Trình bày các giả thuyết của mô hình CAPM 39
18. Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình CAPM 41
19. Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định hệ số β 44
20. Trình bày nội dung cơ bản của mô hình CAPM mở rộng 46
21. Trình bày nội dung, ý nghĩa của mô hình APT 48
Mức hoàn lại; Khung giao dịch; Mức kháng cự và hỗ trợ; Điểm đột phá 95
44. Trình bày các hình mẫu kỹ thuật cơ bản trong phân tích kỹ thuật 97
45. Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết DOW 98
46. Trình bày các nội dung cơ bản của lý thuyết sóng Elliott 102
47. Trình bày những khó khăn trở ngại trong phân tích kỹ thuật. Nhận xét về hoạt động PTKT ở
Việt Nam 106
48. 1.Phân tích các phương pháp xác định rủi ro tài chính 110
49. 2.Trình bày khái niệm, phương pháp xác định thu nhập của tài sản tài chính 113
55. 3.Trình bày nội dung, ý nghĩa, phương pháp xác định tỷ lệ yêu cầu của nhà đầu tư 115
56. 4.Phân tích nội dung, ý nghĩa của giả thuyết thị trường hiệu quả 115
57. 5.Phân tích nội dung các giả định của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 115
58. 6.Phân tích ý nghĩa, phương pháp xác định đường thị trường vốn (CML) và đường thị
trường chứng khoán (SML) 115
59. 7.Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của mô hình định giá tài sản tài chính (CAPM) 115
60. 8.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích thị trường chứng khoán
115
61. 9.Khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích ngành 115
11. 10.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa và phương pháp phân tích công ty 119
12. 11.Trình bày kết luận, ý nghĩa, nội dung phương pháp phân tích báo cáo tài chính. Phân biệt
phân tích tài chính dưới giác độ DN và phân tích tài chính dưới giác độ TTCK 123
13. 12.Trình bày khái niệm, mục đích, ý nghĩa của phân tích kỹ thuật. Phân tích các điều kiện
ứng dụng phân tích kỹ thuật trên TTCK Việt Nam 125
14. 13.Phân tích các giả định trong phân tích kỹ thuật 127
15. 14.Trình bày các công cụ sử dụng trong phương pháp kỹ thuật, các hình mẫu kỹ thuật, các
chỉ dẫn kỹ thuật và các chỉ số động lượng, phân tích khối lượng giao dịch 128
16. 15.Phân tích cơ sở lý luận của phân tích kỹ thuật 139
20. 16.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DDM 139
21. 17.Trình bày các nội dung cơ bản mô hình DCF 140
1. Phân tích các loại rủi ro hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh (Chị) về
rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Để giảm rủi ro thị trường, các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường hoạt động đào
tạo ,bồi dưỡng kiến thức cho nhà đầu tư, đồng thời cần minh bạch hóa về thông tin, kiểm soát
chặt chẽ nhằm hạn chế các hành vi phi đạo đức như thao túng giá, kinh doanh nội gián, đầu cơ.
Cần phát triển hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán cũng như tăng số lượng và chất
lượng của các nhà đầu tư có tổ chức nhằm tăng chất lượng đầu tư.
2) Rủi ro lãi suất là sự biến động giá chứng khoán do sự thay đổi của lãi suất gây ra. Khi đầu tư
vào các chứng khoán có thu nhập cố định, nếu lãi suất thị trường tăng lên, cơ hội đầu tư vào các
tài sản có mức lợi tức cao hơn sẽ mất đi. Trong đó sự tăng lên của lãi suất, giá thị trường của tài
sản đã đầu tư sẽ bị giảm và nhà đầu tư sẽ bị thiệt về giá khi bán các tái sản đó. Thời hạn của các
tài sản đầu tư càng lớn, ảnh hưởng của lãi suất tới giá thị trường của nó sẽ càng lớn, mức độ tổn
thất giá trị của chủ đầu tư sẽ càng cao. Điều này ít xảy ra với các chứng khoán có thu nhập biến
đổi, chẳng hạn trái phiếu có lãi suất thả nổi.
Lãi suất thay đổi làm cho chi phí và doanh thu của doanh nghiệp thay đổi. Sự thay đổi này
phụ thuộc vào cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của DN. Nếu DN sử dụng nhiều nợ, lãi suất
tăng lên làm tăng chi phí lãi vay phải trả và làm cho lợi nhuận của DN sụt giảm, giá cổ phiếu
giảm và ngược lại.
Để hạn chế rủi ro lãi suất, nhà đầu tư cần nghiên cứu đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến lãi
suất bao gồm: chu kỳ kinh tế, lạm phát, sự thay đổi trong chính sách tiền tệ của CPhủ, quan hệ
cung cầu về vốn trên thị trường tài chính…. Để dự báo được sự thay đổi của lãi suất trong tương
lai; sử dụng các công cụ dẫn suất như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
3) Rủi ro sức mua là sự thay đổi giá trị thực của chứng khoán do sự thay đổi sức mua của
đồng tiền. Nếu lạm phát vượt qua tỷ lệ lạm phát dự tính, giá trị thực của đồng tiền sẽ bị giảm và
làm cho giá trị thực của khoản đầu tư bị giảm giá trị.
Nếu coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, một người mua cổ phiếu đã bỏ lỡ cơ hội
mua hàng hóa hoặc dịch vụ trong suốt thời gian đầu tư. Trong khoảng thời gian đó, nếu giá cả
dịch vụ tăng , nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua. Thông thường các nhà đầu tư dự kiến trước
mức độ mất giá của đồng tiền qua tỷ lệ lạm phát dự kiến và họ sẽ chỉ chấp nhận đầu tư khi lợi tức
thu được bù đắp cho họ tổn thất này. Khi lạm phát thực tế khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến, rủi ro
sức mua sẽ phát sinh. Nói một cách khác. Cả giảm phát và lạm phát đều tác động tới giá chứng
khoán do đó nhà đầu tư sẽ yêu cầu tỷ lệ lợi tức khác đi.
7,0% từ 1/12/09 lên thành 8,0% .Việc thay đổi lãi suất nhanh như vậy ảnh hưởng không nhỏ đến
lợi nhuận cũng như quyết đinh đầu tư của các nhà đầu tư.
Để TTCK VN giữ đc mức tăng trưởng ổn định, yếu tố phát triển bền vững cần được xem
xét và thể chế hóa bằng các quy phạm pháp luật và chính sách phát triển của thị trường trong dài
hạn.
2. Phân tích các loại rủi ro phi hệ thống trong đầu tư chứng khoán. Bình luận của Anh
(Chị) về rủi ro phi hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk) là những yếu tố tác động gắn liền với từng công ty
riêng biệt, như rủi ro kinh doan, rủi ro tài chính của công ty đó, mà không ảnh hưởng đến các
công ty khác (trừ các công ty lớn). Để giảm thiểu rủi ro loại này, nhà đầu tư thường đa dạng hoá
danh mục của mình. Do vậy, rủi ro phi hệ thống còn được gọi là rủi ro có thể đa dạng hoá
(diversifiable risks).
Rủi ro phi hệ thống= Rủi ro DN – Rủi ro hệ thống
1) Rủi ro kinh doanh là sự không chắc chắn về thu nhập của DN do bản chất của hoạt động
kinh doanh. Sự không ổn định hay không chắc chắn này bắt nguồn từ những khó khăn trong các
khâu khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh như chi mua nguyên vật liệu đầu vào, tiêu
thụ sản phấm.
Rủi ro kinh doanh được đo bằng các sai lệch của các dòng thu nhập thời gian qua.
RRKD= Độ lệch chuẩn của các luồng thu nhập hoạt động/ Thu nhập hoạt động trung
bình
BR=
n
i
i
n
Các tỷ lệ so sánh giữa thu nhập với chi phí cố định và chi phí trả lãi.
Khả năng thanh toán lãi vay = EBIT/Nợ phải trả
Cho biết công ty sử dụng bao nhiêu % trong tổng số thu nhập của mình để trang trải
các gánh nặng nợ nần.
Khả năng thanh toán nợ=(EBIT+Chi phí trả lãi thuê dự tính)/(Tổng chi phí trả lãi + chi
phí trả lãi thuê dự tính)
Các tỷ lệ so sánh dòng tiền với chi phí tài chính hoặc so sánh các dòng tiền với giá trị
sổ sách của các khoản nợ chưa trả.
(1) Tỷ lệ trang trải chi phí tài chính cố định bằng tiền mặt= (lượng tiền mặt ròng thu về từ
các hoạt động+ chi phí trả lãi+ chi phí trả lãi thuê dự tính)/(chi phí trả lãi+ chi phí trả
lãi thuê dự tính)
(2) Tỷ lệ dòng tiền mặt trên các khoản nợ phải trả lãi = Lượng tiền mặt ròng thu về từ các
hoạt động/(Tổng nợ dìa hạn+ Nợ phải trả lãi hiện hành)
Việc sử dụng nợ sẽ làm tăng nghĩa vụ tài chính đối với DN do phải trả vốn và lãi,
đồng thời do bị ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán, DN sẽ phải đối mặt với dòng tiền ra
lớn khi phải thanh toán nợ gốc và lãi. Khi DN k thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn,
DN sẽ gặp khó khăn về tài chính do uy tín sụt giảm, thậm chí đối mặt với nguy cơ phá
sản.DN k sử dụng nợ sẽ k có RRTC.
3) Rủi ro tỷ giá là khả năng biến động giá chứng khoán khi tỷ giá thay đổi.
Khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá trị của chứng khoán mua bằng ngoại tệ thay đổi, và thu
nhập của DN xuất- nhập khẩu thay đổi. Cụ thể: khi tỷ giá thay đổi sẽ làm cho giá vốn của DN
nhập khẩu thay đổi và chi phí lãi vay, khả năng trả nợ của DN vay nợ bằng ngoại tệ thay đổi.
Để hạn chế và khắc phục rủi ro tỷ giá các nhà đầu tư có thể sử dụng các công cụ phái sinh
như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn…
4) Rủi ro thanh khoản là sự bất ổn của giá chứng khoán khi điều kiện giao dịch thay đổi. Các
loại chứng khoán khác nhau sẽ có độ thanh khoản khác nhau. Nếu số lượng chứng khoán lớn,
lượng chứng khoán khả mại sẽ nhiều. Số lượng cố đông lớn, đặc biệt là cổ đông bên ngoài DN sẽ
làm tính thanh khoản cao hơn.
Sự thay đổi của tính thanh khoản chứng khoán có thể do tác động của những thay đổi
trong cấu trúc cổ đông; do sự thay đổi về tâm lý nhà đầu tư; do sự thay đổi về phương thức giao
cổ phiếu với giá trị gdich 3049 trên sàn HASTC.
Nguyên nhân: vì nền kinh tế nước ta chính thức mở cửa khoảng 23 năm,nền kinh tế còn
non trẻ.Các chính sách điều hành của NNước chưa thực sự linh hoạt với sự biến động bất thường
của nền kinh tế; hành lang pháp lý còn chưa hoàn thiện; năng lực hoạt động của các DN trong
nước chưa cao………………
3. Trình bày các phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Hai phương pháp đo lường rủi ro trong đầu tư chứng khoán cơ bản là: độ dao động và sử dụng
beta.
PP1 độ dao động: sử dụng chỉ tiêu phương sai và độ lệch chuẩn
1. Độ lệch chuẩn: σ=
PiRERi *))((
2
với i=1 đến n
Trong đó Pi: Xác suất của từng trạng thái
Ri: Doanh lợi kỳ vọng ứng với từng trạng thái
2. Phương sai của danh mục đầu tư
Ps
RpERsE
*[
))(((
2
2
s=1 tới n
Trong đó : E(Rs): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục ứng với các trạng thái
E(Rp): Doanh lợi kỳ vọng của danh mục
Ps: Xác suất xảy ra của các tình huống
w
r
w
r
p 2
2
1
1
**
)(***2
2
*
21
*
1
21
21
2222
2
rr
ww
ww
Cov
Cov(
rr
ji
;
)=
)(*)(
N
RmRmRiRi
Var (Rm) =
1
)(
2
N
RmRm
B3: Xác định β =
)(
),(
RmVar
RmRiCov
5.ƯL beta của chứng khoán chưa niêm yết
B1: Xác định tỷ trọng đầu tư theo ngành tại DN
B2: Tính beta của các ngàh hoặc DN điển hình
B3: Tính theo công thức :
j
j
i
w
*
chứng khoản phụ thuộc vào năng lực tài chính của nhà phát hành và quan hệ cung cầu của chứng
khoán trên thị trường. Hoạt động đầu tư chứng khoán là hoạt động phức tạp, đòi hỏi các nhà đầu
tư phải có trinh độ chuyên môn cao, am hiểu về thị trường, đồng thời phải có thị trường chứng
khoán phát triển, tạo ra sự sẵn có của các công cụ đầu tư có tính thanh khoản cao.
Các phương thức đầu tư chứng khoán:
1) Theo hình thức đầu tư:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động
đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy
tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà
nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Như vậy, đầu tư trực tiếp bỏ vốn vào các tài sản thực, do vậy làm tăng năng lực sản xuất của nền
kinh tế còn đầu tư gián tiếp thi không.
2) Theo thời hạn đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn: thương có kỳ hạn từ 1 năm trở xuống, chủ yếu là hoạt động đâut tư
ngân quỹ, hoạt động đầu tư hưởng lợi và hoạt động đầu tư phòng vệ.
Đầu tư dài hạn: có kỳ hạn trên 1 năm thường tập trung ở hoạt động đầu tư nắm quyền
kiểm soát, đầu tư góp vốn kinh doanh và hoạt động góp vốn của các nhà đầu tư chiến lược.
3) Theo mục đích đầu tư:
Đầu tư ngân quỹ: thường được thực hiện bới các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn.
Xuất phát từ nhu cầu thanh toán chi trả, nhu cầu dự phòng và dự trữ, thay vì phải nắm giữ một
lượng tiền khá lớn, các tổ chức kinh tế và các nhà đầu tư lớn thường đầu tư vào các chứng khoán
ngắn hạn có tính thanh khoản cao như: tín phiếu kho bạc, CDs, kỳ phiếu ngân hàng, thương
phiếu…
Đầu tư hưởng lợi: lợi nhuận từ hoạt động đầu tư có thể có từ lợi tức từ tài sản đầu
tư như cổ tức được phân phối hàng năm, hay lợi tức từ trái phiếu;chênh lệch giá chứng khoán và
các quyền lợi khác nếu có. Hoạt động đầu tư hưởng lợi có thể bao gồm:
Kinh doanh chênh lệch giá: là hoạt động mua bán chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi
nhuận trong ngắn hạn từ chênh lệch giá chứng khoán.
Hoạt động đầu cơ: là hoạt động đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ
bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới. Hiệu ứng này
đặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài.
Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng của
đám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí.
Trong khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng
giao dịch trái chiều.
Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần. Mà tính thanh khoản chính
là giá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính
năng huy động vốn) Khi tính thanh khoản trở nên mờ nhạt không còn mang tính quyết định thì thị
trường biến thành Casino. Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay
ra tiền, nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằng
điều này quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc.
Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và chỉ nhăm nhăm tới những thông tin
không xác thực ngoài luồng. Điều này thật sai lầm. Kiến thức khác thông tin. Kiến thức là một bộ
lọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp. Việc chỉ chăm chắm đào bới các
thông tin ngoài luồng không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi còn làm “loạn hết óc”
trong thời buổi thông tin bùng nổ. Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạn
trong các dòng chảy thông tin. Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳ
vọng cá nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của "hiệu ứng bầy đàn".
Năm 2009 Một yếu tố đáng chú ý trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ đầu năm tới
thời điểm này là sự khác biệt tương đối lớn giữa sự lên xuống của giá các cổ phiếu. Dường như,
các nhà đầu tư Việt Nam cuối cùng đã lựa chọn kỹ hơn khi mua cổ phiếu, thay vì mua theo cảm
tính như trước đây.Ngoài ra, nhờ giá cổ phiếu tăng, nhóm cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường
đủ lớn để các nhà đầu tư ngoại rót vốn cũng tăng lên. Hiện đang có 8 cổ phiếu có giá trị vốn hóa
từ 500 triệu USD trở lên, so với 4 cổ phiếu ở thời điểm cuối tháng 2.
Tuy nhiên, báo cáo của HSBC cũng cho thấy, các nhà đầu tư ngoại không phải là đối tượng
chèo lái đợt phục hồi này của thị trường chứng khoán Việt Nam. Lượng mua vào của khối ngoại
đã co lại tới mức gần như không có gì. Từ đầu năm tới nay, lượng mua ròng cổ phiếu Việt Nam
của khối ngoại chỉ là 3 triệu USD. Sau một thời gian bán ròng trong quý 4/2008, hoạt động của
các nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam về cơ bản gần như là trung tính,
nắm giữ qđ khả năng kiểm soát, biểu quyết của NĐT. Thông qua nắm q` kiểm soát các
NĐT lớn sẽ t/hiện tái cấu trúc qlis cty,thay đổi công nghệ, từ đó năng cao hiệu quả hđ và
cải thiện h/a cty trong mắt công chúng từ đó thực hiện bán CP trên TT tập trung or OTC
khi cp tăng giá,đó chính là thu nhập của họ.
Tạo lập thị trường: Là các NĐT,thường là các cty CK,NHTM đảm nhận tạo thị trường
trên tt OTC thực hiện mua bán theo y/cầu tạo tính thanh khoản cho CK. Thu nhập của họ
dc tạo ra từ cổ tức,trái tức,chênh lệch giá Ck,tiền hoa hồng khi thực hiện môi giới cho các
NĐT.
6. Phân tích mối quan hệ giữa thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Khi đầu tư vào cổ phiếu, các nhà đầu tư thường kỳ vọng vào hai loại thu nhập, đó là thu nhập
từ cổ tức và từ mức tăng thị giá cổ phiếu. Thu nhập của một khoản đầu tư là phần chênh lệch
giữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư và vốn gốc mà nhà đầu tư phải bỏ ra
ban đầu.
Rủi ro được định nghĩa như là một sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.
Theo các lý thuyết cũ, rủi ro là những yếu tố làm cho mức sinh lời giảm. hiện nay người ta
cho rằng cả mọi yếu tố làm cho thu nhập thay đổi so với dự tính dù là tăng hay giảm đều coi
là rủi ro.
Đầu tư vào cổ phiếu chứa đựng nhiều loại rủi ro bao gồm cả rủi ro hệ thống và phi hệ thống:
- rủi ro hệ thống bao gồm: + rủi ro tỷ giá
+ rủi ro thị trường
+ rủi ro lãi suất
+rủi ro sức mua
- Rủi ro phi hệ thống bao gồm: rui ro kinh doanh,rủi ro tài chính, rủi ro quản lý.
Cũng như các lĩnh vực đầu tư khác, trong đầu tư chứng khoán tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận
giữa mức thu nhập với mức rủi ro. Thu nhập càng cao thì mức độ rủi ro tiềm ẩn càng lớn.
Nếu sử dụng mô hình CAPM để phân tích thi ta cũng có CT:
ks = Rrisk free + Beta * (Rmarket - Rrisk-free)
với ks là lãi suất kỳ vọng trên cổ phiếu.
Trong đó:
* Beta là chỉ số phản ánh rủi ro thị trường của một cổ phiếu. Beta có thể được dự đoán dựa trên các số liệu quá
Phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát: là việc đầu tư vào loai chứng khoán cho phép NĐT có
quyền kiểm soát công ty phát hành thông qua quyền nhận thông tin, quyền tham dự và biểu quyết
tại ĐHCĐ. Số lượng cổ phiếu nắm giữ thường quyết định khả năng biểu quyết, kiểm soát của
NĐT. Một số NĐT lớn thường là NĐT tổ chức như DN hoặc ngân hàng lớn thường thực hiện
phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát.
- Thu nhập:
+ NĐT ngoài cổ tức và chênh lệch giá còn có quyền chủ động trong việc tạo lập thu nhập cho mình
thông qua việc nắm giữ quyền kiểm soát DN phát hành chứng khoán, tác động đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN.
+ Trong một số trg hợp, NĐT lựa chọn phương thức đầu tư nắm quyền kiểm soát vào các công ty
chưa phát triển, đặc biệt yếu kém về công nghệ quản lý. Thông qua nắm quyền kiểm soát, họ thực
hiện tái cấu trúc công ty, thay đổi quản lý, công nghệ từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động vả cải
thiện hình ảnh trong công chúng đầu tư và sẽ thực hiện bán cổ phiếu trên thị trường tập trung hoặc
thị trường OTC khi cổ phiếu tăng giá. Phương thức này có thể đem lại khoản lợi nhuân kỳ vọng
trong tương lai khổng lồ cho NĐT.
- Rủi ro:
+ giá CK trong hình thức đầu tư này thường cao, chi phí lớn
+ NĐT chịu tác động lớn trước những thay đổi trong hoạt động kinh doanh của DN phát hành CK
hơn các phương thức đầu tư thông thường khác.
9. Trình bày thu nhập và rủi ro trong đầu tư chứng khoán theo phương thức tạo lập thị
trường
Đầu tư theo phương thức tạo lập thị trường thường do các nhà tạo lập thị trường – trung gian tài
chính mua bán các công cụ tài chính hoạt động theo phương thức khớp giá, thực hiện chức năng đặt các
lệnh chào mua, chào bán, đảm bảo giao dịch của thị trường liên tục.
- Thu nhập
+ NĐT tạo lập thị trường với hai mục tiêu chủ yếu: Đảm bảo tính thanh khoản của thị trường và kiếm lợi
nhuận.
+ các nhà tạo lập thị trường tìm kiếm lợi nhuận thông qua hai hình thức sau
. Thứ nhất, đóng vai trò đối tác trong giao dịch, nếu lệnh đặt đến là lệnh mua NĐT sẽ bán CK tương ứng
nắm giữ. Nếu lệnh đặt đến là lệnh bán, thì ngược lại.
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số
thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số (cơ cấu chứng khoán
niêm yết) thời tính toán.
Các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); S&P500(Mỹ); FT-SE 100 (Anh) ; TOPIX (Nhật) ; CAC (Pháp);
TSE (Đài Loan); Hangseng (Hong Kong); các chỉ số của Thuỵ Sĩ, và Vn- Index của Việt Nam
áp dụng phương pháp này.
Phương pháp Laspeyres.
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ
phiếu niêm yết thời kỳ gốc. Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:
∑qo pt
I l =
∑ qo po
Trong đó: IL : Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
pt: Là giá thời kỳ báo cáo
po : Là giá thời kỳ gốc
qo: Là khối lượng (quyền số) thời kỳ gốc hoặc cơ cấu của khối lượng c (số lượng cổ phiếu niêm
yết) thời kỳ gốc
i: Là cổ phiếu i tham gia tính chỉ số giá
n: là số lượng cổ phiếu đưa vào tính chỉ số
Có ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ, DAX của Đức.
Chỉ số giá bình quân Fisher
Chỉ số giá bình quân Fisher là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá
Laspayres: Phương pháp này trung hoà được yếu điểm của hai phương pháp trên, tức là giá trị chỉ
số tính toán ra phụ thuộc vào quyền số của cả 2 thời kỳ: Kỳ gốc và kỳ tính toán
I F = Ö IP x I L
Trong đó:I F : Là chỉ số giá Fisher
IP: Là chỉ số giá Passcher
I L: Là chỉ số giá bình quân Laspeyres
11. Trình bày nội dung, ý nghĩa giả thuyết thị trường hiệu quả. Nhận xét của Anh (Chị) về mức
độ hiệu quả của Thị trường chứng khoán Việt Nam
Nội dung:
Thị trường vốn là hiệu quả nghĩa là chỗ nhà đầu tư được cung cấp thông tin đầy đủ, chi phí giao
dịch không đáng kể, không có những hạn chế đầu tư, và không có nhà đầu tư nào đủ lớn để ảnh hưởng
đến giá cả của một loại chứng khoán nào đó. Nói khác đi, giả định thị trường vốn là thị trường hiệu quả
và hoàn hảo.
Đầu tiên. Một thị trường hiệu quả nó đòi hỏi một số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường
với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, họ tiến hành phân tích và định giá các loại chứng khoán một cách hoàn
toàn độc lập với nhau.
Thứ hai là những thông tin mới về chứng khoán được công bố trên thị trường một cách ngẫu nhiên và tự
động, và việc quyết định về thời điểm công bố thông tin cũng độc lập lẫn nhau.
Thứ ba, đặc biệt quan trọng, là các nhà đầu tư luôn tìm mọi cách điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh
nhằm phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Giá chứng khoán được điều chỉnh một cách nhanh
chóng là bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cạnh tranh với nhau.
Cuối cùng, bởi tất cả các thông tin sẽ điều chỉnh giá chứng khoán, do đó những mức giá này sẽ phản ánh
tất cả các thông tin được công bố công khai tại bất kỳ thời điểm nào. Vì vậy, giá chứng khoán nào mà bất
biến tại mọi thời điểm có thể là do kết quả phản ánh sai thông tin và có thể mang lại rủi ro với người sở
hữu chứng khoán đó. Vì lẽ này, trong một thị trường hiệu quả, thu nhập kỳ vọng ẩn trong mức giá hiện
tại của chứng khoán cũng sẽ phản ánh rủi ro của nó.
Ý nghĩa:
Khi thị trường trở nên kém hiệu quả, quy luật cung cầu trên thị trường do NĐT cạnh tranh lẫn
nhau khai thác các hiện tượng đã được nhận biết để kiếm lợi nhuận. Và chính điều này sẽ đưa thị giá trở
về trạng thái cân bằng, đồng thời xóa bỏ hiện tượng đó.
Khi tham gia vào một thị trường hiệu quả, nhà đầu tư sẽ ít có cơ hội vượt trội hơn so với những
người khác vì hiệu quả của thị trường chứng khoán sẽ khiến cho giá của các cổ phiếu hiện có trên thị
trường luôn gắn kết và cung cấp các thông tin tương thích. Các chứng khoán sẽ được mua/bán, trao đổi
ngang giá trên các sàn giao dịch chứng khoán. Người chơi luôn được tin tưởng rằng thị trường đối xử
công bằng với tất cả mọi người.
Liên hệ:
-
Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong một khoảng thời gian nhất định.
ø
-
Tất cả các nhà đầu tư đều có cùng thời hạn đầu tư như nhau.
- Nhà đầu tư xem mỗi sự lựa chọn đầu tư như một phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi
kỳ vọng.
- Nhà đầu tư tối đa hoá hữu dụng kỳ vọng và đường cong hữu dụng của họ biểu diễn giá
trị hữu dụng biên giảm dần.
- Nhà đầu tư ước lượng rủi ro dựa vào phương sai của tỷ suất sinh lợi.
- Căn cứ quyết định của nhà đầu tư chỉ dựa vào tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro, vì vậy
đường cong hữu dụng của họ là một hàm của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ
suất sinh lợi.
13. Trình bày nội dung và ý nghĩa của lý thuyết quản lý danh mục đầu tư Markowitz
Công thức xác định tỷ suất sinh lợi:
Với một tài sản A, ta xác định tỷ suất sinh lợi thời điểm t như sau:
æ
P Div
ö
R ln
ç
At t
÷
At
ç
è
P
A,t 1
÷
Trong đó: R
)
i 1
(1.1)
Trong đó, W
i
= tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục
E(R
i
) = tỷ suất sinh lợi của tài sản thứ i.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản.
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản đôi khi ta còn gọi là
phương sai (độ lệch chuẩn) của một tài sản, được xác định như sau:
n
Phương sai:
2
å
R
E(R
i
) P
i
, trong đó: P
i
là xác suất của TSSL R
i
.
i
1