Chuyên đề thực tập 1 Toán Tài Chính
50
MỤC LỤC
Trang
Trang 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
DANH MỤC CÁC HÌNH 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
Bảng 1.1: Quyền số tính CPI của Việt Nam thời kỳ 2006 - 2014 22
Bảng 1.2: tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam thời kỳ 1986-2011
24
Hình 1.1: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1986 –
2011 25
Hình 1.2: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2004 -
2011 27
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 30
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG MÔ HÌNH VAR PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA
MỘT SỐ NHÂN TỐ TỚI CPI TẠI VIỆT NAM 43
Hình 3.2 : Cơ cấu đầu tư của khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI 44
Bảng 3.1 : Mức lương tối thiểu chung từ năm 2007 đến 2011 46
Bảng 3.2: Các nhân tố sử dụng trong mô hình VAR 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
Phụ lục 1: Kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu 63
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 2 Toán Tài Chính
50
Phụ lục 2: Bảng hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 70
Phụ lục 3: Bảng kiểm định nhân quả các cặp biến số 70
Bảng 2.2: Kết quả mô hình chuỗi thời gian phi tuyến 44
Bảng 3.1: Mức lương tối thiểu chung từ năm 2007 đến 2011 49
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 4 Toán Tài Chính
50
Bảng 3.2: Các nhân tố sử dụng trong mô hình VAR 52
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1986 – 2011 28
Hình 1.2: Tỉ lệ lạm phát và tốc độ tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2004 – 2011 29
Hình 3.1: Thâm hụt ngân sách, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài 2000-2010 46
Hình 3.2 : Cơ cấu đầu tư của khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và FDI 47
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 5 Toán Tài Chính
50
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển ổn định kinh tế và duy trì tăng trưởng luôn là mục tiêu và định hướng
của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam chúng ta - một nước có nền kinh tế chậm phát
triển thì việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao mang tính quyết định nhằm nâng tầm nền
kinh tế. Tuy nhiên vấn đề lạm phát lại đang là một trở ngại và thách thức để có thể đạt
được các mục tiêu đó.
Nhiều nghiên cứu đặc biệt là nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra lạm phát có cả
tác động tích cực lẫn tiêu cực tới đời sống xã hội, điều này tùy thuộc vào cấu trúc nền
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 6 Toán Tài Chính
50
kinh tế và khả năng thích ứng với sự thay đổi liên tục của lạm phát cũng như mức độ
50
- Lạm phát kỳ vọng: biến đại diện là mức tăng CPI các thời kỳ trước
- Tiền tệ: biến đại diện là mức tăng tổng cung tiền thị trường M2
- Tổng cầu: biến đại diện là mức tăng tổng giá trị sản xuất CN
- Giá lương thực: biến đại diện là mức tăng giá lương thực
- Giá vàng: biến đại diện là mức tăng chỉ số giá vàng
- Giá USD: biến đại diện là mức tăng chỉ số giá USD
- Giá xăng: biến đại diện là mức tăng giá xăng A92 trong nước
Thời gian lấy dữ liệu từ T1/2007 đến T12/2011 (theo tháng), nguồn số
liệu được tổng hợp từ website của Tổng cục thống kê và Phòng Nghiên cứu kinh
tế, Hội sở chính ngân hàng Maritime Bank.
• Sử dụng các mô hình Kinh tế lượng đã được học trong chương trình (đặc biệt là
mô hình VAR) để ước lượng, có tham khảo thêm một số tài liệu về kinh tế vĩ
mô để phân tích kết quả.
Phạm vi nghiên cứu
Do lạm phát là một đề tài nghiên cứu mang tầm vĩ mô với phạm vi kiến thức
rộng lớn, do khả năng và thời gian có hạn nên trong chuyên đề tốt nghiệp này em chỉ
tập trung vào phân tích một số nhân tố có ảnh hưởng lớn đến CPI, để từ đó đưa ra một
số kết luận, dự báo dựa trên các mô hình kinh tế lượng.
Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Trần Chung Thủy và các anh chị tại phòng
Nghiên cứu kinh tế, Hội sở chính NHTMCP Hàng Hải Việt Nam Maritime Bank đã
giúp đỡ em trong quá trình viết đề tài. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp,
bổ sung của các thầy cô giáo để chuyên đề thực tập của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 8 Toán Tài Chính
50
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 9 Toán Tài Chính
50
từng viết trong bộ "Tư bản" nổi tiếng của mình: "Việc phát hành tiền giấy phải được
giới hạn ở số lượng vàng hoặc bạc thực sự lưu thông nhờ các đại diện tiền giấy của
mình". Điều này có nghĩa là khi khối lượng tiền giấy do Nhà nước phát hành đưa vào
lưu thông vượt quá số lượng vàng bạc mà nó đại diện thì giá trị của tiền giấy giảm
xuống và tình trạng lạm phát xuất hiện.
Như vậy là lạm phát không có bản chất giai cấp mà chỉ có bản chất kinh tế. Nó
có tính thường trực, nếu không thường xuyên kiểm soát, không có những giải pháp
chống lạm phát thường trực, đồng bộ và hữu hiệu thì lạm phát có thể xẩy ra ở bất cứ
nền kinh tế hàng hoá nào với bất kỳ chế độ xã hội nào. Tuy nhiên việc tác động vào thị
trường không thể triệt tiêu hoàn toàn lạm phát mà chỉ kìm giữ nó ở một tỉ lệ nhất định,
vì lạm phát có quan hệ mật thiết với vấn đề thất nghiệp và tiền tệ. Và trên hết, lạm phát
luôn đi cùng với sự tăng trưởng kinh tế.
1.1.2. Phân loại lạm phát
Lạm phát thường được phân loại dựa trên 2 tiêu thức, đó là định lượng và định
tính.
1.1.2.1. Phân loại theo định lượng
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dưới 10%
một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động một cách tương đối. Trong thời
kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thường, đời sống của người lao động ổn
định. Sự ổn định đó được biểu hiện bằng việc giá cả tăng chậm, lãi suất tiền gửi không
cao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lượng lớn.
Tác động: đây là mức lạm phát mà bình thường các quốc gia phải trải qua và ít
gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Trong bối cảnh đó người dân vẫn sẵn sàng giữ
tiền để thực hiện giao dịch và ký các hợp đồng dài hạn tính theo đồng nội tệ, họ tin
rằng giá và chi phí của hàng hoá mà họ mua hoặc bán sẽ ko đi chênh lệch quá nhiều
trong tương lai gần.
- Lạm phát phi mã: là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh với tỷ lệ 2
khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, 1 USD có giá trị tương đương với 4 mark
Đức. Nhưng chỉ 10 năm sau, 1 USD đổi được tới 4 tỉ mark. Vào thời đó, báo chí đã
đăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này như sau: người ta vẽ cảnh một người
đẩy xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác cho thấy ngày đó
đồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như một loại nhiên liệu.
Một VD khác: nếu như cuối tháng 2/2008, lạm phát ở Zimbabwe là 165.000%
thì tới tháng 5/2009, con số này đã tiến sát 2.000.000%. Vào thời điểm cuối tháng
3/2008, người ta chỉ mất 15 triệu đô Zimbabwe để mua một ổ bánh mì, thì giờ đây họ
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 11 Toán Tài Chính
50
phải chi tới 600 triệu. Một chai dầu ăn 2 lít khi ấy có giá tới 5 tỷ đô, bằng một tháng
lương của một công nhân có thu nhập thấp.
Tác động: tốc độ và tỷ lệ của siêu lạm phát vượt xa lạm phát phi mã, tốc độ lưu
thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh và không ổn định, tiền luơng thực tế
của người lao động bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn
chính xác, các yếu tố thị trường bị biến dạng và hoạt động sản xuất kinh doanh lâm vào
tình trạng rối loạn, mất phương hướng. Tóm lại siêu lạm phát làm cho đời sống và nền
kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng.
1.1.2.2. Phân loại theo định tính
- Lạm phát cân bằng: là lạm phát tăng tương ứng với thu nhập thực tế của người
lao động, tăng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do
đó có thể không gây ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày của người lao động và đến nền
kinh tế nói chung.
- Lạm phát không cân bằng: tốc độ tăng giá không tương ứng với tốc độ tăng
thu nhập của người lao động. Trên thực tế loại lạm phát này cũng thường xảy ra hơn.
Khi đó mức sống thực tế của người lao động bị giảm sút.
- Lạm phát dự đoán trước: là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì
tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn. Loại lạm phát này có thể dự đoán
ra lạm phát).
Mô hình cổ điển về lạm phát theo lý thuyết lượng tiền dựa trên phương trình sau:
MV = PT (1.1)
trong đó:
M: là khối lượng cung tiền
V: là vòng quay của tiền
P: là mức giá chung trong nền kinh tế
T: là khối lương giao dịch thực (giả thuyết T bằng với sản lượng Y trong
nền kinh tế)
Trong bối cảnh này, tổng cung AS được giả định là cho trước ở mức độ toàn dụng, hay
nói cách khác, sản lượng đang ở tình trạng cân bằng dài hạn:
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 13 Toán Tài Chính
50
AS = Y (1.2)
với Y là tổng sản lượng thực được xác định bởi hàm sản xuất trong dài hạn. Trong khi
đó, tổng cầu AD được xác định như sau:
AD = (MV)/P (1.3)
Cân bằng trong thị trường hàng hóa và dịch vụ xảy ra khi AD = AS, nói cách khác là
tổng giá trị hàng hóa giao dịch (PY) phải bằng tổng lượng tiền cần thiết để thanh toán
(MV), tức là:
MV = PY (1.4)
Do vậy, từ phương trình (1.4) phương trình số lượng viết dưới dạng sự thay đổi tính
bằng % là:
lnV + lnM = ln P + ln Y (1.5)
% thay đổi M + % thay đổi V = % thay đổi P + % thay đổi Y (1.6)
% thay đổi P = % thay đổi M + % thay đổi V - % thay đổi Y (1.7)
Các nhà kinh tế học cổ điển và tân cổ điển giả định rằng V là một hằng số bởi
giá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của hệ thống tài chính mà điều này không phải
cao.
- Và nguyên nhân cuối cùng: do việc kiểm soát lượng cung tiền của NHTW còn
hạn chế: NHTW không kiểm soát được lượng cung tiền hợp lý, cung tiền tăng làm tăng
lãi suất, kích thích tăng đầu tư tư nhân từ đó làm tăng tổng cầu.
1.1.3.3. Lạm phát do chi phí đẩy
Là lạm phát xảy ra khi 1 số loại chi phí đồng loạt tăng lên trong toàn bộ nền
kinh tế ngay cả trong thời kỳ tài nguyên không được sử dụng hết.
Nếu nhìn trong đồ thị AD-AS, một cú sốc sẽ làm đường AS dịch chuyển lên
trên và sang bên trái. Trong bối cảnh đó, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế
đều biến động theo chiều hướng bất lợi: Y giảm, thất nghiệp và lạm phát đều tăng.
Chính vì vậy, loại lạm phát này được gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lam phát kèm
suy thoái. Trong trường hợp này, yêu cầu khôi phục lại trạng thái toàn dụng được đặt
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 15 Toán Tài Chính
50
ra. Thông thường chính phủ sẽ thực hiện chính sách gia tăng chi tiêu, giảm thuế hoặc
tăng cung tiền để tăng tổng cầu.
Có 3 loại chi phí có thể gây ra lạm phát là:
• Tiền lương: khi công đoàn thành công trong viêc đẩy tiền lương tăng cao, các
doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả là lạm phát xuất hiện. Vòng xoáy
đi lên của tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn và trở nên nghiêm trọng nếu chính
phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách nới lỏng tiền tệ.
• Thuế gián thu: việc chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất
cả các nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát. Ở đây, thuế gián thu đóng một
vai trò quan trọng vì chúng tác động trực tiếp tới giá cá hàng hóa. Nếu so sánh
với các nước phát triển là những nước có tỷ lệ thuế trực thu cao chúng ta có thể
nhận định rắng ở các nước đang phát triển, nơi mà thuế gián thu chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nguồn thu từ thuế thì thay đổi thuế gián thu dường như có tác
động mạnh hơn tới lạm phát.
) (1.8)
Trong đó:
Y: là mức sản lượng cung ứng trong ngắn hạn
Y*: là mức sản lượng tiềm năng
P: là mức giá thực tế
P
e
: là mức giá kỳ vọng
α: là hệ số biểu diễn độ dốc của đường tổng cung (0<α<1).
Mức giá kỳ vọng càng lệch so với mức giá thực tế sẽ làm tổng cung càng lệch
so với sản lượng tiềm năng. Theo phương trình này, một mức giá kỳ vọng cao giống
như một cú sốc cung bất lợi sẽ làm giảm sản lượng và tăng lạm phát.
Lạm phát do cầu thay đổi
Giả sử lượng cầu về một hàng hóa giảm đi, trong khi lượng cầu về một hàng hóa
khác lại tăng lên. Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất
cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm) thì hàng hóa mà lượng cầu
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 17 Toán Tài Chính
50
giảm sẽ vẫn không giảm giá, trong khi đó hàng hóa có lượng cầu tăng thì lại tăng giá.
Kết quả là mức giá chung tăng lên, từ đó sẽ dẫn tới lạm phát.
Lạm phát do xuất, nhập khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung hoặc sản phẩm được
huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm,
từ đó khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát sẽ nảy sinh do tổng cung và tổng
cầu bị mất cân bằng.
Ngược lại, khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước
cũng tăng. Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
Lạm phát do lãi suất
biến để đo lường lạm phát là:
1.1.4.1. Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator):
Chỉ số này dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩm quốc nội GDP. Nó là tỷ lệ
giữa tổng giá trị GDP theo giá hiện hành (GDP danh nghĩa) với tổng giá trị GDP của
năm gốc (GDP thực tế), từ đó xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay gọi
là GDP thực.
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 19 Toán Tài Chính
50
1.1.4.2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):
Là thước đo mức giá chung của một giỏ hàng hoá và dịch vụ điển hình mà
người tiêu dùng mua. Giỏ hàng hoá được ấn định đối với một năm cơ sở. Chỉ số CPI là
một chỉ số Laspeyres.
Cách tính chỉ số CPI không phải là cộng các loại giá cả lại và chia cho tổng khối
lượng hàng hóa mà là cân nhắc từng mặt hàng theo tầm quan trọng của nó trong nền
kinh tế thể hiện bằng tỷ trọng của nó (quyền số trong rổ hàng hóa tính CPI). Chỉ số giá
CPI thường được xem là phương pháp đo lường chi phí sinh hoạt liên quan tới giỏ
hàng hóa và dịch vụ điển hình được mua bởi người tiêu dùng. Việt Nam cũng như đa
số các nước trên thế giới trong những năm qua đã sử dụng chỉ số giá tiêu dùng CPI để
tính tỷ lệ lạm phát của quốc gia mình.
Chi tiết về chỉ số CPI cũng như thực tế về CPI tại Việt Nam những năm vừa qua
sẽ được trình bày trong những phần tiếp theo.
1.1.4.3. Một số chỉ số đo lạm phát khác:
Ngoài hai chỉ số chủ yếu trên người ta còn sử dụng một số các chỉ số khác để đo
lường lạm phát như:
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 20 Toán Tài Chính
tiêu dùng theo thời gian). Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này dựa vào một số
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 21 Toán Tài Chính
50
hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng, VD như: gạo, thịt, cá, hàng may mặc,
xăng dầu, vật liệu xây dựng, điện, nước, ). Giỏ hàng hoá được ấn định đối với một
năm cơ sở và có thể thay đổi cho phù hợp với tình hình.
Chỉ số CPI là một chỉ số Laspeyres, được tính bởi công thức:
CPI là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá. Sự thay đổi
của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức giá chung là Chỉ số
giảm phát GDP hay Chỉ số điều chỉnh GDP đã được đề cập ở phần trên).
1.2.2 Cách tính CPI tại Việt Nam:
Việc tính toán CPI ở Việt nam do Tổng cục Thống kê đảm nhiệm. Các bước
tính chỉ số CPI được thực hiện như sau:
Bước 1: Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, TCTK sẽ xác định lượng
hàng hoá và dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
Bước 2: Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá
điển hình tại từng thời điểm.
Bước 3: Tính chi phí để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượng nhân với
giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại với nhau
Bước 4: Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùng
bằng công thức sau:
CPI
t
= 100 x (Chi phí để mua giỏ hàng hoá thời kỳ t)/(Chi phí để mua giỏ hàng
hoá kỳ cơ sở).
Quyền số để tính CPI được Tổng cục thống kê tính toán dựa trên kết quả của
các cuộc điều tra mức sống dân cư và điều tra kinh tế hộ gia đình Việt Nam. Tính tới
4.03
3 III. May mặc, mũ nón, giày dép
7.21
7.28
4
IV. Nhà ở, điện, nước, chất đốt
và vật liệu xây dựng
10.01
9.99
5 V. Thiết bị và đồ dùng gia đình
8.62
8.65
6 VI. Thuốc và dịch vụ y tế
5.42
5.61
7 VII. Giao thông
9.04
8.87
8 VIII. Bưu chính viễn thông 2.73
9 IX. Giáo dục
5.41
5.72
10 X. Văn hoá, giải trí và du lịch
3.59
3.83
11 XI. Hàng hoá và dịch vụ khác
3.31
3.34
hầu hết giá cả của các nhóm hàng phi lương thực và nhiên liệu chỉ thể hiện một mức
tăng vừa phải.
- Còn nếu so sánh với một chỉ số tình lạm phát phổ biến khác là D
GDP
thì CPI
cũng có những nhược điểm: trong khi chỉ số điều chỉnh GDP phản ánh giá của mọi
hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước thì CPI chỉ phản ánh mức giá của mọi
hàng hoá và dịch vụ được người tiêu dùng mua. Sự khác biệt này đôi khi rất quan
trọng, ví dụ khi giá dầu tăng lên thì chỉ số giá tiêu dùng tăng nhiều hơn mức gia tăng
của chỉ số điều chỉnh GDP.
- Một sự khác biệt thứ hai giữa chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số CPI liên quan
đến việc gán quyền số cho các loại giá cả khác nhau. Giỏ hàng hoá khi tính CPI là cố
định (tại Việt Nam được thay đổi theo chu kỳ 5 năm), trong khi đó nhóm hàng hoá và
dịch vụ dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự động thay đổi theo thời gian. Sự khác
biệt này không quan trọng lắm nếu mọi giá cả đều thay đổi theo cùng tỷ lệ, song nếu
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy
Chuyên đề thực tập 24 Toán Tài Chính
50
chúng thay đổi với những tốc độ khác nhau thì cách gán quyền số rất quan trọng khi
tính tỷ lệ lạm phát, từ đó dẫn đến những sai lệch khi tính toán lạm phát từ 2 chỉ số này.
Tóm lại, dù vẫn có nhược điểm song trong các thước đo lạm phát thì CPI vẫn là
chỉ số quan trọng nhất và được quan tâm chú ý nhất. Nó cũng là chỉ số đo lường sự
thay đổi trong chi phí sinh hoạt được biết đến nhiều nhất. CPI được sử dụng để điều
chỉnh tiền lương, phúc lợi xã hội, lương hưu, thuế và các chỉ số kinh tế khác nữa. Nó
cũng cung cấp cho các nhà đầu tư các thông tin về những biến động có thể xảy ra trên
thị trường tài chính - nơi mà cổ phiếu có mối quan hệ cả trực tiếp và gián tiếp đối với
CPI. Nắm chắc chỉ số giá cả trong tay, các nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định đầu
tư phù hợp và bảo vệ mình bằng cách mua các công cụ đầu tư.
1.2.4 Thực tiễn về chỉ số CPI tại Việt Nam
(Nguồn: TCTK)
Dựa vào xu hướng biến động của tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng được thể
hiện trên Hình 1.2, chuyên đề sẽ phân thành 4 giai đoạn lạm phát như sau:
- Giai đoạn 1986-1991: giai đoạn lạm phát cao
GVHD: Th.S Trần Chung Thủy
SV: Chu Quang Huy