cải cách hành chính tại ủy ban nhân dân phường thuộc thành phố hà nội (qua thực tiễn tại ủy ban nhân dân phường thổ quan - quận đống đa - thành phố hà nội) - Pdf 18

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH 8
1.1. Cơ sở khách quan dẫn tới phải cải cách hành chính 8
1.1.1. Thực trạng nền hành chính nhà nước 8
1.1.2. Khủng hoảng kinh tế 10
1.1.3. Đòi hỏi của người dân trong xã hội dân chủ 10
1.1.4. Do sự phát triển của khoa học công nghệ 11
1.1.5. Xu hướng toàn cầu hóa 12
1.2. Mục tiêu của cải cách hành chính 13
1.2.1. Mục tiêu chung 13
1.2.2. Các mục tiêu cụ thể 14
1.3. Các nội dung của cải cách hành chính 15
1.3.1. Cải cách thể chế hành chính nhà nước 15
1.3.2. Cải cách thủ tục hành chính 15
1.3.3. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước 16
1.3.4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức
18
1.3.5. Cải cách tài chính công 19
1.3.6. Hiện đại hóa hành chính 19
1
1.3.7. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân
dân, huy động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân và xã hội
vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước

65
3.2.3. Cải cách nguồn nhân lực 68
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCHC : Cải cách hành chính
HĐND : Hội đồng nhân dân
QLNN : Quản lý nhà nước
TTHC : Thủ tục hành chính
UBND : Ủy ban nhân dân
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
1.1 Các lĩnh vực cần phải thực hiện TTHC ở cấp xã, phường
trên địa bàn thành phố Hà Nội
26
2.1 Trình độ văn hóa 43
2.2 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ 43
2.3 Trình độ lý luận chính trị 43
2.4 Trình độ quản lý hành chính nhà nước 43
2.5 Trình độ tin học 44
2.6 Trình độ cán bộ phường Thổ Quan 46
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ máy hành chính nhà nước trực tiếp thực thi quyền hành pháp, tổ
chức và điều hành mọi hoạt động trong đời sống xã hội theo pháp luật. Đó là

các lĩnh vực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và
thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểm định, giám định [ 4].
Ngày 07/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng là lúc mở ra những cơ hội và thách
thức không nhỏ cho nền hành chính nước nhà. Vì thế, yêu cầu về cải cách
càng trở nên bức thiết hơn lúc nào hết nhằm theo kịp sự phát triển của thế
giới. Bởi thế, Nghị quyết Trung ương 5 khóa X ngày 01/08/2007 về tiếp tục
đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
đã khẳng định một lần nữa: Phải tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho
mọi hoạt động của người dân và doanh nghiệp, phải tiến hành rà soát các thủ
tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định
sai trái, không phù hợp và nguyên nhân cụ thể để kiên quyết sửa đổi [ 18].
Cải cách TTHC lúc này đã được xác định là khâu đột phá để tạo ra một
sự thay đổi lớn trong hoạt động QLNN, điều này đã cho thấy được quyết tâm lớn
phải cải cách TTHC của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, cùng với việc thực hiện
Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001 - 2010, việc cải cách
TTHC đã gắn với cơ chế "một cửa" trên phạm vi toàn quốc, ngày 10-1-2007,
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án
đơn giản hóa TTHC trên các lĩnh vực QLNN giai đoạn 2007 - 2010 (gọi tắt là
Đề án 30), nhằm vừa tuân thủ cam kết của Việt Nam với Tổ chức Thương mại
Thế giới mà vừa để xây dựng một nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp,
6
hiệu quả, có hiệu suất cao, góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí và
đem lại cho nhân dân một sự phục vụ tốt hơn.
Trong bộ máy nhà nước chính quyền cơ sở là cầu nối giữa Nhà nước,
các tổ chức và cá nhân tại cơ sở, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước
để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ
trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở. Chính quyền
cấp xã hiện nay về cơ bản đã thể hiện được vai trò của mình tại cấp cơ sở, tuy

dung này như sau:
- Tô Tử Hạ: "Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức hiện nay", Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. Cuốn sách giới thiệu
kinh nghiệm xây dựng đội ngũ công chức của các nước trên thế giới và quá
trình hình thành, phát triển đội ngũ công chức nước ta từ sau cách mạng tháng
Tám. Nội dung cuốn sách giới thiệu và phân tích các hoạt động trong tổng thể
công tác quản lý công chức nói chung.
- Phạm Hồng Thái: "Công vụ, công chức nhà nước", Nxb Tư pháp, Hà
Nội, 2004. Cuốn sách tập trung giới thiệu những vấn đề lý luận về công vụ,
công chức trên cơ sở phân tích pháp luật thực định của Nhà nước ta từ năm
1945 đến nay và chỉ ra xu hướng điều chỉnh của pháp luật về công vụ, công
chức qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó có đi vào làm rõ và phân tích, đánh giá
các quy định pháp luật về công vụ, công chức ở nước ta, bao gồm các nội
dung tuyển dụng, tập sự, sử dụng và quản lý, quyền và nghĩa vụ, điều động,
kiêm nhiệm, thăng giáng chức, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, chế
độ hưu trí và chế độ thôi việc.
- Viện Nhà nước và pháp luật: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay", Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002. Đây là công trình thể hiện sự nghiên cứu sâu sắc của tập thể các
nhà khoa học đầu ngành về chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay.
8
- Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức: "Cải cách chính
quyền địa phương, lý luận và thực tiễn", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998,
đã nêu ra những cách thức CCHC chính quyền địa phương ở nước ta, trong đó
có chính quyền phường về tổ chức bộ máy, thể chế, tài chính, ngân sách, cán
bộ… Tuy nhiên, nội dung có liên quan đến chính quyền phường còn ít, chưa
đề cập sâu đến những nội dung dành cho chính quyền phường ở đô thị.
- Bùi Xuân Đức: "Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong giai
đoạn hiện nay", Nxb Tư pháp, 2004. Tác giả đề cập đến đổi mới cấp hành
chính bên dưới cấp thành phố và mô hình được tổ chức linh hoạt, không nhất

3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của CCHC tạo tiền đề đổi mới, nâng cao
hiệu quả cải cách ở nước ta.
- Đánh giá thực trạng CCHC ở phường thuộc thành phố Hà Nội hiện
nay từ đó nêu lên những hạn chế, yếu kém và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục
giải quyết.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả CCHC tại
UBND phường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác CCHC
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác CCHC
tại UBND phường thuộc thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác- Lênin, các phương pháp: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh
10
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp sau:
- Phân tích và đánh giá thực trạng CCHC tại UBND phường, tạo cơ sở
để đề xuất đổi mới hoạt động này tại thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả CCHC tại UBND
phường thuộc thành phố Hà Nội.
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập, trong quá trình CCHC tại Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở cải cách hành chính.
Chương 2: Thực trạng cải cách hành chính tại Ủy ban nhân dân
phường thuộc thành phố Hà Nội.

Chức năng, nhiệm vụ QLNN của bộ máy hành chính trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ ràng
và phù hợp. Sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật
rành mạch;
Hệ thống thể chế hành chính chưa đồng bộ, còn chống chéo và thiếu
thống nhất. TTHC trên nhiều lĩnh vực còn rườm rà, phức tạp, trật tự kỷ cương
chưa nghiêm;
Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, phương thức quản lý
vừa tập trung quan liêu vừa phân tán, chưa thông suốt, chưa có những cơ chế
chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công;
Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh
thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính. Phong cách làm
việc chậm đổi mới, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân còn tồn tại
trong một bộ phận cán bộ, công chức;
Bộ máy hành chính tại các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó
với nhân, không nắm chắc được các vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng bị
động khi xử lý các tình huống phức tạp [6, tr. 1-2].
Từ thực trạng nêu trên, công cuộc đổi mới ở nước ta đang đòi hỏi phải
củng cố và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và đặt ra yêu cầu đổi mới
đối với nền hành chính nhà nước. Nhân dân đòi hỏi và mong muốn được thực
hiện quyền làm chủ một cách hợp pháp và đầy đủ, được làm ăn, sinh sống
trong một môi trường an ninh, trật tự, dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu.
Sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
trong thời kỳ mới đòi hỏi Nhà nước mà trực tiếp là nền hành chính phải hoàn
thiện thể chế và nâng cao hiệu lực pháp lý theo cơ chế mới để đảm bảo cho
đất nước phất triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự
mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương, đa dạng đòi hỏi thể chế hành chính và
13
đội ngũ cán bộ, công chức phải thích ứng với pháp luật và trình độ quốc tế,

đề cập đến là mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được xác lập trên
nguyên tắc nào và nhà nước làm gì để đáp ứng nhu cầu của công dân. Một số
nước đã và đang áp dụng các nguyên tắc lấy công dân làm trung tâm của mọi
hoạt động và việc đáp ứng đòi hỏi của công dân là mục tiêu quan trọng trong
mọi chiến lược cải cách. Tuy nhiên, việc chuyển đổi từ một nền hành chính
"cai trị" sang nền hành chính "phục vụ dân" là một quá trình khó khăn mà
trước hết cần thay đổi tư duy về vai trò của nhân dân. Tăng cường sự tham gia
của nhân dân vào QLNN, tạo ra hệ thống quản lý mở, tạo cơ hội để nhân dân
có thể bày tỏ quan điểm của mình để hoàn thiện các chính sách, quyết định
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hành chính công.
1.1.4. Do sự phát triển của khoa học công nghệ
Những thành tựu của khoa học và công nghệ (công nghệ thông tin,
công nghệ sinh học…) đã tác động mạnh mẽ đến quá trình quản lý. Hiện đại
hóa nền hành chính trên thế giới đang được thực hiện bằng việc trang bị các
thiết bị kỹ thuật hiện đại như: máy tính, máy Fax, điện thoại vào các hoạt động
hành chính, nhất là hoạt động hành chính - văn phòng và thông tin điều hành
nhằm đảm bảo thu thập, xử lý và truyền thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác
và thuận lợi. Ngoài ra, nhiều quốc gia trên thế giới hướng tới việc xây dựng
chính phủ điện tử (E-Government) hoặc chính phủ kỹ thuật số (D-Government).
Thông qua Chính phủ điện tử sẽ cung cấp các loại thông tin của chính phủ
cho công dân, các doanh nghiệp ngay tại cổng Internet; Thực hiện trao đổi
thông tin giữa chính phủ và công dân, các nhà doanh nghiệp, các tổ chức khác
thông qua mạng dưới hình thức: thư điện tử (e.mail); hội nghị trực tuyến
(video-conference); đường dây nóng qua Internet; Cung cấp các loại dịch vụ
(dịch vụ hành chính/ pháp lý) cho công dân, doanh nghiệp qua mạng Internet:
đăng ký kinh doanh; cấp giấy phép lái xe; đăng ký, kê khai, nộp thuế; trả
thanh toán các dịch vụ khác; đơn đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn Điều
15
đó đòi hỏi Nhà nước buộc phải cải cách nền hành chính, sắp xếp lại bộ máy,
đổi mới phương pháp quản lí để theo kịp những tiến bộ chung của thế giới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đó, Việt nam đang trong thời kỳ chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều điều
kiện chưa đáp ứng được như trình độ phát triển nền kinh tế thị trường, hệ
thống pháp luật và thủ tục, cơ sở hạ tầng… chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Bởi vậy, Việt Nam cần nỗ lực nhằm thúc đẩy tiến trình chuyển đổi nền kinh
tế, mở rộng quan hệ đối ngoại đa phương và đa dạng hóa. Tuy nhiên, tiến
trình này đang gặp không ít trở ngại xuất phát từ sự yếu kém của hệ thống
quản lý hành chính. Do đó, cần tiếp tục CCHC trong đó đặc biệt chú trọng tới
chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức hành chính để thúc đẩy
quá trình hội nhập vào tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa. Việc tìm kiếm
các mô hình tổ chức nền hành chính nhà nước nhằm đem lại hiệu lực, hiệu
quả cao hơn luôn là mục tiêu ưu tiên của nhiều nhà lãnh đạo nhà nước khi lên
nắm chính quyền. Các Chính phủ luôn đưa ra các đề xuất nhằm thay đổi, cải
cách hoạt động quản lý của chính phủ sao cho phù hợp với xu thế vận động,
phát triển của môi trường trong đó nền hành chính tồn tại.
1.2. MỤC TIÊU CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.2.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu của CCHC nhà nước gắn chặt với công cuộc đổi mới chung
của đất nước. Công cuộc CCHC ở nước ta có mục tiêu là:
Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và
hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng một
nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện
đại; đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ
thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, phù
hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
17
hội nhập kinh tế quốc tế; đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và
bền vững của đất nước [2118, tr. 2].
1.2.2. Các mục tiêu cụ thể
Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp

của cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; Nền hành chính
nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt. Các cơ quan hành chính có trang
thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu QLNN kịp thời và thông suốt. Hệ
thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động.
1.3. CÁC NỘI DUNG CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay đang tập trung vào các nội
dung chủ yếu sau đây.
1.3.1. Cải cách thể chế hành chính nhà nước
Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế QLNN mới đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ
thống, tính khả thi của thể chế pháp luật gắn với mục tiêu cải cách, đơn giản
hóa các TTHC, đảm bảo công khai, minh bạch và tính dễ áp dụng trong thực
hiện các quan hệ nhà nước với dân. Công chức và cơ quan nhà nước chỉ được
phép làm những gì mà pháp luật quy định; Hai loại thể chế tiếp tục được ưu
tiên hoàn chỉnh là: thứ nhất, thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa - hội nhập kinh tế quốc tế; thứ hai, thể chế tổ chức, vận hành của bộ
máy Chính phủ và chính quyền các cấp phù hợp; Đồng thời, tiếp tục đổi mới
và hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành luật đủ cụ thể, rõ ràng, kịp thời, đúng quy định.
Có cơ chế hợp lý để nhân dân tham gia ý kiến, nhất là các đối tượng chịu sự
điều chỉnh của pháp luật sẽ ban hành [6, tr 6 - 8], [21, tr5].
1.3.2. Cải cách thủ tục hành chính
Tiến hành rà soát các TTHC trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ
tục, những quy định sai pháp luật, không còn phù hợp với thực tế để kiên
19
quyết sửa đổi. Các biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh cải cách TTHC thời gian
tới là tập trung chỉ đạo rà soát và cải cách mạnh mẽ các TTHC, tạo môi
trường thuận lợi nhất cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu
chính đáng của người dân, như: thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp;
đăng ký kinh doanh và cấp chứng nhận đầu tư; đầu tư xây dựng công trình, dự
án và nhà ở; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản; xuất, nhập khẩu; nộp

Xây dựng quy chế làm việc của Chính phủ chặt chẽ và thiết thực. Xác
định cụ thể nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ
tướng và từng thành viên Chính phủ, bảo đảm bao quát hết các chức năng,
nhiệm vụ của Chính phủ;
Tiếp tục đổi mới cơ cấu tổ chức của Chính phủ; hình thành bộ quản lý đa
ngành, đa lĩnh vực; giảm phù hợp số đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; khắc
phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ,
ngành; chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp.
Các bộ được hoàn thiện để làm tốt chức năng chủ yếu là xây dựng thể chế, chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đối với các lĩnh vực được phân
công; tổ chức chỉ đạo thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành.
Sắp xếp hợp lý cơ cấu bên trong của các bộ, bỏ cấp trung gian, giảm tầng nấc, xác
định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo, nâng cao trách nhiệm của từng
bộ phận và đề cao trách nhiệm cá nhân trong thực hiện công việc [21, tr. 6-7];
Đối với chính quyền địa phương, cần thực hiện phân cấp mạnh và
giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc
quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ
tài chính đối với trung ương; đồng thời hoàn thiện thể chế, pháp luật, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để bảo đảm sự quản lý tập trung, thống
nhất của Trung ương; Xây dựng và đưa vào thực hiện quy hoạch tổng thể đơn
vị hành chính các cấp để ổn định cơ bản các đơn vị hành chính ở cả ba cấp
tỉnh, huyện, xã; Xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương
21
trong hệ thống cơ quan nhà nước để bảo đảm tính thống nhất và thông suốt
của hệ thống hành chính nhà nước. Chính quyền địa phương được xây dựng,
tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực của Nhà
nước là thống nhất; Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ
những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Kiện toàn
hệ thống cơ quan chuyên môn của các cấp chính quyền [6], [21, tr. 7], [22].
1.3.4. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

1.3.5. Cải cách tài chính công
Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách, đồng thời phải bảo đảm tính
thống nhất của thể chế, luật pháp về ngân sách nhà nước và vai trò chủ đạo của
ngân sách trung ương; Nâng cao tính minh bạch, dân chủ và công khai trong
quản lý ngân sách nhà nước. Xây dựng thể chế giám sát tài chính đồng bộ và
hiệu quả; Thí điểm thực hiện cơ chế cấp phát ngân sách theo kết quả công
việc thay thế cơ chế cấp kinh phí cho cơ quan hành chính chủ yếu dựa vào chỉ
tiêu biên chế đối với cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp dịch vụ công;
Thực hiện cơ chế tổ chức và hoạt động (trong đó có cơ chế tài chính)
đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công theo hướng tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, thực hiện hoạch toán thu - chi không vì lợi nhuận tối đa và nhà nước
không bao cấp bình quân. Ban hành cơ chế tài chính thích hợp cho đơn vị sự
nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa và đơn vị sự nghiệp ngoài công lập; thực
hiện thí điểm cổ phần hóa một số đơn vị sự nghiệp công lập [6] [21, tr10] [22].
1.3.6. Hiện đại hóa hành chính
Chuẩn hóa theo tiêu chuẩn, từng bước hiện đại hóa trụ sở làm việc của
các cơ quan, tổ chức nhà nước các cấp. Hoàn chỉnh các mẫu quy hoạch, thiết
kế trụ sở từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và bộ, ngành Trung ương theo hướng
tổ chức các trung tâm hành chính, tạo thuận lợi cho người dân tới giải quyết
công việc, lấy vị trí giao dịch thuận lợi với dân làm trung tâm của các trụ sở -
tập trung vào nơi tổ chức giao dịch "một cửa liên thông - hiện đại".
23
Tin học hóa hành chính nhà nước, tiến tới xây dựng chính phủ điện tử.
Áp dụng triệt để việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính
các cấp làm cơ sở cho việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành kịp thời, chính xác các
nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền từ trung ương tới cơ sở và được xử lý một
cách hệ thống. Mặt khác, ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện công khai,
minh bạch các chính sách, pháp luật và quy định hành chính với người dân, tổ
chức, doanh nghiệp, tạo điều kiện nhanh nhất trong việc giải quyết các công việc
của dân, tránh các biểu hiện sách nhiễu, phiền hà và tham nhũng [6] [10][22].

xã; quận chia thành phường. Việc thành lập Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định [24 ].
Như vậy, cơ cấu tổ chức hệ thống hành chính nhà nước địa phương
bao gồm 3 cấp: Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương; Huyện, Quận, Thị
xã, Thành phố thuộc tỉnh và Xã, Phường, Thị trấn.
Chính quyền địa phương cơ sở là chính quyền được tổ chức ra nhằm
bảo đảm, bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân, nhân dân là đối
tượng cơ bản để chính quyền phục vụ. Dưới góc độ vai trò của nhà nước;
nhân dân chính là chủ thể của quyền lực nhà nước. Theo đó, chính quyền địa
phương cơ sở phải là chính quyền do nhân dân tổ chức ra, của nhân dân và
hoạt động vì nhân dân. Các bản Hiến pháp của Việt Nam, từ 1946, 1959,
1980 đến 1992 đều khẳng định Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân. Điều 2, Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001
khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Những biểu hiện căn bản của chính
quyền địa phương cơ sở là: về tổ chức do nhân dân tổ chức ra và chịu trách
nhiệm trước nhân dân; về hoạt động do cán bộ, công chức tiến hành phải xuất
phát trên nền tảng lợi ích của nhân dân và vì nhân dân để phục vụ.
Chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các quy định,
quyết định của Nhà nước, giải quyết những yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của
25

Trích đoạn Xác định rõ chế độ báo cáo, giải trình, trách nhiệm của người đứng đầu Đổi mới chính sách tạo nguồn cán bộ Ủy ban nhân dân phường Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phường Xây dựng chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức phường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status