1
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO YÊN BÁI
NG THPT HNG QUANG
SÁNG KIN KINH NGHIM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA
GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT HỒNG QUANGNhóm tác gi:
Trn Quang Thy Hing
Nguyn Xuân Tuyên P.hing
CSVC
: Cơ sở vật chất
CT
: Chỉ thị
CTĐ
: Chữ thập đỏ
GDCD
: Giáo dục công dân
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
GVBM
: Giáo viên bộ môn
GVCNL
: Giáo viên chủ nhiệm lớp
GVDG
: Giáo viên dạy giỏi
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HS
: Học sinh
KH-SGD&ĐT
: Kế hoạch Sở Giáo dục & Đào tạo
PCGD
: Phổ cập giáo dục
PPDH
: Phương pháp dạy học
SKKN
: Sáng kiến kinh nghiệm
THCS
:Trung học cơ sở
7
1 LÝ LUN CA V
7
1.1. Một số khái niệm của đề tài
7
1.2. Nguyên tắc XHHGD
9
1.3. Vì sao phải XHHGD
11
1.4. Vai trò của XHHGD
12
1.5. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về XHHGD
13
1.6. Những tồn tại trong công tác XHHGD ở nước ta hiện nay
15
2. THC TRNG CA V
17
2.1. Khái quát về sự phát triển GD - ĐT huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái
17
2.2. Thực trạng về hoạt động giáo dục ở trường THPT Hồng Quang-
huyện Lục Yên.
18
3. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN MANG LẠI HIỆU QUẢ
TRONG CÔNG TÁC XHHGD Ở TRƯỜNG THPT HỒNG QUANG
21
3.1. Nhóm biện pháp 01: Tuyên truyền
21
3.2. Nhóm biện pháp 2: Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để tăng hiệu
quả hoạt động và tạo uy tín trong cộng đồng nhằm làm tốt công tác
XHHGD
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
32
PHN TH BA: KT LUN
34
1. KẾT LUẬN
34
2. KHUYẾN NGHỊ
35
TÀI LIỆU THAM KHẢO
36
Phụ lục (ảnh về một số hoạt động được tổ chức trong quá trình thực
hiện nghiên cứu SKKN)
37-60
làm ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục của
trường và kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của địa phương. Vậy nguyên
nhân do đâu? làm thế nào để khắc phục?
Theo chúng tôi trong điều kiện đất nước còn nghèo nhưng việc huy động
nội lực của nhân dân để tham gia đóng góp trong công tác xây dựng cơ sở hạ
tầng lại đạt kết quả rất thấp mà nguyên nhân căn bản vẫn là tính trông chờ, ỷ lại
của thời kỳ quan liêu bao cấp còn sót lại của mỗi người dân nơi đây. Công tác xã
hội hoá vì thế kém phát triển. Không chỉ có thế, tập quán ngàn đời nơi vùng cao
này là sống bằng kinh nghiệm, nguồn sống chủ yếu của người dân là dựa vào
các sản phẩm có sẵn từ thiên nhiên, "cái chữ không quan trọng lắm, nó không ra
ngay cái tiền, cái chính là ngày hôm nay hái được bao nhiêu cái măng, hái được 6
bao nhiêu ngánh củi để mang ra chợ bán , mua cái gạo làm no cái bụng thôi,
thầy giáo đừng cưòi mình nhé" vì thế vệc học chỉ là thứ yếu.
Là người quản lý nhà trường chúng tôi nhận thấy việc đi sâu nghiên cứu
và đề ra được những giải pháp mang tính thực tiễn và khả thi để huy động tốt
mọi nguồn lực cùng xây dựng nhà trường và nâng cao nhu cầu về giáo dục cho
cộng đồng dân cư, của mỗi người dân trong việc tham gia đóng góp nội lực để
xây dựng trường, phù hợp với đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong
giai đoạn hiện nay, huy động con em tới trường, duy trì sĩ số học sinh và cùng
nhà trường nâng cao chất lượng dạy và học. Có như thế mới đưa nhà trường
phát triển nhanh, vững chắc, tạo được uy tín và niềm tin của xã hội.
Nhằm huy động mọi nguồn lực của cộng đồng tham gia giáo dục, giúp
BGH có cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch đúng đắn, phù hợp, hiệu quả. Đề
ra những chỉ tiêu, những biện pháp vừa sức. Tạo được niềm tin ở khả năng thực
hiện của mọi thành viên trong tập thể sư phạm, trong lãnh đạo chính quyền,
đoàn thể địa phương và của mỗi người dân, xây dựng nhà trường văn minh,
sạch, đẹp, làm cho học sinh yêu trường, yêu thầy, mến bạn, thêm ham thích hoạt
dục nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục trong nhà trường phổ thông.
Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, thực
hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục; khuyến
khích huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự
nghiệp giáo dục.
Muốn đẩy mạnh XHHGD phải tiến hành từ hai phía: Xã hội tham gia xây
dựng giáo dục, ngược lại giáo dục cũng phải đóng góp vào sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội, bởi vì tương tác giữa các thực thể bao giờ cũng là sự tác dụng
tương hỗ. Phải tạo ra mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường và xã hội thông
qua hoạt động và giao tiếp, vì vậy cần tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt
động xã hội dưới nhiều hình thức.
Trong mối quan hệ giữa giáo dục và xã hội thì giáo dục có chức năng tái
sản xuất xã hội. Chức năng cơ bản của giáo dục là "xã hội hoá cá nhân", tái sản
xuất những "con người xã hội". Nhờ được giáo dục các thế hệ trẻ kế tiếp sẽ là
những nguồn lực tham gia vào các lĩnh vực hoạt động xã hội kế thừa, cải tạo,
phát triển xã hội, tạo diện mạo mới cho xã hội. Tổ chức tốt hoạt động XHHGD
là việc làm thường xuyên và cần thiết, là nhiệm vụ quan trọng của các nhà
trường THPT.
- “Xã hội hoá giáo dục” có thể hiểu theo nghĩa sau:
+ Nhà nước giảm bớt vai trò của mình trong cung cấp nguồn tài chính cho
giáo dục mà không ảnh hưởng xấu đến giáo dục, phần trách nhiệm đó do nguời
dân đảm nhiệm và đủ sức đảm nhiệm.
+ Xã hội hoặc người dân nhận lấy phần trách nhiệm trong giáo dục cùng
chia sẻ chi phí, sức lực, trí tuệ với nhà nước, nhà trưòng và các nhà giáo.
+ Quyền lợi và trách nhiệm của phụ huynh gia tăng hay nói cách khác
quyền tự chủ của phụ huynh gia tăng, chi phí được chia sẻ dẫn đến xu hướng 8
người dân có quyền quyết định hoặc từ chối một dịch vụ giáo dục mà không
bền vững, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
Đối với cha mẹ học sinh, XHHGD là nhằm đảm bảo cho họ có quyền tự
do lựa chọn trường cho con em của mình. Phụ huynh có điều kiện kinh tế, muốn
con em của họ vào học ở những trường tốt hơn thì nhà nước tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp, tổ chức mở những cơ sở giáo dục tiện nghi, chất lượng cao 9
hơn để đáp ứng nhu cầu. Nhưng, XHHGD không có nghĩa là nhà nước phó thác
nhiệm vụ của mình cho các cá nhân, mà là tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia
vào giáo dục, miễn là họ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mọi thành viên trong xã
hội, để cho ai cũng được đến trường, ai cũng có điều kiện hưởng cơ hội học tập
như nhau
XHHGD là một trong những phương cách để nhà nước thực hiện mục tiêu
tạo điều kiện cho con em của mọi tầng lớp trong xã hội đều được đến trường,
không lợi dụng xã hội hóa để biến giáo dục, nhiệm vụ của nhà nước, thành một
ngành kinh doanh lấy lợi nhuận làm mục tiêu thay thế.
Tóm lại, XHHGD là một cách tiếp cận đến kinh tế thị trường và thực chất
là một quá trình huy động nguồn lực trong xã hội để phát triển các dịch vụ công
và làm cho nhiều người hơn được hưởng lợi từ các dịch vụ đó cũng như chịu
trách nhiệm nhiều hơn khi sử dụng dịch vụ.
1.2.
Trong thực tế, các nhà quản lý giáo dục cấp cơ sở chưa tập trung đúng
mức để khai thác nguồn lực mà chỉ chú trọng vào những đóng góp của phụ
huynh học sinh.
Hình mang tính minh họa mối quan hệ
giữa giáo dục với các thành tố xã hội
Để hiểu và thực hiện đúng vấn đề XHHGD cần nhận thấy có bốn nhóm
địa phương thì nội dung huy động phải là chủ trương, văn bản chỉ đạo, hoặc đất
xây dựng,
- Dân chủ: tạo môi trường công khai, bình đẳng để cộng đồng hiểu đúng
về giáo dục và nhà trường hơn, đồng thời góp phần thực hiện nguyên tắc “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” các hoạt động XHHGD để mối quan hệ
giữa nhà trường, gia đình và xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả
thiết thực.
- Luật pháp: XHHGD phải tuân thủ pháp luật Nhà nước, có nghĩa là cần
dựa trên cơ sở pháp lý. Ngược lại, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội,
cũng cần có những cơ sở pháp lý để triển khai cũng như để tham gia huy động
nguồn lực cho giáo dục.
- Phù hợp và thích ứng: Cán bộ quản lý giáo dục phải biết lựa chọn thời
gian thích hợp nhất để đưa ra một chủ trương XHHGD. Tuy nhiên, để thực hiện
nguyên tắc này là phải xây dựng cho được kế hoạch cụ thể và kế hoạch mang
tính định hướng, thực tế.
- Truyền thống, tình cảm: là sự khơi dậy và phát huy truyền thống hiếu
học, tôn trọng đạo lý, đề cao sự học, đề cao giá trị của học vấn của mỗi gia tộc,
dòng họ; niềm tin của cá nhân vào sự nghiệp phát triển chung của giáo dục, của 11
từng nhà trường để có thể huy động nhiều nguồn lực khác nhau chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục đào tạo.
- Kết hợp ngành - lãnh thổ: cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa
phương và ngành giáo dục, “nhà trường gắn liền với xã hội”.
- Giao tiếp: Có hai con đường giao tiếp đó là con đường chính thức (các
văn bản, công văn, đề nghị ) và con đường không chính thức (thông qua
nguyên tắc truyền thống và tình cảm).
- Kế hoạch hóa: kế hoạch hóa là một trong bốn chức năng quản lý và là
một chức năng mang tính chủ đạo trong quá trình quản lý của người Hiệu
Việc huy động và động viên đó mang tính chất xã hội sẽ tập hợp được
mọi lực lượng, tập trung các sức mạnh theo tinh thần và vật chất cho giáo dục
biến giáo dục thành sự nghiệp của quần chúng, làm cho giáo dục là của dân, do
dân và vì dân, đồng thời bảo đảm một cơ chế hợp lý đầy tính thực tiễn là dưới sự
quản lý của nhà nước. Điều đó có nghĩa là xác định vai trò của xã hội, của nhân
dân và vai trò của nhà nước trong từng trách nhiệm, kể cả sự đầu tư ngân sách.
1.4. Vai trò ca XHHGD
- XHHGD góp phần nâng cao tính chất nhân dân, bản sắc dân tộc của nền
giáo dục nước ta, tiếp tục khẳng định chân lý giáo dục là sự nghiệp của quần
chúng, đề cao một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Nó cũng là cơ hội
giáo dục quần chúng, qua thực tiễn nhằm nâng cao trình độ và năng lực giáo dục
và tự giáo dục của mỗi người dân, của mỗi tổ chức và lực lượng tham gia vào sự
nghiệp .
- XHHGD vừa tạo ra một “ xã hội học tập” vừa phát huy truyền thống của
dân tộc ta một dân tộc hiếu học và thực hiện được mong muốn của Bác “ ai cũng
được học hành” và phù hợp với xu hướng của thời đại “học tập thường xuyên”,
“học tập suốt đời”, giáo dục cho mọi người. Nó góp phần nâng cao dân trí đào
tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
- XHHGD sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát huy
hiệu quả xã hội của giáo dục. Sự tham gia của xã hội góp phần cụ thể hoá mục
tiêu giáo dục thích hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và
từng địa phương, góp phần mở rộng nội dung giáo dục cho sát với cuộc sống,
xây dựng nên môi trường thuận lợi cho việc giáo dục và đào tạo con người, tăng
cường lực lượng của người dạy và người học, tạo nhanh điều kiện vật chất và
tinh thần để nâng cao chất lượng giáo dục.
- XHHGD góp phần làm cho giáo dục phục vụ những mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội của đất nước địa phương. Giáo dục và kinh tế xã hội vốn có
những mối quan hệ manh tính quy luật. Sự tham gia của xã hội ở tầm vĩ mô
cũng như vi mô vào giáo dục sẽ làm cho giáo dục gắn với mọi mặt của đất nước
và từng địa phương, nhà trường sẽ gắn với xã hội, giáo dục gắn với cộng đồng,
trên cả nước trở thành một nền giáo dục cho mọi người, không phân biệt thành
phần dân tộc, địa bàn cư trú, giầu, nghèo, đảng phái, tôn giáo hễ là người Việt
Nam đều có quyền học tập bình đẳng.
- Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, vận động toàn dân chăm
sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục gia đình - nhà trường - xã hội. Tăng
cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể,
tổ chức kinh tế - xã hội, cá nhân đối với giáo dục.
- Đa dạng hoá các loại hình giáo dục. Ngoài hệ giáo dục chính qui còn có
giáo dục phi chính qui như các loại hình chuyên tu, tại chức, học từ xa….để mọi
ngưòi có thể lựa chọn hình thức học tập phù hợp với mình.
- Tăng cường đầu tư từ nguồn ngân sách, khai thác triệt để và sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát huy giáo dục.
Tuy nhiên, không nên hiểu xã hội hóa giáo dục một cách đơn giản dưới góc
độ huy động nguồn vốn đầu tư mà phải mở rộng ra nhiều góc độ, phạm vi khác
nhau: 14
Trước hết, là dưới góc độ của người đi học. XHHGD ở đây có nghĩa tạo
điều kiện để làm sao cho người đi học được tham gia vào việc quản lý của
trường cũng như xây dựng chương trình học tập, giảng dạy.
Ở một góc độ khác, XHHGD nhìn từ phía nhà giáo, nhà trường chính là
nhằm mục tiêu đảm bảo quyền tự do giảng dạy của họ hơn nữa. Còn dưới góc độ
phụ huynh, xã hội hóa giáo dục là nhằm đảm bảo cho họ quyền tự do lựa chọn
nơi học tập cho con em của họ. Nhưng một lần nữa cần lưu ý xã hội hóa giáo
dục không có nghĩa là nhà nước chuyển giao hay phó thác nhiệm vụ hiến định
của mình cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp, mà là tạo điều kiện để toàn xã
hội tham gia vào giáo dục, sao cho nó đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mọi thành
viên trong xã hội, sao cho ai cũng được đến trường, ai cũng có điều kiện hưởng
cơ hội vào đời như nhau.
đầu tư cho giáo dục. Ngân sách Nhà nước phải giữ vai trò chủ yếu trong tổng
nguồn lực đầu tư cho giáo dục". Như vậy, đóng góp đầu tư cho GD là việc được
Nhà nước khuyến khích chứ không được lợi dụng để rồi những người nghèo khó
không có tiền cũng phải đóng góp những khoản không có trong qui định.
1.6. Nhng tn ti trong công tác XHHGD c ta hin nay
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu cơ bản nhưng nền giáo dục nước ta
vẫn còn những bất cập và yếu kém:
- Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường còn thiếu thốn và lạc hậu. Mặc dù tình
hình cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường trong những năm gần đây đã có nhiều
cải thiện rõ rệt nhưng tính đến năm 2010 vẫn còn 10% số lớp học ở tình trạng
lớp học tạm, phòng học cấp 4 cũ nát, nhất là ở vùng sâu, vùng xa; thư viện,
phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học còn thiếu và
lạc hậu, nhất là ở các trường Đại học, Cao đẳng, THPT.
- Trong nhiều năm qua Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo cùng
với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực của quá trình phát
triển”. Tuy nhiên trong thực tiễn, quan điểm này chưa được hiểu một cách đầy
đủ để triển khai một cách thực sự hiệu quả ở mọi lĩnh vực. Nhiều bộ, ngành, địa
phương chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của giáo dục, chưa thấy hết trách
nhiệm đối với giáo dục nên chưa dành ưu tiên thỏa đáng tạo điều kiện phát triển
giáo dục. Một số địa phương còn sử dụng ngân sách giáo dục vào những hoạt
động không phục vụ mục đích giáo dục. Một số nhà lãnh đạo ít hiểu biết về giáo
dục nên chưa quan tâm đúng mức trong việc chỉ đạo việc đầu tư cho giáo dục.
- Trong khi tình hình kinh tế xã hội trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc và
trên thế giới đang diễn ra nhiều xu thế đổi mới giáo dục mạnh mẽ thì nhiều tư
tưởng chỉ đạo giáo dục ở nước ta vẫn còn xơ cứng, trì trệ. Chưa nhận thức đúng
mức sự cần thiết phải tập trung quản lý nhà nước đối với toàn bộ hệ thống giáo
dục quốc dân. Nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường chưa đầy
đủ nên chưa tạo được sự phù hợp của cơ chế quản lý giáo dục với cơ chế thị
trường. Tư tưởng trọng bằng cấp dẫn đến những thành tích giả tạo trong giáo
dục. Quan niệm đề cao kiến thức, coi nhẹ năng lực hoạt động của học sinh đã
17
2. THC TRNG CA V
2.1. Khái quát v s phát trin Giáo dc - o huyn Lc Yên
tnh Yên Bái.
2.1.1. Điều kiện địa lý và phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục Yên
Lục Yên là huyện miền núi của tỉnh Yên Bái cách thành phố Yên Bái 93
km về phía Đông Bắc và cách thủ đô Hà Nội 270 km.
- Vị trí địa lý: Phía Đông giáp huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang; phía
Tây giáp huyện Văn Yên; phía Bắc giáp huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang, phía
nam giáp huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái.
- Tiềm năng kinh tế: Lục Yên có tuyến quốc lộ 70 chạy qua nối Hà Nội -
Việt Trì - Yên bái - Lào Cai, giao thông thuận tiện. Đất đai ở Lục Yên thích hợp
trồng các loại cây như: hồng không hạt, cam, quýt, lúa …Lục Yên có 4 loài
động vật chủ lực là trâu, bò, lợn, cá.
- Diện tích: 807,3km2; Dân số: 105.104 người (năm 2008); Mật độ dân
cư: 130 người/km
2
; huyện lỵ: Thị trấn Yên Thế
Lục Yên có 24 đơn vị hành chính: 23 xã và 01 thị trấn , có 16 dân tộc sinh
Trường THPT Hồng Quang đóng trên địa bàn xã Động Quan huyện Lục
Yên dành cho con, em của các xã Động Quan, Trúc Lâu, Phúc Lợi, Trung Tâm,
Khánh Hoà, An Lạc, Tô Mậu… theo học với nhiều dân tộc thiểu số như: Tày,
Nùng, Dao…trong đó học sinh ngươpì Dao chiếm trên 65%. Đặc điểm tâm lý
người dân tộc thiểu số rất khác nhau và phức tạp, họ rất hay tự ái, tự ti, nhút
nhát, không mạnh dạn trong giao tiếp, không hay bộc lộ tình cảm riêng tư cho
người khác biết nên vấn đề đặt ra cho công tác XHH là: nắm vững đặc điểm tâm
lý học sinh dân tộc thiểu số là một vấn đề quan trọng. Trình độ dân trí còn nhiều
hạn chế và không đồng đều, đường giao thông đi lại khó khăn, nhiều học sinh đi
học xa nhà đến 15 - 30 km và phải ở trọ để học.
Trường THPT Hồng Quang được thành lập từ năm 2003, thực hiện nhiệm
vụ giáo dục cho các con em dân tộc thuộc các xã nói trên. Những năm gần đây
tỷ lệ học sinh lớp 9 vào học lớp 10 tại trường THPT Hồng Quang đạt 65%, trung
bình mỗi năm nhà trường có 18 lớp với số lượng học sinh là hơn 700 em. Tỷ lệ
học sinh tốt nghiệp THPT năm 2009 là 69%, năm 2010 là 100%, năm 2011 là
100%, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường cao đẳng, đại học năm sau cao hơn
năm trước và đạt trung bình khoảng 15- 20%.
2.2.2. Thực trạng quản lý công tác duy trì sĩ số ở trường
THPT Hồng Quang.
- Quy mô phát triển trường lớp: Năm học 2011 - 2012 nhà trường có 18
lớp với 737 học sinh
- Đội ngũ giáo viên: Nhà trường có 58 CB,GV,NV; tỷ lệ đạt chuẩn 100%
- Công tác xã hội hoá giáo dục chưa được sâu rộng, trình độ dân trí thấp,
phụ huynh học sinh ít quan tâm đến việc học tập của con em mình…. tinh thần,
thái độ, ý thức học tập của một bộ phận học sinh chưa cao, chưa xác định được
mục đích học để làm gì? học cho ai? chưa nhận thức được vai trò cần thiết, sự
đòi hỏi, yêu cầu của xã hội về trình độ kiến thức khoa học hiện đại trong thời đại
phát triển và xu hướng hội nhập quốc tế.
2009-2010
681
70
10,28
4
2010-2011
728
23
3,1
5
2011-2012
737
10
1,4
Số liệu học kì I
(Nguồn: Báo cáo sơ kết kì I năm học 2011-2012 của Trường THPT Hồng
Quang)
Từ bảng thống kê trên ta thấy 10.28% là số học sinh bỏ học năm 2009-
2010 của trường THPT Hồng Quang cao gấp gần 3 lần so với mặt bằng chung
của tỉnh (Tỉ lệ bỏ học ở bậc THPT năm 2009-2010 của tỉnh Yên Bái là 3.74%)
và 1,4% là số học sinh bỏ học tính đến thời điểm cuối học kì I năm học 2011-
2012 của trường THPT Hồng Quang. Mặc dù mới chỉ là số liệu của học kỳ I
nhưng đây cũng là kết quả đáng mừng với những nỗ lực duy trì sĩ số của tập thể
sư phạm nhà trường.
Việc duy trì số lượng là một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm vì
tỷ lệ học sinh bỏ học trong những năm học trước thường rất cao (năm học 2007-
2008 là 10,06%, năm học 2008-2009 là 4,12%, năm học 2009-2010 là 10,28%).
Hơn nữa việc học sinh bỏ học có thể kéo theo nhiều hệ lụy cả trước mắt lẫn lâu
vào chiều sâu, có tác động tích cực, hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng
giáo dục- đào tạo tại nhà trường.
2.2.5. Thực trạng về chất lượng giáo dục ở trường THPT Hồng Quang
khi bắt đầu thực hiện đề tài
Do CSVC nghèo nàn, phụ huynh ít quan tâm đến việc học hành của con
cái, công tác XHHGD chưa được quan tâm đúng mức và các nguyên nhân khác
nên chất lượng GD ở trường THPT Hồng Quang những năm trước đây được xếp
vào tốp cuối khối THPT của tỉnh Yên Bái. Với tỉ lệ học sinh có học lực giỏi
hàng năm không quá 0,6%, học sinh khá không vượt qua con số 15%, số còn lại
là trung bình, yếu, kém.Tỉ lệ lưu ban, thi lại trung bình mỗi năm là 10%. Không
có học sinh giỏi cấp tỉnh…
Chất lượng giáo dục đạo đức thấp, hiện tượng vi phạm luật giao thông xảy
ra thường xuyên, tỉ lệ đạo đức tốt + khá hàng năm không vượt qua con số 85%.
Vì chất lượng đào tạo thấp nên niềm tin của phụ huynh, cộng đồng đôí
với nhà trường ít, công tác XHHGD lại càng khó khăn hơn.
21
3. CÁC BIC HIN MANG LI HIU QU TRONG
CÔNG TÁC XHHGD NG THPT HNG QUANG
3.1. Nhóm bin pháp 01: Tuyên truyn
Công tác tuyên truyền, giáo dục phải đi trước, phải được quan tâm và đặt
đúng vị trí của nó bởi lẽ "tinh thần không thông thì mang bình toong cũng nặng"
khi thực hiện biện pháp này cần quan tâm các vấn đề sau:
: Đối tượng đầu tiên phải tuyên truyền đó là tập thể cán bộ, giáo
kế hay cho nhà trường.
- Đối với lãnh đạo, nhân dân địa phương, các đơn vị, các doanh nghiệp
trên địa bàn:
Xây dựng mối quan hệ tốt với lãnh đạo địa phương trên tinh thần tôn
trọng cao, thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức nhưng cần biết vận dụng sao cho 22
linh hoạt, không cứng nhắc. Ủng hộ bằng việc làm, tinh thần và cả vật chất cho
các hoạt động của địa phuơng nơi trường đóng….Tích cực tham mưu về các
biện pháp XHHGD cho lãnh đạo địa phương là trách nhiệm của hiệu trưởng,
không thể khoanh tay ngồi chờ sự giúp đỡ. Phải chủ động trong việc tham mưu
kế hoạch phát triển giáo dục nhà trường nói riêng và địa phương nói chung. Từ
kế hoạch đó, mới có thể nghĩ đến kế hoạch thực hiện phù hợp với thực tế đơn
vị, mới được địa phương hỗ trợ. Làm sao Công tác XHHGD trở thành nghị
quyết của Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương. Từ nghị quyết đó nhà
trường mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch hành động. Và cũng từ nghị quyết đó
mới huy động được sức mạnh tổng hợp của các ban ngành đoàn thể, mới kêu
gọi được sự đóng góp hỗ trợ của các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, các
đơn vị kinh tế đóng chân trên địa bàn, đặc biệt là sự đồng thuận, sự đóng góp
của từng PHHS.
Xây dựng, thiết lập mối quan hệ thân thiện với nhân dân địa phương bằng
nhiều hình thức: Chia xẻ khó khăn, động viên khích lệ, giao lưu văn hoá, nâng
cao chất lượng hoạt động dạy- học để tạo niền tin, uy tín…
Đối với các doanh nghiệp: thực hiện các hoạt động giao lưu kết nghĩa, kết
hợp tuyên truyền để họ hiểu về các nhu cầu của nhà trường, các thành công của
nhà trường, các khó khăn của trưòng từ đó nhận được sự cảm thông, sự đồng
cảm và sự ủng hộ đó là cái đích mà chúng tôi đã đạt được.
- Đối với các tổ chức đoàn thể của địa phương
Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, nhà trường tuyên dương kịp
+ Khuyến khích khen chê đúng mục đích, đúng việc, đúng lúc, tế nhị mà
hiệu quả.
+ Xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá thanh lịch, xây dựng tình thương
yêu đoàn kết.
3.2. S
Năng động, sáng tạo trong quản lý, điều hành, sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực nâng cao chất lượng giáo dục, uy tín thương hiệu nhà trường sẽ được
khẳng định, sử dụng nguồn lực được tốt thì chất lượng sẽ tốt. Muốn vậy, trước
hết phải phân công đúng người đúng việc, chẳng hạn việc phân công giáo viên
chủ nhiệm làm sao để chất lượng học sinh ngày một tốt hơn, phụ huynh yên tâm
hơn khi giao con em họ cho nhà trường, học sinh yêu trường hơn, có nhiều vui
hơn khi đến trường là một điều cần đặc biệt lưu tâm.
Ngay từ đầu năm học, dựa vào tình hình thực tế, yêu cầu của công việc,
kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn năm trước, dựa vào độ tin cậy của phụ
huynh với từng giáo viên của từng khối lớp nhà trường lựa chọn sàng lọc đội
ngũ để cử người tận tâm, tận lực với học sinh để cử làm chủ nhiêm. Phân loại
trình độ, năng lực của giáo viên để phân công theo từng khối lớp phù hợp, tạo
được thế mạnh cho giáo viên trong việc phát huy sở trường, năng lực chuyên
môn vừa có lợi cho họ, vừa có lợi cho công việc chung. Trong mỗi khối phải có
một giáo viên cốt cán để cầm trịch chuyên môn trong khối và là nòng cốt trong
công tác tự bồi dưỡng, cải tiến giảng dạy, phát huy sáng kiến kinh nghiệm của
đồng nghiệp mình. Được như thế phụ huynh học sinh tin tưởng nhà trường hơn,
ủng hộ nhiều hơn, đó là một chìa khoá cho sự thành công việc huy động cộng
đồng tham gia hoạt động giáo dục.
Kiện toàn lại các tổ chức đoàn thể theo tinh thần “đúng người đúng việc”,
hướng hoạt động của các đoàn thể nhà trường đi vào thực chất, có hiệu quả.
Đồng thời cũng cố và tăng cường tinh thần phối hợp trong công tác của các đoàn
thể nhà trường, tạo nên khối thống nhất của một tập thể sư phạm. Mặt khác, coi
trọng việc thực hiện nề nếp, ngày giờ công và hiệu quả, chất lượng giáo dục của
khen những học sinh có nhiều tiến bộ. Đồng thời cũng thông báo kịp thời những
học sinh có những biểu hiện chây lười trong học tập cho PHHS, cho địa phương
để phối hợp giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục thực để tạo niềm tin cho
phụ huynh học sinh. Niềm tin ấy chính là cơ sở quan trọng để cấp ủy chính
quyền địa phương ủng hộ.
Mặt khác, nhà trường tập trung quan tâm vào mũi nhọn giáo viên giỏi,
học sinh giỏi, hạn chế học sinh bỏ học lưu ban nhằm khẳng định uy tín nhà
trường đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để công tác XHHGD được triển khai có
hiệu quả. Đẩy mạnh công tác thi đua khen thưởng, xây dựng và hưởng ứng có
hiệu quả các phong trào thi đua. Phấn đấu có nhiều giáo viên giỏi, học sinh giỏi
các cấp. Xây dựng mô hình giáo dục phù hợp với địa phương.
Thực hiện hoạt động công khai minh bạch theo đúng điều lệ các khoản
huy động, không để cho phụ huynh học sinh hiểu lầm, hãy sẵn sàng nhận lỗi
trước phụ huynh khi cần, thành tâm lắng nghe ý kiến của phụ huynh học sinh,
lãnh đạo địa phương, tạo được sự đồng thuận trong toàn hội viên phụ huynh học
sinh, sự quan tâm của lãnh đạo, đoàn thể địa phương. Cùng với Ban đại diện
cha mẹ học sinh, xây dựng kế hoạch sử dụng hợp lý và có ích các nguồn thu từ
XHHGD, tạo được nét thay đổi, nổi bật cho nhà trường. Coi việc minh bạch tài 25
chính là nguyên tắc cốt lõi để thực hiện XHHGD về xây dựng CSVC. Để làm tốt
việc này chúng tôi đã thực hiện nhiều hoạt động và thấy có hiệu quả cao đó là:
+ Thiết lập cơ chế phù hợp để có thể minh bạch: Tham mưu cho ban đại
diên CMHS thành lập ban quản lí với thành phần PHHS và đại diện BGH.
+ Tổ chức sử dụng nguồn tài chính theo đúng kế hoạch.
+ Thực hiện công tác xây dựng theo đúng hành tự qui định của pháp luật.
+ Công khai báo cáo sau mỗi kì, mỗi năm, mỗi việc.
3.4.
phụ huynh học sinh là điều kiện cốt tử để phụ huynh đóng góp và tham gia xây