Quan trắc môi trường không khí - Chương 5 - Pdf 19

Bài giảng môn học Quan trắc môi trường không khí
Trang 77 Biện Văn Tranh
CHƯƠNG 5 : HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM Dân số thế giới ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu cho cuộc sống cũng ngày
càng tăng. Và để đáp ứng được nhu cầu này thì nền kinh tế phải phát triển mạnh
mẽ về công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải … Sự phát triển này một mặt
làm cho thế giới thêm phát triển nhưng mặt khác cũng đồng thời phát sinh ra các
chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí.
Ngày nay, hiện trạng môi trường không khí ở Việt Nam cũng như trên toàn
thế giới đang ở mức báo động rất cần sự quan tâm lo lắng của nhiều cấp lãnh đạo
cũng như của tất cả các quốc gia trên toàn thế giới.
5.1 Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TRÊN THẾ GIỚI :

Trong các vấn đề về khí tượng, điều đáng được quan tâm là hiện tượng toàn
cầu ấm lên. Đây có lẽ là điều chúng ta có ít hiểu biết nhất, là vấn đề khó giải
quyết nhất và có tiềm năng trở thành vấn đề gây xáo trộn nhiều nhất trong số các
vấn đề về khí hậu môi trường.
Dự báo đến cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình trên bề mặt Trái Đất sẽ tăng
thêm từ 2 đến 6
0
C và mực nước biển sẽ dâng cao 0,5 đến 1,5 m. Những thay đổi
đó sẽ gây ra hàng loạt hậu quả như tăng tần số xuất hiện và mức độ phá hoại của
các cơn bão, những vụ hạn hán kéo dài, những đợt nóng kéo dài hơn và nóng hơn,
các mùa mưa lớn hơn và cũng kéo dài hơn.
Các giống loài và quần thể sinh vật sẽ bò ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp. Con người cũng sẽ bò ảnh hưởng nặng nề trong lónh vực sản xuất nông – lâm
– ngư nghiệp, đồng thời lại phải đương đầu với sự lan tràn trở lại của các bệnh
truyền nhiễm.

Ở các thành phố đã quan trắc (Hà Nội, Lào Cai, Hạ Long, Vinh, Huế, Đà
Nẵng, Buôn Mê Thuộc, Vũng Tàu, Biên Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ,
Long An, …) đều bò ô nhiễm bụi từ 1,5 đến 3 lần trò số tiêu chuẩn cho phép, chỉ ở
các vùng ngoại ô, xa các đường giao thông và khu công nghiệp, nồng độ bụi mới ở
dưới trò số tiêu chuẩn cho phép (trung bình ngày dưới 0,2 mg/m
3
).
Kết quả quan trắc nồng độ bụi ở các khu dân cư nội thành của 16 thành phố
cho thấy, chỉ có 3/16 (18,7% số đô thò) là không bò ô nhiễm ở khu dân cư, đó là
thành phố Cần Thơ, thò xã Cà Mau và Rạch Giá. Bò ô nhiễm bụi lớn nhất là thò xã
Buôn Mê Thuộc. Khu dân cư nội thành ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Biên Hòa, Lào Cai, Mỹ Tho đều bò ô
nhiễm bụi, cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2 lần.
Các khu dân cư tại các khu công nghiệp còn bò ô nhiễm bụi nặng hơn, nồng
độ bụi cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 4 lần. Bò ô nhiễm nặng nhất là xung
quanh nhà máy Xi măng Hải Phòng, nhà máy VICASA (Biên Hòa), nhà máy Xi
măng Đà Nẵng, nhà máy Gạch Lào Cai …
5.2.2/ Ô nhiễm khí độc hại (SO
2
, NO
2
, CO) :
Theo số liệu quan trắc môi trường của 16 thành phố thì nồng độ SO
2
, NO
2

và CO ở tất cả các khu dân cư nội thành cũng như ngoại thành đều rất nhỏ và dưới
tiêu chuẩn cho phép. Những nơi có nồng độ SO
2

Hiện tại chỉ có một trạm quan trắc mưa axit đặt ở thò xã Lào Cai và đã tiến
hành quan trắc từ năm 1995 đến nay. Trong năm 1996 thu được 260 mẫu nước mưa
thì có 11 mẫu (chiếm 42%) có độ pH nhỏ hơn 5,5, đa số các mẫu còn lại có pH dao
động trong khoảng từ 5,5 đến 6,5. Năm 1997 thu được 435 mẫu nước mưa thì có tới
130 mẫu (chiếm 29,9%) có độ pH dưới 5,5, đa số các mẫu còn lại cũng có pH dao
động trong khoảng 5,5 đến 6,5. Như vậy tỷ lệ mẫu nước có pH nhỏ hơn 5,5 (có tính
axit) năm 1997 gấp hơn 7 lần năm 1996. Điều này chứng tỏ hiện tượng nước mưa
có tính axit đã gia tăng nhanh.
Các mẫu nước mưa ở Lào Cai có pH thấp thường xuất hiện vào mùa đông,
khi các dợt gió mùa Đông bắc tràn về. Nói chung, nguồn gốc gây mưa axit ở nước
ta chưa được xác đònh, cần phải mở rộng mạng lùi quan trắc và theo dõi đánh giá
trong thời gian tới.
Ngoài ra ở một số khu công nghiệp thải nhiều khí SO
2
, NO
2
đã gây ra hiện
tượng lắng đọng axít cục bộ, làm môi trường đất xung quanh bò axit hóa, gây thiệt
hại đối với sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng. Chất thải axit và khí SO
2

của công ty Supe photphat Lâm Thao (Phú Thọ) đã làm cho vùng đất xung quanh
bò axit hóa (pH = 1,9 – 3,5).
5.2.4/ Ô nhiễm môi trường lao động công nghiệp :

Theo số liệu điều tra nhiều năm của Viện bảo hộ lao động (Tổng công
đoàn) và Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường (Bộ Y tế) thì nồng độ bụi và
khí độc hại trong rất nhiều nhà máy đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, đặc
biệt là trong các nhà máy sàng tuyển quặng, công nghiệp vật liệu xây dựng (xi
măng lò đứng), công nghiệp luyện kim …

Khai thác mỏ không những gây ra ô nhiễm môi trường nước mà còn tác
động xấu đến chất lượng thủy văn của khu vực, như bồi lắng lấp đầy dòng sông,
suối. Môi trường nước mặt ở vùng mỏ không những bò ô nhiễm các chất rắn lơ
lửng mà còn bò ô nhiễm kim loại nặng, thủy ngân và các hóa chất độc hại.
Nhìn chung, môi trường các vùng khai thác mỏ ở nước ta hiện nay bò ô
nhiễm rất trầm trọng, đã tới mức báo động.
5.2.5/ Ô nhiễm tiếng ồn đô thò :

Kết quả quan trắc trong 3 năm gần đây (1995, 1996, 1997) về mức ồn giao
thông ở 23 đoạn đường quốc lộ và đường liên tỉnh đi qua thành phố, thò xã và 21
đường phố nội thò cho thấy : mức ồn tương đương trung bình ngày ở cạnh hầu hết
các đường quốc lộ liên tỉnh đi qua thành phố, thò xã cũng như ở các đường phố
chính của thành phố nước ta đều vượt quá 70 dB. Nói chung, mức ồn ở các đường
phố chính Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn 90
dB, cá biệt có nơi đạt tới 99,9 dB.
Theo số liệu quan trắc (đếm xe) thực tế thì lưu lượng xe, đặc biệt là lưu
lượng xe cộ ở nước ta còn rất nhỏ so với các nước, nhưng mức ồn giao thông ở
nước ta không thua kém các nước khác. Nguyên nhân chính có thể là do tỷ lệ xe
cũ ở nước ta lớn, phân luồng xe đạp, xe máy, xe ô tô chưa tốt, nên xe ô tô phải
thay đổi tốc độ liên tục, lái xe phải thường xuyên bóp còi.
 GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ :

1) Quy hoạch mặt bằng đô thò và bố trí khu công nghiệp trong vùng đô thò
có ý nghóa rất quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường. Đối với bất kỳ nhà máy
nào, khi làm luận chứng kinh tế – kỹ thuật để quyết đònh đầu tư xây dựng, đều
Bài giảng môn học Quan trắc môi trường không khí
Trang 81 Biện Văn Tranh
phải quan tâm đến việc bảo vệ môi trường. Cần phải tiến hành tính toán dự báo
tác động của công trình đó đối với môi trường, phải đảm bảo trong tương lai khi
đưa nhà máy vào hoạt động thì nồng độ chất thải của nhà máy đó thải ra cộng với

2
trong không khí.
¾ Cây xanh lọc bụi, hấp thu các chất độc hại, làm sạch môi trường và giảm
tiếng ồn.
¾ Mặt khác, cây xanh còn làm tăng vẻ đẹp cảnh quan đô thò, tạo cảm giác
thoải mái dễ chòu cho con người.
- Vành đai cây xanh ngoại vi thành phố : tham gia điều hòa khí hậu đô thò
Bài giảng môn học Quan trắc môi trường không khí
Trang 82 Biện Văn Tranh
- Vành đai cây xanh cách ly vệ sinh (phòng hộ) xung quanh các khu công
nghiệp và các đường giao thông chính : giúp giảm tiếng ồn, hấp thụ khí ô nhiễm
và cải thiện vi khí hậu vùng.
- Các dải cây xanh dọc theo sông ngòi thành phố
- Hêï thống công viên nội thành : vừa cải thiện môi trường vừa đáp ứng
nhu cầu vui chơi, giải trí, thư giản của người dân
- Hệ thống vườn cây trong tiểu khu nhà ở
- Hệ thống vườn cây trong hàng rào công trình : vừa thẫm mỹ vừa cải
thiện vi khí hậu.
3) Quy hoạch giao thông đô thò :
- Cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
- Tăng cường đầu tư phát triển mạng lưới giao thông công cộng trong
tương lai.
4) Kiện toàn các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường :
Hoạt động bảo vệ môi trường cần được coi là một ngành kinh tế quốc dân
riêng biệt, để từ đó có các nguồn lực độc lập dành cho hoạt động này. Nguồn kinh
phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường trong thời gian qua tuy có được quan
tâm và ưu tiên nhưng còn tản mạn, chắp vá và quá nhỏ so với yêu cầu.
Mở rộng quy mô và phạm vi năng lực của hệ thống tổ chức quản lý Nhà
nước trong lónh vực bảo vệ môi trường
Đào tạo thêm nhân lực, mở rộng thêm nguồn vật lực và tài lực cho bảo vệ

công nghiệp. Cần phải nghiên cứu bổ sung thêm tiêu chuẩn.
Nên nghiên cứu và chuẩn bò những điều kiện cần thiết để từng bước áp
dụng tiêu chuẩn ISO 14000 ở Việt Nam, góp phần hòa nhập vào lónh vực môi
trường của thế giới.
6) Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và
các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh chấp hành luật bảo
vệ môi trường.
7) Chủ động phòng chống ô nhiễm và sự cố môi trường, khắc phục tình
trạng suy thoái môi trường.
8) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên
gia về lónh vực môi trường.
9) Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường, xây dựng mạng lưới quan
trắc môi trường quốc gia gắn với hệ thống toàn cầu và khu vực.
 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH :

¾ Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường không khí ở thành phố Hồ Chí Minh :

Ç Ô nhiễm do khí thải của quá trình sản xuất công nghiệp :
y Khí thải từ các nhà máy nhiệt điện : với sản lượng điện cung cấp khoảng
1.751.078.000 Kwh, hàng năm ước tính môi trường không khí vùng trọng điểm
phía Nam phải tiếp nhận khoảng 646 tấn bụi, 54.633 tấn SO
2
, 1.996 tấn CO, 8.773
tấn NO
2
, 727 tấn hydrocacbon.
y Khí thải từ các hoạt động của lò hơi và lò nung sử dụng trong công
nghiệp, lượng dầu FO dùng cho các ngành công nghiệp là khoảng 210.000
tấn/năm. Các nguồn đốt công nghiệp này hàng năm thải ra 578 tấn bụi, 78 tấn
SO

, 1.370 tấn CO, 630.000 tấn CO
2
, 6.900 tấn C
x
H
y
và 84 tấn
aldehyte.
y Tại thành phố Biên Hòa, tải lượng ô nhiễm bụi do khí thải giao thông
ước tính 26 tấn/năm. Mức độ gây ô nhiễm do giao thông còn tăng lên do chất
lượng đường xá, do xe cũ, …
Hiện có 50% xe hơi sử dụng trên 10 năm, 5.000 xe đã sử dụng trên 40 năm.
Những trường hợp xe xả khói đen kòt vào dòng người lưu thông là rất phổ biến,
không chỉ bụi mòn từ khí thải, từ lòng đường khi xe ô tô chạy qua, nhiều xe còn xả
nước nóng từ két nước tung tóe vào người đi đường.
Ç Ô nhiễm do khí thải sinh hoạt :
Hoạt động sinh hoạt của nhân dân cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường
không khí. Các hoạt động đun nấu bằng dầu, than, củi, trấu, gas, các hành động xả
phân, rác bừa bãi, lấn chiếm bờ kênh rạch, lấn chiếm đường thoát nước gây tù úng
nước thải sinh hoạt sinh ra mùi hôi thối khó chòu.
¾ Hiện trạng chất lượng môi trường không khí ở thành phố Hồ Chí Minh :

Ç Chất lượng không khí tại các đô thò :
y Bụi : nồng độ bụi đạt mức ô nhiễm nặng tại nhiều nơi trên đòa bàn khu
dân cư, trong các đợt giám sát lưu động trên đòa bàn năm 1996 mức đo nồng độ bụi
thấp nhất là 0,1 mg/m
3
, cao nhất là 3,4 mg/m
3
. Tại 100% điểm đo có nồng độ bụi

lần, 11/20 điểm có nồng độ SO
2
cao hơn tiêu chuẩn 1,1 đến 1,6 lần.
y Chất lượng không khí xung quanh vùng hoạt động của cụm công nghiệp:
Tại khu vực gốm sứ Lái Thiêu, nồng độ bụi dao động trong khoảng 0,8 –
1,74 mg/m
3
,

so với tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh (0,3 mg/m
3
) thì
hầu như 100% số điểm đo có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn từ 2,6 đến 5,8 lần.
Tại khu vực khai thác đá Hòa An, Bình Hòa, thành phố Biên Hòa, ô nhiễm
không khí do khai thác và chế biến đá tại đây đã gây ảnh hưởng đến thành phố
Biên Hòa, đặc biệt là phần bờ phải sông Đồng Nai. Tại nơi giáp ranh giữa mỏ
Bình Hóa và Tân Thạnh hàm lượng bụi đo được đạt đến 2,62 mg/m
3
. Tiếng ồn đều
đạt 80 – 100 dBA. Lượng CO từ 6 – 10 mg/m
3
(có nơi đạt 17,27 mg/m
3
).
y Hiện trạng ô nhiễm không khí tại một số khu công nghiệp tập trung :
vào thời điểm mùa khô, chất lượng không khí bao quanh vùng hoạt động của khu
công nghiệp tập trung, khu chế xuất tương đối tốt, hầu hết các chỉ tiêu ô nhiễm
không khí đều thấp hơn tiêu chuẩn cho phép đối với môi trường không khí bao
quanh và ít có sự biến động lớn giữa buổi sáng và buổi chiều trong ngày.
Đặc biệt chỉ có nồng độ bụi ở khu công nghiệp Biên Hòa I và khu công

ô nhiễm không khí thông qua các tác nhân ô nhiễm đặc trưng của ngành bên ngoài
ống khói thải khí đốt nhiên liệu, trong số đó đã có một số cơ sở lắp đặt hệ thống
khống chế ô nhiễm không khí. Có thể kể ra một số trường hợp sau đây :
- Công nghiệp luyện kim ( hiện có 7 nhà máy đang họat động trong vùng)
gây ô nhiễm không khí với hai tác nhân ô nhiễm chính là khí CO và bụi kim loại,
5 trong số 7 nhà máy đã đầu tư hệ thống xử lý khí thải theo nguyên lý đốt cháy bổ
sung (khử CO) kết hợp với lọc bụi túi vải đạt hiệu quả xử lý cao.
- Công nghiệp mạ kim loại gây ô nhiễm không khí chủ yếu do hơi acid
(HCl), khí (NH
3
) và bụi sương kim loại. Hiện đã có 4 cơ sở đầu tư hệ thống xử lý
khí thải (tôn tráng kẽm Posvina, Tole Phương Nam, Công ty Vingal, Công ty liên
doanh nhôm Việt – Nhật Viaca) theo công nghệ hấp thụ hai bậc đạt hiệu quả cao.
- Công nghiệp hóa chất : hóa chất Tân Bình, Thủ Đức có hệ thống thu hồi
SO
2
, Super photphat Lâm Thành có hệ thống thu hồi bụi, bột giặt Tico, Daso có hệ
thống thu hồi bụi từ tháp sấy, hoạt động tương đối có hiệu quả.
- Công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng gây ô nhiễm không khí chủ
yếu là bụi. Hiện chỉ có một số ít nhà máy mới thành lập là có đầu tư hệ thống xử
lý bụi (xi măng Sao Mai, các nhà máy gạch men, sứ vệ sinh) theo công nghệ hiện
đại (lọc bụi tónh điện, lọc bụi túi vải với hệ thống giũ bụi khí nén), đạt hiệu quả xử
lý cao.
- Công nghiệp chế biến gỗ gây ô nhiễm không khí chủ yếu là bụi ở mức
độ nặng nhưng trong số rất ít các cơ sở có thiết bò lọc bụi thì hầu hết đều sử dụng
thiết bò lọc bụi dạng xyclon đơn, hiệu quả xử lý không cao.
- Công nghiệp thuốc lá giải quyết khá tốt tình trạng ô nhiễm bụi bằng các
thiết bò lọc bụi túi vải nhưng vấn đề mùi chưa được giải quyết.
- Công nghiệp thuốc trừ sâu gây ô nhiễm không khí bởi các hơi khí độc và
Bài giảng môn học Quan trắc môi trường không khí


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status