THUỐC GÂY MÊ TĨNH MẠCH - Pdf 19

THUỐC GÂY MÊ TĨNH MẠCH Thuốc mê tĩnh mạch: Khi sử dụng để gây mê, thuốc được đưa vào cơ thể người
bệnh qua đường tĩnh mạch là chủ yếu hoặc tiêm băp thịt, hoặc dùng qua đường
tiêu hóa nhưng thuốc sử dụng bằng đường tiêu hoá không được khuyến khích vì
sự hấp thu thuốc không ổn định và nhất là người ta lo ngại người bệnh ói mửa và
hít chất ói mửa này vào đường hô hấp khi ngủ mê có thể gây nên những tai biến,
biến chứng chết người, nhẹ nhất là viêm phổi cho đến những tai biến phù phổ do
tổn thương màng phế nang. Thuốc mê tĩnh mạch được biến dưỡng chủ yếu trong
cơ thể mà chủ yếu là gan, thận, và thải ra đường cơ thể thông thường qua đường
tiểu và một phần rất nhỏ qua đường tiêu hóa.
Thí dụ: Thiopentone, Ketamine, Etomidate, Propofol
- Trong gây mê tĩnh mạch, lúc khởi mê, người ta chích thẳng một lượng thuốc mê
vào tĩnh mạch, nồng độ thuốc mê trong máu sẽ lập tức lên cao theo tỉ lệ tương
ứng. Khi vào tĩnh mạch, sau đó, thuốc được xâm nhập vào các mô, người bệnh sẽ
mê khi nồng độ thuốc mê ở não bộ đạt đến mức ức chế hệ thần kinh trung ương.
Muốn duy trì độ mê, ta cần chích thêm hoặc truyền tĩnh mạch với một liều lượng
thích hợp; ngày nay có những trang thiết bị người ta có thể ấn định nồng độ thuốc
mê trong máu (phương pháp gây mê theo nồng độ đích). Trong giai đoạn tỉnh mê,
ta không cung cấp thuốc nữa, thuốc trong cơ thể sẽ được biến dưỡng chủ yếu ở
gan, và được thải ra ngoài theo thận là chủ yếu, nồng độ thuốc mê giảm xuống và
người bệnh sẽ tỉnh lại dần.
Những thuốc gây mê tĩnh mạch thường dùng:
Các thuốc mê tĩnh mạch dùng để khởi mê, để làm các thủ thuật ngắn như phá rung
tim, điều trị cơn động kinh không đáp ứng với các thuốc chống động kinh khác, để
gây mê tĩnh mạch hoàn toàn và an thàn khi thở máy. Sau khi tiêm tĩnh mạch một
thời gian ngắn, mất tri giác xảy ra khi thuốc vào nơi tác dụng tại não, tương đương
thời gian tuần hoàn tay-não. Sau đó, tri giác hồi phục do tái phân phối thuốc từ não
vào các mô.
Cơ chế tác dụng: các thuốc mê tĩnh mạch gắn vào thụ thể kế bên thụ thể GABA

máu dãn nở.
Liều dùng
Khởi mê: Liều 4-6mg/kg
2. Propofol (Diprivan)
Propofol được dùng để khởi mê và duy trì mê, là thuốc được chọn lựa cho bệnh
nhân mổ về trong ngày vì tỉnh mê nhanh, chất lượng khi tỉnh mê tốt, không bị
ngầy ngật khi tỉnh mê, ít bị buồn nôn và ít nôn ói sau gây mê. Trước kia, khi
Propofol chưa được pha với dung dịch Lipid nó gây dị ứng nhiều, sau này,
Propofol dạng nhũ tương chứa lecithin của trứng, glycerol và dầu đậu nành nên ít
gây tai biến dị ứng, nhưng đây là môi trường rất thích hợp cho vi trùng phát triển.
Liều khởi mê 1,5 – 2,5mg/kg, thuốc gây mất tri giác nhanh sau 30-45 giây, tỉnh
mê nhanh sau 4-7 phút do tái phân phối thuốc. Bệnh nhân thường bị đau ở nơi
chích thuốc, để giảm đau nên dùng tĩnh mạch lớn, cho trước một liều nhỏ thuốc
giảm đau hay dùng thuốc tê Lidocain 0,5mg/kg tiêm tĩnh mạch 1-2 phút trước; hay
dùng Propofol với Lidocain theo tỉ lệ 20/1.
Tác dụng
- Liều cao, gây mất tri giác, liều thấp gây an thần nhưng bệnh nhân vẫn tỉnh táo.
- Thuốc ức chế tim mạch, gây tụt huyết áp do dãn mạch và giảm cung lượng tim.
Nhịp tim ít bị ảnh hưởng do ức chế phản xạ thụ thể áp lực.
- Ngừng thở sau liều khởi mê, kéo dài khoảng 40-50 giây. Ức chế hô hấp và ức
chế đáp ứng với thán khí (CO2). Propofol ức chế phản xạ thanh quản, khí quản
nên ít bị co thắt thanh quản khi đặt ống nội khí quản, nên rất thuận lợi khi đặt
mask thanh quản.
- Giảm chuyển hoá não, giảm lưu lượng máu não và giảm áp lực nội sọ.
- Dãn cơ tốt, đặc biệt là khi truyền tĩnh mạch liên tục để duy trì mê.
Liều dùng:
- An thần: Liều 0,5 – 4mg/kg/giờ TM
- Duy trì mê: Liều 1,5 – 4,5mg/kg/giờ TM
- Chỉ có thể pha loãng thuốc trong dung dịch Dextrose 5%, nồng độ 0,2%.
- Trẻ em liều cao hơn; liều duy trì mê có thể lên đến 09 – 15mg/kg/giờ.

đó vài chất có hoạt tính. Gây mất tri giác nhanh trong 1 phút sau khi tiêm tĩnh
mạch liều khởi mê, kéo dài 10-2- phút. Ketamin có thể tiêm bắp để khởi mê, gây
mất tri giác sau 5 phút, đạt đỉnh tác dụng sau 15 phút. Liều lập lại hay truyền tĩnh
mạch gây tích tụ thuốc. Ketaimin là thuốc gây mê tĩnh mạch có tính giảm đau,
nhưng không làm giảm đau nội tạng, dùng ketamin liêu thấp, liêu thường dùng
0,5-1mg/kg cũng có tính giảm đau và thường được dùng để giảm đau sau mổ.
Tác dụng
- Hệ thần kinh trung ương: Ketamin làm tăng lưu lượng máu não, chuyển hóa áp
lực nội sọ.
Ketamin là thuốc gây mê phân ly (dissociative anesthesia) có tính giảm đau.
- Hệ tim mạch: Ketamin làm tăng tần số tim, tăng huyết áp động mạch hệ thống và
động mạch phổi do phóng thích catecholamin nội sinh. Nên thường dùng làm
thuốc khởi mê cho bệnh nhân có tình trạng huyết động kém ổn định.
Ketamin ít gây ức chế cơ tim khi dùng cho bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn,
ức chế hệ thần kinh tự động hay khi hệ thần kinh giao cảm bị kích thích tối đa.
- Hô hấp: Ít ức chế hô hấp.
Phản xạ thanh quản được duy trì, ít bị ảnh hưởng; đường thở được duy trì tốt với
Ketamin so với những thuốc mê tĩnh mạch khác.
Ketamin gây dãn phế quản nên có thể dùng cho bệnh nhân suyễn.
Tác dụng phụ:
- Ketamin gây tăng tiết nước bọt, nên dùng kèm với thuốc chống tiết nước bọt,
thuốc thường dùng là Atropin.
- Ketamin gây vật vã, bứt rứt trong lúc tỉnh mê, gây ảo giác và ác mộng trong và
sau mổ, nên phải dùng Benzodia zepin như Midazolam hay Propofol. Trẻ em ít bị
ảo giác hơn người lớn. Không nên dùng Ketamin cho bệnh nhân có rối loạn tâm
thần.
- Làm tăng áp lực nội sọ nên không nên dùng Ketamin cho bệnh nhân chấn thương
sọ não hay tăng áp lực nội sọ.
- Cử động mắt như rung giật nhãn cầu, nhìn đôi, tăng nhãn áp, nên không dùng
Ketamin trong phẫu thuật nhãn khoa cần giảm nhãn áp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status