ĐẠI CƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ Phần 6 - Pdf 19

- 21 - Ở người bình thường, để có thể giao tiếp có hiệu quả cần phải có kĩ năng diễn đạt
ngôn ngữ (diễn đạt ý nghĩ thành ngôn từ) và kĩ năng tiếp nhận ngôn ngữ (hiểu những gì
người khác nói). Trẻ CPTTT có sự hạn chế về cả hai kỹ năng này, đặc biệt là kỹ năng ngôn
ngữ. Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ CPTTT không mất nhiều thờ
i gian hơn và trình độ ngôn
ngữ của trẻ thấp hơn so với trẻ bình thường hai tuổi. Cụ thể là:
• Vốn từ của trẻ ít và nghèo nàn
• Nhớ từ mới lâu và chậm
• Trong khi nói trẻ ít dùng câu phức tạp, ít dùng liên từ mà thường sử dụng câu
ngắn, câu đơn, câu cụt
• Lỗi phát âm: Nói ngọng, nói lắp và nói khó
• Nói lại rập khuôn những gì người khác đang nói nhưng không hiểu ý nghĩ
a
của lời nói đó
• Không thể hiện rõ nhu cầu giao tiếp với người khác. Ví dụ: trẻ không chủ
động thiết lập mối quan hệ với người khác, không đặt câu hỏi, hay chủ động
trong trao đổi với người khác về một vấn đề nào đó hoặc trẻ từ chối giao tiếp
với người khác.
1.3.3.1.6. Những vấn đề khái quá hoá kiến thức
Trẻ CPTTT gặp khó khăn trong vi
ệc vận dụng kiến thức và các kỹ năng của mình
trong những trường hợp khác nhau với tình huống mà trẻ đã từng gặp. Tuy có những tình
huống gần giống với tình huống quen thuộc nhưng trẻ vẫn lúng túng và thực hiện sai. Ví
dụ, trẻ CPTTT biết con vịt bơi dưới nước, thuyền buồm chạy dưới nước, khi học bài “làm
quen phương tiện giao thông”, cô hỏi “phương tiện gì chạy dướ
i nước”? trẻ trả lời là “con
vịt”.
1.3.3.1.7. Hành vi không mong muốn

và các qui tắc như thế nào?”.
- Dành nhiều thời gian cho thực hành.
- 22 - 1.3.3.2.2. Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về khả năng chú ý
- Giảm thiểu những yếu tố kích thích gây sao nhãng, mất tập trung như: hạn chế bớt âm
thanh, hình ảnh, người qua lại
- Tạo nhiều hành vi phản hồi
- Thu hút sự chú ý của trẻ bằng những đồ chơi, đồ dùng dạy học hấp dẫn như đồ
chơi có phát ra âm thanh, kiểu dáng đẹp và màu s
ắc tươi tắn
- Cung cấp thông tin bằng hình ảnh nhằm mục đích giúp trẻ có thời gian tiếp cận
thông tin lâu hơn.
1.3.3.2.3. Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về khả năng giác động
- Huấn luyện kỹ năng giác động
- Tạo phương tiện thay thế, hỗ trợ thêm
1.3.3.2.4. Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về kỹ nă
ng xã hội
- Khuyến khích các hoạt động xã hội
- Luyện cho trẻ các kĩ năng xã hội trong các tình huống có thể và tự nhiên
1.3.3.2.5. Một số biện pháp khắc phục sự hạn chế về ngôn ngữ cho trẻ
- Sử dụng câu ngắn, rõ ràng, đơn giản
- Không đưa ra dồn dập nhiều quá thông tin trong cùng một thời điểm
- Sử dụng các phương thức giao tiếp thay thế và tăng cường. Ví dụ như s
ử dụng lời
nói kết hợp với ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ hay ngôn ngữ kí hiệu
- Sử dụng các loại phương tiện hỗ trợ giao tiếp như vật thật, mô hình, các loại tranh
ảnh… nhằm hình ảnh hoá thông tin
- Cung cấp vốn từ mới cho trẻ

- 23 - Chương 2
GIAO TIẾP VỚI TRẺ CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ
2.1. Giao tiếp của trẻ CPTTT
2.1.1. Đặc điểm giao tiếp và ngôn ngữ của trẻ CPTTT.
Việc nghiên cứu tình trạng ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ em CPTTT đã được nhiều
nhà khoa học đề cập tới như L.S Vugotsky, A.G Spikin, D.B Elkonin, S.L
Rubinstein…đều đã có một nhận xét chung: trẻ em CPTTT không chỉ kém về mặt nhận
thức mà thường kéo theo sự khiếm khuy
ết về khả năng ngôn ngữ, tác giả cho rằng sự
khiếm khuyết này đều do:
1, Sự suy yếu các chức năng bên trong vỏ não tới việc hình thành rất chậm mối
liên hệ phân biệt có điều kiện trong tất cả các cơ quan phân tích tiếng nói, kèm theo sự rối
loạn của hệ thần kinh gây khó khăn cho việc xác lập những định hình năng động trên vỏ
não.
Tình trạng kém phát triển ngôn ngữ còn do nguyên nhân nhữ
ng mối liên hệ có điều
kiện không bền vững được hình thành chậm ở vùng cơ quan phân tích thính giác. Do
những nguyên nhân này mà đứa trẻ không hiểu được những từ mới và cụm từ mới. Chính
vì lẽ đó trẻ chỉ lựa chọn được số ít các từ vựng dẫn đến tình trạng nghèo vốn từ - một số từ
mà trẻ tích lũy được cũng dần bị lãng quên nếu không được c
ủng cố một cách liên tục. Trẻ
em CPTTT phân biệt rất kém các âm gần giống nhau đặc biệt là các phụ âm. Mặt khác, trẻ
còn mắc nhiều lỗi phát âm sai và các tật ngôn ngữ như nói khó, nói ngọng, nói lắp…
2, Qua nghiên cứu người ta còn cho thấy sự phát triển rất kém của thính giác âm vị

gào thét, có thể tức giận, nếu kích thích gia tăng thường đập phá…
Trẻ không biết trả lời các câu hỏi mà ta hỏi chúng dù đó là những câu hỏi đơn giản
nhất.
Trẻ thườ
ng không biết hợp tác với bạn bè, tự chơi một mình, đôi khi lẩm bẩm nói
một mình nhưng vẫn không phát ra được những ngôn ngữ rõ ràng.
- 24 - Đặc điểm phổ biến ở trẻ em này là rất khó tiếp xúc và làm quen nếu ta chưa chiếm
lĩnh được tình cảm của trẻ.
Những đặc điểm nêu trên đã dẫn trẻ đến hạn chế khả năng giao tiếp, vì vậy ngôn
ngữ của các trẻ này cũng trong tình trạng chậm phát triển.
Để giúp trẻ khắc phục được hạn chế nói trên, ta cần có nhiều biệ
n pháp dạy trẻ ( sẽ
đề cập tới ở mục III). Điều cốt lõi vẫn phải cung cấp cho trẻ vốn từ bằng nhiều hình thức
khác nhau, vốn từ là nền tảng để hình thành ngôn ngữ ở trẻ. Sở dĩ trẻ ngại giao tiếp và ít
dùng lời nói chính là do từ ngữ quá nghèo, trẻ muốn diễn đạt mà không thể nói ra được.
Khi trẻ đã có được những vốn từ mớ
i có thể hình thành khả năng ngữ pháp cho trẻ, muốn
vậy cần phải tăng cường những hoạt động làm thay đổi các trạng thái tâm lý ở trẻ, trẻ mới
mạnh dạn tiếp xúc, sẽ tạo điều kiện để trẻ giao tiếp.
Để dạy được trẻ phải hết sức kiên trì, giàu lòng nhân ái và biết cách trinh phục trẻ
thì mới mang lại kết quả mong muốn. Tóm lại, cần nhớ
trẻ có bốn đặc điểm cơ bản dẫn đến
khó khăn trong giao tiếp đó là:
+ Vốn từ trẻ quá nghèo
+ Trẻ thường mắc các khuyết tật ngôn ngữ
+Trẻ không có trình độ ngữ pháp ( chưa biết đặt câu chủ vị )
+ Ngại giao tiếp, ứng xử.

bằng ngón tay.
Trong ngôn ngữ viết, chữ viết được dựa theo ngôn ngữ nói chính là sự tái tạo bằng
văn bản ngôn ngữ nói, ngoài ra còn có sơ đồ tranh biểu tượng, đây chính là việc sử dụng hệ
thống các bức vẽ đơn giản mà mọ
i người đã nhất trí để giao tiếp với nhau.
2.1.2.2.3. Mức độ giao tiếp tiền biểu tượng
Giữa mức độ giao tiếp biểu tượng và mức độ giao tiếp phi biểu tượng có một mức
chuyển tiếp. Đó chính là những biểu hiện ở mức tiền biểu tượng. Những biểu hiện này ngụ
ý sự việc, người hay đồ vật, đó là những vật li
ệu cụ thể như đồ vật thu nhỏ, ảnh, hình vẽ,
tranh dùng để thay thế cho đồ vật hoặc đối tượng thật. Ví dụ trẻ đưa ra một cái cốc để thể
- 25 - hiện rằng em muốn uống nước, đưa ra ảnh một chiếc xe buýt để thể hiện rằng em sắp về
nhà.
2.1.3. Mức độ chậm phát triển trí tuệ của trẻ và vấn đề giao tiếp của chúng
2.1.3.1. Trẻ chậm phát triển trí tuệ rất nặng
Trẻ CPTTT rất nặng hầu như không nói. Đối với những trẻ có khả năng diễn đạt
bằng ngôn ngữ
thì sự diễn đạt này thường chỉ giới hạn ở mức độ sử dụng một số từ đơn lẻ.
Trẻ thường chỉ vào các đồ vật trẻ mong muốn và cầm tay bạn ngụ ý làm rõ điều mình
muốn. Trẻ cũng thể hiện mong muốn hoặc cảm xúc của mình qua tư thế, khóc, cười, hoặc
chọn một vị trí trong phòng hay một cách di chuyển nào đó v.v. Tiế
n xa hơn, trẻ có thể biết
vận dụng các âm thanh trong môi trường xung quanh hoặc bắt chước các cử chỉ. Có một số
nguyên tắc chung các giáo viên thường vận dụng khi giao tiếp với trẻ loại này nhằm giảm
thiểu những điểm hạn chế của trẻ. Các nguyên tắc cụ thể như nhấn mạnh ngữ điệu; dùng
các công cụ giao tiếp bổ trợ như cử chỉ,
ảnh, đồ vật và các điệu bộ, tư thế cơ thể; đáp lại

Dưới đây giới thiệu một bảng giúp xác định mức độ giao tiếp của trẻ, nhờ bảng này
ta có cơ sở để lựa chọn những cách kích thích giao tiếp tích c
ực nhằm giúp trẻ thể hiện
được bản thân và đồng thời để trẻ hiểu được đối tượng giao tiếp của mình: Bảng : Bảng xác định mức độ giao tiếp của trẻ
Vô âm (không có âm thanh) Có âm (có âm thanh)
Mức độ phi biểu tượng
Phi ngôn ngữ
* Hành vi:
- Cử động của chân tay;
- Tư thế đầu và người
- Cách sử dụng không gian
- Nhìn
- Nét mặt
- Ăn mặc
- Cầm nắm, sờ đồ vật
* Hành vi:
- Khóc
- Cười
- Rên rỉ
- Thở dài
- Làu bàu
- Gào thét
- Càu nhàu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status