- 6 - + Thiếu hụt về tâm lý xã hội: thiếu sự chăm sóc nhạy cảm, không được khuyến khích
hoặc bị khiếm khuyết về giác quan, kích thích quá mạnh, bị bỏ rơi hoặc bị lạm dụng.
+ Trong gia đình việc sử dụng ngôn ngữ bị hạn chế, sử dụng những câu ngắn,
những mẫu câu có vốn từ giới hạn.
+ Ít có cơ hội đến trường.
+ Cu
ộc sống của trẻ do người khác áp đặt, định đoạt; trẻ không thể tự kiểm soát
được cuộc sống của mình, thiếu tự tin dẫn đến việc trẻ học kém ở trường.
1.1.4. Một số vấn đề về thể chất và tâm thần liên quan đến CPTTT
1.1.4.1. Những dạng khuyết tật thường xảy ra đồng thời với CPTTT
Khiếm thính :
Trẻ khiếm thính là những trẻ
khó nghe hoặc điếc. Khiếm thính có thể do nhiều
nguyên nhân : nguyên nhân trước khi sinh (di truyền; các bệnh truyền nhiễm; Rubella/Sởi
Đức, Giang Mai; dùng thuốc có hại cho sự phát triển tai của bào thai ), trong khi sinh
(thiếu oxy; dùng dụng cụ y tế forceps để kéo đầu trẻ ra …) hoặc sau khi sinh (bênh tật, tai
nạn )
Khiếm thị :
Trẻ khiếm thị là những trẻ nhìn kém hoặc bị mù. Nói một cách khác, khiếm thị có
nghĩa là mức độ sắc nét của thị lực, ngay c
ả khi có kính, là trong khoảng từ 5% đến 30%.
Thị lực thông thường dao động trong khoảng 30% đến 100%. Trong tình trạng mù, thị lực
dưới 5%.
Tiêu chí thứ hai để xem xét khả năng khiếm thị của trẻ là thị trường. Khiếm thị có
nghĩa là thị trường chỉ trong khoảng 10% đến 30%. Ở người bình thường, thị trường là
30% tới 100%. Thị trường dưới 10% là đã ở trạng thái mù.
Khiếm thị xảy ra thườ
ng do các vấn đề có liên quan đến mắt: bị khúc xạ: viễn thị
lên
- Trẻ không giữ được vật nhỏ trong tay, không thể đưa một vật vào miệng
- 7 - - Trẻ không thể dùng hai tay để nắm giữ đồ vật
- Trẻ không thể lật từ ngửa sang sấp và ngược lại
- Trẻ không tự ngồi một mình, ngồi hay bị ngã
- Trẻ không thể tự uống được bằng cốc
- Trẻ không nhặt được vật nhỏ
- Trẻ không tự bò, không tự đứng
- Trẻ không thể tự ăn
- Trẻ không biết cởi quần áo
- Trẻ không thể tự bỏ vật vào hộp và tự lấy ra
- Trẻ không thể xếp các đồ vật với nhau và tách chúng ra
- Trẻ không tự đi, tự chạy được một mình
- Trẻ không đi xuống cầu thang và không có khả năng leo trèo
- Trẻ không có khả năng nhảy, không đá được bóng
1.1.4.2. Những bệnh thường thấy ở trẻ CPTTT
1.1.4.2.1. Bãi não
Bại não là một tình trạng gây tàn tật cho trẻ em có nguyên nhân từ não. Chứng tậ
t
này do não bị tổn thương trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh cho đến 5 tuổi.
Dạng tật này gây ảnh hưởng đến các tư thế tự nhiên và hoạt động bình thường của trẻ. Trẻ
có thể mềm nhũn, toàn thân co cứng hoặc vận động không tự chủ.
Bại não không phải là một bệnh tiếp diễn. Tổn thương não chỉ xảy ra một lần và sẽ
không bị xấu đi. Bại não không nặng thêm như
ng cũng không phải là bệnh có thể chữa
khỏi. Những trẻ em bị bại não sẽ phải mang tật suốt đời. Bại não không lây lan và người ta
không phải vì già mà mắc chứng bại não.
(bở
i vì những trẻ này dường như bị kiềm hãm ở bên trong). Đến nay đã biết thêm rất nhiều
điều về bệnh tự kỷ. Rối loạn tự kỷ đôi khi được gọi là sự tự kỷ thời kỳ ấu nhi, sự tự kỷ thời
kỳ trẻ thơ hoặc sự tự kỷ Kanner.
- 8 - * Tiêu chí chẩn đoán rối loạn tự kỷ :
Trong cuốn “Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV”đã đưa ra
những tiêu chí chẩn đoán rối loạn tự kỷ như sau:
A. Một tập hợp gồm sáu hoặc nhiều hơn các tiêu chí của nhóm (1), (2) và (3) trong
đó ít nhất hai tiêu chí từ nhóm (1) và một tiêu chí từ mỗi nhóm (2) và (3)
(1). Giảm khả năng định tính trong tương tác xã hội thể hiệ
n ở ít nhất hai trong số
các biểu hiện sau:
a. Giảm khả năng rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như
ánh mắt, nét mặt, các tư thế của cơ thể và các cử chỉ để tạo sự liên hệ mang tính xã hội.
b. Không có khả năng xây dựng các mối quan hệ đối với bạn cùng trang lứa phù
hợp với mức độ phát triển.
c. Thiếu đòi hỏi t
ự nhiên đối với việc chia sẽ niềm vui, sở thích/mối quan tâm hay
các thành tích đạt được với những người khác (ví dụ như thiếu nhu cầu mang hay chỉ cho
người khác xem những thứ mình thích)
d. Thiếu sự trao đổi qua lại về tình cảm hoặc xã hội.
(2). Giảm khả năng định tính trong giao tiếp thể hiện ở ít nhất một trong số các biểu
hiện sau :
a. Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển kỹ năng nói (không có ham muố
n bù đắp
lại hạn chế này bằng các cách giao tiếp khác, ví dụ như những cử chỉ điệu bộ thuộc kịch
câm).
yếm, thờ ơ hoặc ghét tiếp xúc cơ thể (không hưởng ứng khi
được bế lên), thiếu tiếp xúc
bằng mắt, không đáp lại lời của cha mẹ (khiến lúc đầu cha mẹ có thể lo lắng rằng trẻ bị
điếc). Xử sự với người lớn một cách rất máy móc, không có khả năng xây dựng các mối
quan hệ tay đôi phù hợp với tuổi phát triển (chứ không phải tuổi đời). ít hoặc không quan
tâm đến việc kết bạn. Thích ngồi cách xa các trẻ khác. Thích nh
ững hoạt động một mình,
hoặc nếu tham gia hoạt động với trẻ khác thì chỉ xem chúng là người trợ giúp máy móc
- 9 - hoặc như một công cụ chơi của mình (ví dụ đẩy bạn vì thích nhìn bạn khóc hay ngã). Khi
muốn chơi cùng các trẻ khác thì lại không hiểu luật chơi và cách phối hợp qua lại. Không
nhận thức được việc cần giao tiếp với người xung quanh, và cũng không nhận ra sự đau
khổ của người khác.
Những vấn đề trong giao tiếp: Những vấn đề trong giao tiếp có thể được biểu hiệ
n
như: chậm hoặc hoàn toàn không có ngôn ngữ nói (không đi kèm với nổ lực sử dụng các
phương pháp giao tiếp thay thế ví dụ như cử chỉ), những cá nhân nói được thì có vấn đề
trong việc bắt đầu và duy trì cuộc hội thoại (thường chỉ nói chuyện theo một cách rất hạn
chế, ví dụ như đòi một vật gì đó bằng cách gọi tên vật, phản đối bằng cách nói “không”
nhưng không đư
a ra các dạng giao tiếp qua lại), nhắc lại những từ hoặc cụm từ mà không
để ý đến nghĩa (nhắc lại một phần những gì chúng vừa nghe được), nhắc lại những bài hát
hoặc đoạn nói ngắn trong các quảng cáo thương mại. Giọng thường cao một cách bất
thường và không có khả năng hiểu những câu hỏi, chỉ dẫn hay những chuyện cười đơn
giản. Thích những trò bắ
t chước đơn giản hoặc những thói quen khi còn nhỏ. Thiếu kỹ
năng bắt chước xã hội, thiếu những kỹ năng đa dạng để tạo lòng tin.
Những kiểu hành vi, sở thích hay mối quan tâm và những hoạt động rập khuôn
loạn tự kỷ ở anh chị em của những cá nhân có rối loạn này đang ngày càng tăng thêm nên
người ta cho rằng có thể do yế
u tố thuộc di truyền.
* Cách trẻ tự kỷ hiểu về thế giới và những vấn đề liên quan tới tự kỷ :
Cách trẻ tự kỷ hiểu về thế giới: Một đưa trẻ tự kỷ sẽ có khả năng trong việc hiểu
những kích thích đến với nó (những gì trẻ nghe thấy, nhìn thấy, ngửi thấy, nếm thấy và
cảm thấy). Chúng rất khó hiểu
được ý nghĩa của thông tin, khó loại bỏ các kích thích
không liên quan, khó liên kết các thông tin và khó khái quát hoá thông tin (ví dụ như kinh
nghiệm về cái ghế không phải là những gì hơi gống như thế đều là ghế). Rất nhiều thứ mà
một đứa trẻ tự kỷ trải nghiệm là mới mẻ đối với nó. Thế giới đối với trẻ tự kỷ là hỗn loạn
và rời rạc. Vì vậy rất nhiều trẻ tự
kỷ tìm kiếm sự an toàn cho mình bằng việc lặp lại những
- 10 - hành động tương tự nhau hoặc tìm những cách khác để trốn chạy khỏi thế giới thực tại (ví
dụ như bịt tai lại).
Những vấn đề hành vi: khi trẻ bị tự kỷ, những vấn đề về hành vi có thể liên quan
trực tiếp hoặc không trực tiếp tới rối loạn tự kỷ. Những vấn đề hành vi thường gặp ở trẻ tự
kỷ là: ăn không bình thường (chỉ ăn một số loại thức ăn, ví dụ như cơm với trứng), có khó
khăn về ngủ, tâm trạng bất thường (ví dụ như khoác hoặc cười khúc khích mà không có lý
do rõ ràng), thiếu cảm giác sợ khi bị nguy hiểm thực sự, quá sợ hãi trước những vật vô hại,
có nhiều hành vi làm đau bản thân (cắn tay, tự đánh mình, tự cấu véo mình).
Những vấn đề th
ể chất: Có thể xuất hiện những tai biến động kinh (nhất là ở thiếu
niên), tỷ lệ trung bình khoảng 25% trường hợp.
* Mức độ phổ biến và quá trình đánh giá để xác định trẻ tự kỷ .
Cứ trong 10 ngàn trẻ thì có 2 đến 5 trẻ bị tự kỷ (tỷ lệ 1 nữ trên 4 nam). Trong hầu
hết các trường hợp (khoảng 75%) bệnh tự kỷ đi kèm với những chẩn đ
được sự phát triển tuân theo quy luật của sự hình thành tâm lý. Tuy nhiên sự phát triển này
có những đặc điểm riêng của mình. Những đặc điểm đ
ó bị gây ra bởi loại hình rối loạn hệ
thống thần kinh trung ương và hậu quả của loại hình rối loạn này (thuật ngữ "thiểu năng trí
tuệ" đã được nhà tâm lý người Đức E.Krepelin dẫn ra vào thế kỷ 19).
Loạn trí (từ tiếng Latinh, dementia; mất trí, điên) - là sự suy yếu rõ rệt của hoạt
động nhận thức dẫn đến suy giảm sự phát triển, suy giảm trí nhớ, hạn chế
cảm xúc. Loạn
trí có tính chất tiến triển, có nghĩa là ở hiện tượng loạn trí, có thể nhận thấy sự tiến triển
chậm chạp của quá trình bệnh lý.
Ở lứa tuổi mầm non "loạn trí" có thể hình thành do hậu quả của những căn bệnh
bên trong của não bộ ở trường hợp tâm thần phân liệt, động kinh, những bệnh viêm não
(viêm màng não) cũng như do hậu quả của chấn th
ương não (chấn động não và bị thương).
Cơ cấu tâm bệnh lý của rối loạn trong trường hợp thiểu năng trí tuệ được đặc trưng
bởi tính tổng thể và tính cấp bậc của sự phát triển về tâm lý và trí tuệ. Theo cấu trúc sơ đồ
lâm sàng thiểu năng trí tuệ được chia ra thành thiểu năng trí tuệ dạng bị biến chứng và