- 41 - tự ti. Không lấy việc tích luỹ thật nhiều kiến thức làm mục tiêu, mà xây dựng con người
thông qua hoạt động. Không phân chia máy móc các môn học.
(5) Giáo viên cần kiên trì, nhạy bén về tâm lý, hiểu được nhu cầu của từng học
sinh, dìu dắt đúng nhu cầu, đúng lúc. Lớp học không nên đông quá
(6) Cũng như trẻ nhỏ đến tuổi đi học, trẻ CPTTT cần được động viên, khuyến
khích, gây quan hệ tình cảm tốt, không khí vui v
ẻ. tạo tình huống gây hứng thú và đòi hỏi
giải quyết vấn đề. Tổ chức hoạt động hợp tác với bạn, làm đi làm lại nhiều lần, giúp các
em tập nói lên được cách mình đã làm như thế nào, tập xin lỗi và diễn đạt tình cảm, tập
phân vai và hợp tác với bạn.
Cuốn “Giáo dục trẻ có tật tại gia đình” không chỉ đề cập đến vấn đề chăm sóc và
giáo d
ục trẻ CPTTT mà còn đưa ra một số dấu hiệu phát hiện sớm, điều trị, phục hồi chức
năng và những biện pháp phòng ngừa CPTTT
Cuốn “Hỏi đáp về GD trẻ khuyết tật” cho rằng: CPTTT mức nặng thì nuôi dưỡng là
chính; CPTTT mức trung bình cần tổ chức trường lớp riêng để dạy mới có kết quả, khó có
thể hoà nhập với trẻ bình thường; CPTTT mức nhẹ có thể
giáo dục chuyên biệt hoặc hào
nhập
4.1.2. Giáo dục hội nhập và hoà nhập
Ở Việt Nam loại hình giáo dục hội nhập và hoà nhập được biết đến vào cuối những
năm 1980 thông qua các tài liệu, đài, báo, các cuộc hội thảo khoa học, các lớp tập huấn,
các đợt tham quan Việt Nam đã học tập được kinh nghiệm từ nhiều nước và đã nhận
thức được quan điểm mới về
tổ chức GDĐB cho trẻ khuyết tật. Các lớp tập huấn của
chuyên gia Thuỵ Điển, bà Irene Lopez và ông Ture Jonson, đã giúp nhiều cán bộ nước ta
nâng cao kiến thức và mở rộng hiểu biết về trẻ khuyết tật, giúp chúng ta có thêm một
hướng mới nhằm giải quyết vấn đề trẻ khuyết tật.
dục trẻ khuyết tật thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo TPHCM đã nghiên cứu thành công đề tài
“Biên soạn tài liệu giáo dục trẻ CPTTT trong các trường chuyên biệt tại TPHCM” (chủ
- 42 - nhiệm đề tài: Giám đốc Trung tâm Huỳnh Thị Thanh Bình); hiện nay đây là một tài liệu
tham khảo rất hữu ích ở nhiều cơ sở dạy và nghiên cứu trẻ CPTTT khắp cả nước.
Từ tháng 10 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001, dưới sự cộng tác giữa uỷ ban 2 Hà
Lan và trường ĐHSPHN, Trung tâm GD&PT GDĐB đã thực hiện dự án giáo dục cho trẻ
CPTTT ở Việt Nam. Cùng với sự cộng tác và tư vấ
n của nhiều chuyên gia trong nước và
nước ngoài, Ban quản lý dự án (Bùi Văn Huệ, Nguyễn Thị Hoàng Yến, Han van Esch,
Trần Thị Lệ Thu) đã xây dựng thành công chương trình đào tạo giáo viên trình độ cử nhân
GDĐB trình độ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT). Trên cơ sở đó ngày 22 tháng 7 năm 1999
Bộ GD&ĐT đã ra quyết định số 2592 QĐ/BGD&ĐT - ĐH cho phép trường ĐHSPHN đào
tạo nhóm ngành sư phạm đặc biệ
t trình độ cử nhân với mã số 32.00. Có thể nói đây là một
mốc quan trọng trong quá trình nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực GDĐB nói
chung và giáo dục cho trẻ CPTTT nói riêng ở nước ta.
Trên cơ sở quyết định của Bộ GD&ĐT dự án giáo dục trẻ CPTTT (với sự cố vấn
chuyên môn trực tiếp của ông Han van Esch, chuyên gia GDĐB cảu Hà Lan, sự trợ giúp tài
chính của uỷ ban 2 Hà Lan và nhiều tổ chứ
c nước ngoài khác) đã tiến hành khoá đào tạo cử
nhân sư phạm đặc biệt chuyên ngành CPTTT đầu tiên trong cả nước, từ tháng 9 năm 1999
đến tháng 4 năm 2001; 20 sinh viên của khoá đã được nhận bằng tốt nghiệm hệ chính quy;
4 sinh viên được cấp chứng chỉ đã tham gia khoá học. Cùng thời gian tiến hành dự án, với
sự hổ trợ của các chuyên gia nước ngoài (úc, Hà lan, Mỹ) và trong nước trung tâm ĐT&PT
GDĐB đã tiến hành một số
đề tài nghiên cứu, xây dựng một số bộ giáo trình hiện đang
được sử dụng trong công tác đào tạo giáo viên và cán bộ trong lĩnh vực giáo dục cho trẻ
ăm 2005 là: những vùng thuận lợi phải huy động
được 60-70% trẻ khuyết tật, những nơi khó khăn phải huy động, tổ chức được 40-50% số
trẻ khuyết tật được đi học và chăm sóc sức khoẻ.
- Giáo dục hoà nhập là chiến lược phát triển chủ yếu. Chỉ có mô hình này mới có
thể từng bước đáp ứng nhu cầu giáo dục cho phần đông trẻ khuyết tật. Ph
ải tăng cường cải
tiến cơ sở hạ tầng cũng như các hoạt động giáo dục cho trẻ khuyết tật tại các trung tâm và
- 43 - các trường chuyên biệt. Các trung tâm và các trường chuyên biệt này có thể tạo cơ hội cho
trẻ khuyết tật nặng. Chỉ có như thế thì trẻ khuyết tật nặng mới có thể học tập, phát triển và
đạt kết quả phục hồi chức năng.
Từ năm học 1996-1997 đến nay, Vụ Giáo dục Mầm non thuộc bộ GD&ĐT đã đưa
nội dung về việc nhận, t
ổ chức và triển khai giáo dục hà nhập trẻ khuyết tật mầm non vào
văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học. Vụ đã chỉ đạo các cơ sở, trường lớp mầm
non có trách nhiệm thu nhận trẻ khuyết tật vào học với điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật
của trường cho phép và trẻ khuyết tật có kh
ả năng học hoà nhập được.
Sở GD&ĐT TPHCM đã phát triển kế hoạch 5 năm 2000-2005 nhằm mục đích:
- Thành lập Trung tâm can thiệp sớm tại TPHCM
- Phát hiện sớm trẻ khuyết tật và thực hiện chương trình can thiệp sớm để hội nhập
trẻ càng sớm càng tốt vào trường mẫu giáo và tiểu học bình thường.
- Xây dựng 22 Trung tâm giáo dục chuyên biệt ở từng quận, huyện. Mội trung tâm
này thục hiện 3 chức năng: can thiệp sớm, hỗ trợ hội nhập và dạy nghề cho trẻ khiếm
thính, khiếm thị và CPTTT.
- Huấn luyện giáo viên mẫu giáo thực hiện phát hiện sớm và hội nhập
- Giúp đỡ các trường đang thực hiện chương trình giáo dục hội nhập
Mới đây (ngày 30 tháng 9 năm 2002) Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra quyết định
ường chuyên biệt. Trong
giai đoạn hội nhập, bắt đầu vào thập kỷ 70, trẻ CPTTT được học hội nhập vào các chương
trình học phổ thông nếu chúng được coi là phù hợp. Trong giai đoạn hoà nhập, bắt đầu vào
đầu thập kỷ 80, người ta nhấn mạnh rằng trẻ CPTTT nên được hoà nhập đầy đủ vào các
chương trình và hoạt động của nhà trường.
4.2.1.1. Trường chuyên biệt
Trong một thời gian dài, trẻ CPTTT không
được phép tham gia vào các trường phổ
thông. Cha mẹ các em chỉ được thông báo đơn giảng rằng nhà trường không có các chương
trình dạy cho con họ. Sau đó các trường chuyên biệt được thành lập để thay cho chỗ trống
này. Dù có một số trường chỉ tập trung chủ yếu vào các nhu cầu về chăm sóc và mang lại
- 44 - cho trẻ CPTTT một môi trường dễ chịu hơn, nhưng nhìn chung các trường chuyên biệt đều
đã đưa ra được chương trình giáo dục và hỗ trợ nhất định cho trẻ CPTTT.
Hầu hết các trường chuyên biệt tập trung vào hỗ trợ sự phát triển các kỹ năng cá
nhân và kỹ năng xã hội để trẻ có thể sống độc lập tới mức tối đa sau khi trẻ ra trường.
Ngoài phương pháp và tài li
ệu được thiết kế đặc biệt cho những trẻ này.
Các trường chuyên biệt thường giáo dục trẻ từ 4 đến khoảng 20 tuổi và giáo dục
được tiến hành tách rời với những trẻ không bị khuyết tật.
4.2.1.2. Lớp hội nhập
Một số trường phổ thông có những lớp học đặc biệt cho trẻ CPTTT. Những lớp học
này được gọi là những lớp học độ
c lập hoặc lớp học hội nhập.
Các lớp học trên thường chỉ mang lại sự hội nhập thể chất. Trẻ có mặt ở trường
nhưng hầu như không tham gia vào các hoạt động với trẻ không khuyết tật. Chúng có một
chương trình dạy riêng, chương trình học riêng, giáo viên riêng. Cũng giống như trường
chuyên biệt, các phương pháp và tài liệu giảng dạy đều được thiết kế đặc bi
trẻ CPTTT tham gia vào các chương trình giáo dục khi được coi là phù hợp.
Một cách sắp xếp khác là đưa trẻ CPTTT vào lớp phổ thông và cung cấp cho chúng
những hướng dẫn bổ sung trong một phòng thiết bị (nơi có th
ể cung cấp các dịch vụ đặc
biệt cho trẻ). Như vậy ở lớp phổ thông, có thể tạo ra cho trẻ sự trợ giúp thêm nhằm giúp
chúng theo được chương trình học chung. Khi cần, chương trình học chung có thể được áp
dụng theo những cách khác nhau sao cho trẻ CPTTT có thể tham gia được, nghĩa là cần có
chương trình học đa trình độ hoặc có sự xen kẽ các chương trình giảng dạy.
Chương trình học đa trình độ được dùng khi tr
ẻ CPTTT và trẻ bình thường cùng
tham gia vào một hoạt động chung. Điều này có nghĩa là cùng trong một chương trình học
hoặc cùng một hoạt động tuỳ khả năng hay hạn chế riêng biệt mà mỗi trẻ có thể đạt kết quả
khác nhau.
Có thể xen kẽ các chương trình giảng dạy khi trẻ CPTTT và trẻ bình thường cùng
tham gia vào một hoạt động chung, trong trường hợp này trẻ có kết quả học tập phù hợp
- 45 - với từng cá nhân nhưng thuộc những phần khác nhau của chương trình giảng dạy (ví dụ
cùng tham gia hoạt động trong phòng thí nghiệm, trẻ bình thường có thể học để hiểu bản
chất khái niệm khao học, còn trẻ CPTTT học với mục đích tăng giao tiếp)
Trong phòng thiết bị riêng, trọng tâm của giáo dục là những kỹ năng học tập và xã
hội. Phòng thiết bị có thể do một giáo viên hoặ
c chuyên gia được đào tạo chuyên sâu chịu
trách nhiệm. Trẻ có thể được tách ra khỏi các lớp học phổ thông vài lần trong một tuần để
chăm sóc đặc biệt một mình hoặc trong một nhóm nhỏ. Lợi thế của việc này là trứơc hết trẻ
CPTTT được ở môi trường lớp học phổ thông trong hầu hết thời gian và do đó sẽ hưởng
lợi từ việc tương tác với những b
ạn bè bình thường. Đồng thời, trẻ sẽ không bị ám ảnh bởi
phòng thiết bị vì trẻ CPTTT không phải là người duy nhất đến phòng thiết bị. Trẻ có
4.2.2. Hình thức tổ chức giáo dục đặc biệt cho trẻ chậ
m phát triển trí tuệ ở Việt Nam
4.2.2.1.Các dịch vụ giáo dục đặc biệt
Giáo dục đặc biệt cho trẻ CPTTT ở Việt Nam được cung cấp theo nhiều cách khác
nhau: trường chuyên biệt, các lớp hội nhập, giáo dục hoà nhập.
Ở Việt Nam không phải tất cả các trường chuyên biệt đề nằm trong hệ thống giáo
dục, một số trường do uỷ ban nhân dân địa phương hoặc các tổ chức từ thiện khác nhau
thành lập
Giáo dục hoà nhập chủ yếu dành cho một số trẻ CPTTT nhẹ; ở các trường chuyên
biệt và các lớp học hội nhập, giáo dục được dành cho trẻ CPTTT ở mức nặng, trung bình
và nhẹ
Mức tuổi của trẻ dao động trong một khoảng khá lớn, có trường nhận trẻ từ tuổi lên
3, còn lại hầu hết các trường nhận trẻ từ 6 tuổi. Một số trường giữ
học sinh cho đến tuổi 20
hoặc thậm chí 25, các trường khác thường đến tuổi 16, 17 hoặc 18.
Do chưa có một chính sách thống nhất về các tiêu chí nhận trẻ vào trường cũng như
về nhóm trẻ “ mục tiêu” (nhóm trẻ CPTTT được hưởng giáo dục đặc biệt) nên rất khó xác