một số biện pháp gây hứng thú học tập cho hs môn vật lí ở trường thcs thị trấn trần văn thời. - Pdf 19

PHÒNG GD & ĐT HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
Trường THCS TT Trần Văn Thời
SÁNG KIẾN
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG MÔN VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN TRẦN VĂN THỜI
- Đề tài thuộc lĩnh vực: Vật lý
- Họ và tên người thực hiện: Đặng Văn Viễn
- Chức vụ: Giáo viên
- Sinh hoạt tổ chuyên môn: Toán – Lý – CN – Tin
Huyện Trần Văn Thời, tháng 05 năm 2013
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG MÔN VẬT LÝ Ở TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN TRẦN VĂN THỜI
I. SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
Năm học 2012 – 2013 là năm thứ 11 thực hiện chủ trương của ngành Giáo
dục Đào tạo tỉnh nhà là: Đổi mới toàn diện phương pháp giảng dạy và học. Cũng
như hầu hết thầy các thầy cô giáo khác trong năm học qua nhóm giáo viên dạy Vật
lý trường THCS TT Trần Văn Thời chúng tôi cũng đã trăn trở, tìm tòi, từng bước
thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của ngành giáo dục đề
ra chúng ta đều biết phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố cơ bản và
quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất. Phương
pháp giảng dạy phù hợp sẽ là con đường giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách
hiệu quả, phát huy trí lực của người học, mỗi bộ môn đều phải có một phương pháp
giảng dạy phù hợp và phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện và đây cũng chính là
một trong những yếu tố, động lực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện cho học sinh trường THCS thị trấn Trần Văn thời hiện nay.
Trước yêu cầu cấp bách đó, giáo viên trường trung học cơ sở thị trấn Trần
Văn Thời nói chung và đội ngũ giáo viên dạy Vật lí nói riêng, luôn học hỏi tìm ra
các biện pháp giảng dạy tốt nhất giúp học sinh tham gia một cách tích cực chủ
động vào học tập phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh. Từ đó học sinh
thấy thích được học bộ môn Vật lý và ham muốn khám phá tri thức nhân loại.

nên gây căng thẳng nặng nề trong giờ học, kị nhất là giáo viên vào lớp, gắt gỏng
hoặc vào lớp với khuôn mặt nặng nề.
Giáo viên phải luôn tôn trọng ý kiến trả lời của học sinh, không nên gò ép
học sinh vào khuôn phép cứng nhắc, tránh thái độ yêu cầu học sinh trả lời sắp xếp
ngay theo thứ tự của mình .
Khuyến khích cho điểm động viên học sinh một cách tế nhị, hợp lí khi học
sinh trả lời đúng câu hỏi hoặc học sinh không trả lời được câu hỏi. Từ đó sẽ tạo cho
học sinh có được niềm tin vào khả năng của bản thân.
Giáo viên cần phải cải tiến và sáng tạo đồ dùng dạy học, thiết kế thí nghiệm
phù hợp với điều kiện của trường mình, sử dụng phương pháp dạy học nhóm hoặc
dùng phiếu học tập hợp lí.
2. Gây hứng thú cho học sinh bằng những thí nghiệm vật lí có tính kì dị
* Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt nhiệt của chất rắn” (SGK Vật Lí 6 Tr 58)
Trước khi học bài này giáo viên yêu cầu học sinh thả quả cầu kim loại chưa hơ
nóng xem có lọt qua vòng kim loại hay không. Sau đó GV hơ nóng quả cầu kim
loại bỏ qua vòng kim loại.
GV: Tại sao khi chưa hơ nóng quả cầu kim loại thì nó bỏ lọt qua vòng kim loại?
HS: Lúng túng sẽ không giải thích được tại sao lại có hiện tượng kì lạ này.
Từ thí nghiệm đó giáo viên giới thiệu bài học mới. Làm như vậy sẽ kích thích ngay
được tính tò mò, hiếu kì của học sinh mong muốn giải thích được hiện tượng thí
nghiệm trên. Nên học sinh sẽ chú ý ngay vào bài học.
* Khi dạy bài “ Đối lưu – Bức xạ nhiệt ” (SGK Vật Lí 8 , Tr 80)
GV: Theo em đèn nến có hút được khói không ?
HS: Trả lời.
GV: Dùng một ống tre cưa thật bằng ở hai đầu (Hai đầu thông nhau), bên hông có
khoét một lỗ sao cho lỗ thấp hơn ngọn nến dự định đặt ở trong ống tre khoảng 5–10
cm. Đốt một cây nến rồi dùng ống này úp ngọn nến vào bên trong tre tương đối kín,
rồi đốt một vài que hương (nhang) đưa lại gần miệng lỗ.
HS: Sẽ thấy khói bị hút vào trong ống tre.
GV: Liệu có đúng đèn nến hút được khói hay không, Ta nghiên cứu vào bài học.

HS: Lúng túng không biết trả lời thế nào.
GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới.
HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên.
* Khi dạy bài “ Sự nổi ” (SGK Vật Lí 8, Tr 43)
GV: Tại sao tàu làm bằng kim loại vừa to lại vừa nặng nhưng lại nổi trong nước
còn kim vừa nhỏ, vừa nhẹ lại chìm trong nước ?
HS: Cố gắng suy nghĩ để tìm câu trả lời, có thể chưa giải thích được.
GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới.
HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên.
* Khi dạy bài “ Thấu kính hội tụ ” (SGK Vật Lí 9, Tr 113)
GV: Một nhóm các nhà thám hiểm Bắc cực, khi đi quên mang theo lửa. Họ đã nghĩ
ra một cách dùng những tảng băng để lấy lửa. Liệu rằng họ có lấy được lửa từ
những tảng băng lạnh giá đó không?
HS: Bỡ ngỡ vì có thể chưa nghe thấy bao giờ và tự đặt ra câu hỏi: Băng nó lạnh
như thế thì lấy lửa làm sao được?
GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới.
HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên.
Những hiện tượng trên hoặc quá gần gũi hoặc quá xa lạ, lâu nay ta cho nó là
những hiện tượng hiển nhiên không cần giải thích hoặc giải thích chưa được hoặc
mới nghe lần đầu. Từ đó sẽ kích thích được tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh,
học sinh sẽ chú ý hơn vào bài học .
Như vậy, tất cả các tiết dạy bài mới chúng ta đều có thể chọn ra một hiện
tượng gần gũi mà học sinh chưa giải thích được, để đặt câu hỏi nêu vấn đề vào bài.
Ngoài ra trong mỗi tiết dạy đặt câu hỏi có vấn đề trước khi chuyển mục cũng
gây hứng thú học tập cho học sinh.
IV. KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI
Trước khi nghiên cứu vấn đề này tôi cũng đã có nhiều trăn trở, làm thế nào
để môn học của mình có nhiều học sinh yêu thích, có nhiều học sinh học tốt. Qua
nghiên cứu về tâm lí học lứa tuổi học sinh THCS và các tài liệu đổi mới phương
pháp dạy học môn Vật lý, Tôi đã chọn phương án là tìm cách gây hứng thú học tập

sôi, mây trôi, vật nổi, những hiện tượng tưởng chừng như hiển nhiên đó, để
nghiên cứu và trả lời được câu hỏi vì sao lại thế thường gây được ấn tượng mạnh
vào tâm lí, sự hiếu kì của học sinh.
Nhưng trong quá trình dạy học giáo viên không được quên rằng xử lí các tình
huống sư phạm một cách hợp lí, tế nhị sẽ tạo được ấn tượng sâu sắc với lứa tuổi
học sinh THCS, từ đó gây được hứng thú học tập cho học sinh.
V. ĐÁNH GIÁ VỀ PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN
Đề tài này có thể sử dụng cho giáo viên dạy vật lí cấp THCS làm tài liệu
tham khảo, phục vụ cho việc giảng dạy môn Vật Lí tại trường THCS, hy vọng được
chia sẻ phần nào những khó khăn, vất vả của giáo viên dạy môn vật Lí THCS theo
hướng đổi mới phương pháp dạy học và chương trình sách giáo khoa hiện nay và
góp phần nâng cao hiệu quả bài giảng của mình, góp phần thực hiện tốt mục tiêu
giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay và góp phần đưa nền giáo dục của
huyện nhà ngày càng phát triển.
Đề tài này được hội đồng khoa học nhà trường THCS Thị Trấn Trần Văn
Thời đánh giá cao và được ứng dụng thực tế trong trường.
VI. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Đề nghị đối với các cấp lãnh đạo cho đề tài này được triển khai rộng rãi
trong huyện nhà để kết quả giáo dục được nâng lên trong thời gian tới.
Đối với giáo viên khi áp dụng sáng kiến này cần thực hiện tốt cách thức và
phương pháp nêu trong sáng kiến để đạt được kết quả cao nhất trong giảng dạy góp
phần thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục huyện Trần Văn Thời nói riêng và
tỉnh Cà Mau nói chung.
Trong thời gian ngắn, khối lượng công việc nhiều nên trong quá trình biên
soạn đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót mà tôi chưa phát hiện ra. Để nội dung đề
tài thêm phong phú và đầy đủ hơn, rất mong được sự góp ý của quý thầy cô đồng
nghiệp, các cấp lãnh đạo và hội đồng khoa học. Tôi xin chân thành cảm ơn !
Ý kiến xác nhận Trần Văn Thời, ngày 25 tháng 05 năm 2013
Của thủ trưởng đơn vị Người viết
Đặng Văn Viễn

Nguyên nhân của tình trạng trên đựơc thể hiện như. Trong quá trình dạy học chưa
kết hợp chặt chẽ các phương pháp, các dụng cụ học tập sáng tạo, …
a. Gây hứng thú học tập cho học sinh từ việc xử lí các tình huống sư phạm.
Khi vào lớp giáo viên phải tạo được bầu không khí tươi vui, thoải mái có thể
chỉ bằng những câu nói tiếng cười, nét mặt vui vẻ của giáo viên. Giáo viên không
nên gây căng thẳng nặng nề trong giờ học, kị nhất là giáo viên vào lớp, gắt gỏng
hoặc vào lớp với khuôn mặt nặng nề, …
Giáo viên cần phải cải tiến và sáng tạo đồ dùng dạy học, thiết kế thí nghiệm
phù hợp với điều kiện của trường mình, sử dụng phương pháp dạy học nhóm hoặc
dùng phiếu học tập hợp lí, …
b. Gây hứng thú cho học sinh bằng những thí nghiệm vật lí có tính kì dị.
- Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt nhiệt của chất rắn” (SGK Vật Lí 6 Tr 58)
- Khi dạy bài “Đối lưu – Bức xạ nhiệt ” (SGK Vật Lí 8 , Tr 80)
- Khi dạy bài “Dẫn nhiệt ” (SGK Vật Lí 8 , Tr 77), …
c. Gây hứng thú cho học sinh bằng những câu hỏi có vấn đề.
Khi dạy bài “Trọng lực – Đơn vị lực” (SGK Vật Lí 6, Tr 27)
Khi dạy bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng”
(SGK Vật Lí 7, Tr 9)
Khi dạy bài “ Sự nổi ” (SGK Vật Lí 8, Tr 43)
Khi dạy bài “Thấu kính hội tụ ” (SGK Vật Lí 9, Tr 113)
4. Kết quả, hiệu quả mang lại:
Trong quá trình giảng dạy tại trường THCS TT Trần Văn Thời, Tôi đã áp
dụng đề tài này và thấy hiệu quả đạt được tương đối khả quan như.
Tỉ lệ học sinh yêu thích môn học tăng lên, số học sinh yếu kém giảm, học
sinh khá giỏi tăng cụ thể như trong sáng kiến.
* Đến cuối năm học 2012- 2013
- Tỉ lệ học sinh thích học môn Vật Lí tăng thêm khoảng 35%
- Số học sinh nắm bài ngay tại lớp tăng thêm khoảng 39%
- Số học sinh khá, giỏi tăng thêm 25%
- Số học sinh yếu, kém về môn Vật Lí hầu như không đáng kể .

tài này .
3. Nội dung cơ bản của sáng kiến:
a. Gây hứng thú học tập cho học sinh từ việc xử lí các tình huống sư phạm.
Giáo viên cần phải cải tiến và sáng tạo đồ dùng dạy học phù hợp với điều kiện
của trường mình một cách hợp lí,
b. Gây hứng thú cho học sinh bằng những thí nghiệm vật lí có tính kì dị.
Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt nhiệt của chất rắn” (SGK Vật Lí 6 Tr 58)
Khi dạy bài “Đối lưu – Bức xạ nhiệt ” (SGK Vật Lí 8 , Tr 80)
Khi dạy bài “Dẫn nhiệt ” ( SGK Vật Lí 8 , Tr 77 )…
c. Gây hứng thú cho học sinh bằng những câu hỏi có vấn đề.
Khi dạy bài “Trọng lực – Đơn vị lực” (SGK Vật Lí 6, Tr 27)
Khi dạy bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng”(SGK Lí7,Tr 9)
Khi dạy bài “Sự nổi ” (SGK Vật Lí 8, Tr 43)
Khi dạy bài “Thấu kính hội t ” (SGK Vật Lí 9, Tr 113)
4. Phạm vi áp dụng:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được ứng dụng triển khai thực hiện trong tổ Toán –
Lí – CN – Tin trường THCS Thị Trấn Trần Văn Thời
5. Hiệu quả đạt được:
* Trong quá trình giảng dạy tại trường THCS TT Trần Văn Thời, Tôi đã áp
dụng phương pháp này và thấy hiệu quả đạt được tương đối khả quan như.
* Năm học 2012- 2013
- Số học sinh khá , giỏi tăng thêm 25%
- Số học sinh yếu , kém về môn Vật Lí hầu như không đáng kể .
* Tỉ lệ học sinh yêu thích học tập môn Vật lí và tỉ lệ học sinh khá giỏi càng
nâng lên rõ rệt khi được áp dụng đề tài này.
Người đăng ký

Đặng Văn Viễn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status