1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia tăng dân số từ lâu đã và đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Về cơ bản, gia tăng dân số là yếu tố
thuận lợi cho sự phát triển xã hội, nhƣng nó sẽ trở thành vật cản khi sự gia
tăng đó không cân xứng với sự phát triển xã hội; bởi lẽ, sự gia tăng dân số quá
mức sẽ đặt ra một loạt vấn đề cần giải quyết nhƣ: lƣơng thực, nhà ở, đất canh
tác, việc làm, tệ nạn xã hội…tạo áp lực lên môi trƣờng sống của con ngƣời,
đồng thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với ngành y tế trong chăm sóc
và nâng cao sức khỏe.
Sau hội nghị quốc tế về Dân số phát triển tại Cairo (ICPD) năm 1994, Việt
Nam đó cú những nỗ lực to lớn trong việc thực hiện mục tiêu chính sách của
Chƣơng trình hành động Cairo [1]. Cuối năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt
Chiến lƣợc Quốc gia về Dân số và Chiến lƣợc Quốc gia về Chăm sóc Sức
khỏe Sinh Sản cho giai đoạn 2001- 2010.Và mới đây, cuối năm 2010, Chiến
lƣợc Dân số và Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011 – 2020 đã ra đời. Theo
Tổng kết tình hình thực hiện Chiến lƣợc Dân số Việt Nam và Chiến lƣợc
Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001 – 2010 cho thấy: tuổi
thọ ngƣời dân tiếp tục tăng lên, đặt 72,8 tuổi năm 2009 và tổng suất sinh giảm
xuống còn 2.03 (năm 2009). Các cặp vợ chồng đã tiếp cận nhiều hơn các
chƣơng trình SKSS, các BPTT và các thông tin để lựa chọn số con và khoảng
cách sinh con. Tỷ lệ sử dụng các BPTT là 79,5 % (năm 2008), trong đó 68,8
% là các BPTT hiện đại [2]. Những thành tích này đã chứng tỏ những bƣớc
tiến dài của Việt Nam vì đó là những vấn đề cơ bản và tồn tại lâu đời của loài
ngƣời: sinh, chết và lập gia đình.
Tuy nhiên cho đến nay Việt Nam vẫn chƣa đạt đƣợc tiếp cận toàn diện các
dịch vụ SKSS và KHHGĐ thiết yếu cho ngƣời dân đƣợc coi là giải pháp cần
2
nói chung đồng thời cũng góp phần vào thắng lợi của Chiến lƣợc Dân số và
Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sử dụng dịch vụ KHHGĐ tại
phòng khám Marie Stopes International Việt Nam tại Hà Nội, 2010" với
các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ KHHGĐ tại 2 phòng khám MSIVN
tại Hà Nội năm 2010.
2. Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KHHGĐ của
khách hàng tại các địa điểm trên.
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
1.1.1. Định nghĩa [5],[6]
BPTT hay còn gọi là biện pháp KHHGĐ là các biện pháp mà các cặp vợ
chồng sử dụng nhằm kiểm soát việc sinh đẻ để tránh có thai ngoài ý muốn.
Có thể chia các BPTT thành 2 loại:
Các BPTT hiện đại bao gồm:
Các BPTT ngắn hạn (thuốc tránh thai, các BPTT có vách ngăn, các
BPTT khẩn cấp)
Các BPTT dài hạn (DCTC, thuốc cấy tránh thai)
Các BPTT vĩnh viễn (đình sản nam, đình sản nữ)
Các BPTT truyền thống bao gồm:
Xuất tinh ngoài âm đạo
Cho bú vô kinh
Kiêng giao hợp định kỳ
1.1.2. Các BPTT ngắn hạn [5],[6]
a) Thuốc tránh thai
vỉ phải uống viên đầu tiên của vỉ tiếp theo vào ngày hôm sau. Vỉ 21 viên, khi
hết vỉ nghỉ 7 ngày rồi dùng tiếp vỉ sau.
TVTT chỉ có Progestin
Chỉ định:
Phụ nữ muốn tránh thai có hồi phục mà không có chống chỉ định
Đặc biệt thích hợp với phụ nữ đang cho con bú
6
Phụ nữ có chống chỉ định với thuốc tránh thai phối hợp
Chống chỉ định:
Đã hoặc đang bị ung thƣ vú
Đang bị viêm gan, xơ gan
Ra huyết bất thƣờng chƣa rõ nguyên nhân
Đang điều trị thuốc chống co giật hay kháng sinh nhƣ Rifampicin
Đang mang thai hoặc nghi ngờ có thai
Thời điểm sử dụng thuốc:
Nếu đang cho con bú: có thể bắt đầu từ tuần thứ 6 sau đẻ
Nếu không cho con bú: bất cứ lúc nào trong 4 tuần đầu đầu sau đẻ
Trong vòng kinh: tƣơng tự TVTT phối hợp
Cách sử dụng thuốc: mỗi ngày uống 1 viên vào một giờ nhất định. Dùng vỉ
kế tiếp ngay sau khi hết vỉ đầu, không ngừng giữa 2 vỉ.
Thuốc tiêm tránh thai: DMPA
DMPA (Depomedroxy Progesterone Acetat) có hàm lƣợng 150mg. Bản
chất thuốc là Progestin dạng depot, thuốc sẽ giải phóng hormon vào trong
tuần hoàn chậm, từ từ. Tiêm một liều thuốc có thể tác dụng từ 2 - 3 tháng.
Cơ chế tác dụng: làm teo nội mạc tử cung, làm quánh đặc chất nhày cổ tử
cung và ức chế phúng noón.
Đây là BPTT có hiệu quả cao (99,6%), nhƣng làm thay đổi kinh nguyệt
nhƣ: mất kinh hoặc có thể chảy máu kéo dài, ra máu giữa kỳ kinh.
Theo UNESCO, tỷ lệ dùng thuốc tiêm tránh thai ở các nƣớc đang phát
Tránh thai trong âm đạo:
Có nhiều phƣơng pháp nhƣ màng ngăn âm đạo, BCS nữ, miếng xốp, viên
đặt
Cơ chế tác dụng có thể màng ngănco học, màng ngăn lý học, nhƣng bao
giờ cũng có kèm theo chất diệt tinh trùng đƣợc bổ sung vào.
Tất cả các biện pháp này đều có tác dụng tránh thai nhất thời, dễ dàng
phục hốiau khi ngừng sử dụng.
Thuốc diệt tinh trùng
Là những chế phẩm hóa chất đặt vào âm đạo trƣớc khi quan hệ tình dục
nhằm mục đích tránh thai. Thuốc có nhiều dạng khác nhau: dạng gel, kem, sủi
bọt, viên thuốc, thuốc đạn và màng mỏng.
Thuốc có hoạt chất là một trong những chất sau: Clorua benzalkonium,
Hexyl-Resorcinol, 9-Nonoxynol.
Cơ chế tác dụng: làm bất hoạt tinh trùng và về mặt vật lý chặn không cho
tinh trùng vào cổ tử cung.
TÍnh hiệu quả của thuốc tùy thuộc vào ngƣời sử dụng cú đỳng khụng. Để
hiệu quả cao, thuốc cần đặt vào sâu trong âm đạo1 giờ trƣớc khi giao hợp.
Ngoài ra, thuốc dạng viện nén hay thuốc đạn phải đặt ít nhất 10 phút trƣớc khi
giao hợp. Nói chung, thuốc diệt tinh trùng có hiệu quả thấp so với ccs biện
pháp khác.
c) Các BPTT khẩn cấp
BPTT khẩn cấp là biện pháp đƣợc sử dụng sau khi giao hợp không đƣợc
bảo vệ, gồm có: TVTT và DCTC.
Cơ chế tác dụng:
Đối với TVTT: úc chế và làm chậm sự phúng noón.
Đối với DCTC: ngăn cản sự làm tổ của trứng đã thụ tinh. 9
1.1.3. Các BPTT dài hạn
Về phụ khoa: viêm nhiễm đƣờng sinh dục chƣa điều trị khỏi, sa sinh
dục, khối u trong tử cung, dị dạng tử cung.
Về sản khoa: chƣa đẻ lần nào, đã bj chửa ngoài tử cung, đang hoặc nghi
ngờ có thai, có sẹo mổ ở tử cung trong vòng 6 tháng.
Về tiền sử bệnh tật: bệnh tim, các bệnh về máu, cơ địa dễ nhiễm khuẩn,
đái tháo đƣờng, giảm bạch cầu, điều trị Corticoid kéo dài.
Thời điểm đặt DCTC:
Có thể đặt DCTC bất kỳ ngày nào trong vòng kinh, khi đã chắc chắn
ngƣời đó không có thai.
Sau đẻ: có thể đặt vào các thời điểm:
Đặt sau 6 tuần lễ (đặt tại Trung tâm Y tế huyện hoặc tuyến cao hơn).
Trong vòng 6 tháng sau đẻ, nếu bà mẹ chƣa có kinh trở lại và đang nuôi
con hoàn toàn bằng sữa mẹ.
Sau phá thai: có thể đặt ngay sau phá thai nếu đảm bảo khụng sút rau
và nhiễm khuẩn.
1.1.4. Đình sản nam, nữ
a) Đình sản nữ:
Nguyên tắc của đình sản nữ là làm gián đoạn 2 vòi trứng dẫn đến noãn
không gặp đƣợc tinh trùng, hiện tƣợng thụ tinh không xảy ra.
Các kỹ thuật thắt, cắt 2 vòi trứng thƣờng đƣợc làm ở đoạn eo của vòi
trứng, cách sừng tử cung khoảng 2cm, ở khoảng vô mạch của mạc treo vòi
trứng.
Đây là BPTT có hiệu quả trên 99%, tỷ lệ thất bại khoảng 0,5%.
Chỉ định:
11
Phụ nữ đang độ tuổi sinh sản có đủ số con mong muốn, các con khỏe
mạnh, tự nguyện dùng một BPTT vĩnh viễn và không hồi phục.
Phụ nữ bị các bệnh có chống chỉ định có thai.
Chống chỉ định:
Cơ chế tránh thai: tinh trùng không vào đƣợc đwongf sinh dục nữ nên
không gặp đƣợc noãn, ngăn cản hiện tƣợng thụ tinh.
Phƣơng pháp này đòi hỏi sụ chủ động của nam giới trong lúc giao hợp là
chính. Phƣơng pháp này đòi hỏi sự củ động của nam giới trong lúc giao hợp
là chính. Phƣơng pháp xuất tinh ngoài âm đạo trƣớc đây đƣợc sử dụng rộng
rãi ở một số nƣớc phát triển và đang phát triển. Hiện nay, phƣơng pháp này
dần dần đƣợc thay thế bằng các BPTT hiện đại.
b) Kiêng giao hợp định kỳ
Là biện pháp họn thời điểm giao hợp cách xa những ngày phúng noón
nhằm mục đích làm cho tinh trùng sống không gặp đƣợc noãn sống. Phƣơng
pháp này đôi khi sử dụng kết hợp với một số phƣơng pháp khác nhƣ: xuất tinh
ngoài âm đạo, vách ngăn để làm tăng hiệu quả tránh thai.
Để chọn ngày kiêng giao hợp, cú cỏc phƣơng pháp nhƣ:
Phương pháp tớnh vũng kinh:
Là biện pháp dựa vào ngày có kinh, chọ giao hợp vào những ngày xa
giai đoạn rụng trứng để không có thai.
Biện pháp này chỉ áp dụng với những phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt
đều.
Cách thực hiện:
Dự đoán ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt sau (tùy theo số ngày
của chu kỳ kinh nguyệt đều).
13
Từ ngày dự kiến có kinh lùi lại 14 ngày là ngày có thể rụng trứng trong
vòng kinh.
Trong vòng 5 ngày trƣớc và 4 ngày sau khi rụng trứng là những ngày
“khụng an toàn”, cần kiêng giao hợp hoặc nếu giao hợp thì cần dùng
biện pháp tránh thai hỗ trợ.
Từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh đến trƣớc ngày đầu tiên của những
ngày “khụng an toàn” là những ngày “ớt an toàn”.
kể ở châu Á (66% trong tổng số 700 nghìn phụ nữ có gia đình) và vùng Trung
Đông – Bắc Phi (69% trong tổng số 84 nghìn phụ nứ đã kết hôn).
Trong số những phụ nữ sử dụng các BPTT thì 9 trên 10 ngƣời là áp dụng
các BPTT hiện đại mà phổ biến nhất là đình sản (20%), tiếp đến là DCTC
(15%). Những biện pháp tránh thai hiện đại đƣợc coi là nhƣng biện pháp hiệu
quả hơn cả trong việc tránh thai ngoài ý muốn và cũng đóng vai trò quan
trọng trong công tác KHHGĐ.
Thực trạng sử dụng của từng loại BPTT cũng có sự khác nhau rõ rệt giữa
các nƣớc trên thế giới. Nếu nhƣ ở các nƣớc phát triển, các BPTT ngắn hạn
đƣợc sử dụng rộng rãi hơn cả thì tại các nƣớc đang phát triển các BPTT dài
hạn lại đƣợc ƣa chuộng hơn. Thật vậy, ở các nƣớc phát triển, hai BPTT đƣợc
sử dụng phổ biến nhất là thuốc viên tránh thai (175) và bao cao su (15%).
Trong khi đó tại các nƣớc đang phát triển tỷ lệ sử dụng các BPTT dài hạn và
vĩnh viễn lại chiếm tỷ lệ cao: 22% là đình sản và 16% là đặt DCTC. 15
b) Tại Việt Nam
Công tác dân số KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em luôn đƣợc
Đảng và chính phủ quan tâm và đã đạt những thành tựu đáng kể. Tỷ lệ cặp vợ
chồng sử dụng các biệp pháp tránh thai không ngừng tăng lên.
Theo Báo cáo rà soát các nghiên cứu SKSS tại Viờt Nam giai đoạn 2000 –
2005 cho thấy: Tỷ lệ sử dụng các BPTT (CPR) đã tăng ổn định trong những
năm qua từ 63,2% (1996) đến 73,9% (2001), và 76,9% (2005) với tỷ lê sử
dụng BPTT tăng từ 52% (1996) đến 61,1% (2001) và ở mức 65,8% (2005).
CRP có khác biệt theo khu vực địa lý. CPR thấp nhất là các vùng cao (66%),
cao nhất thuộc về vùng đồng bằng sông Hồng. CPR cũng tăng theo tuổi đi
học, học vấn và số con. Trong các BPTT, DCTC là BPTT đƣợc nhiều ngƣời
biết đến nhất (99%); tiếp theo là bao cao su và viên tránh thai. DCTC cũng là
biện pháp đƣợc dùng phổ biến nhất với khoảng 2/3 số ngƣời sử dụng (55,7%),
nguy cơ và tắc dụng phụ của các BPTT [31].
1.2. PHÁ THAI
1.2.1. Định nghĩa
Phá thai là thủ thuật đình chỉ thai nghén để kết thúc sự mang thai, đƣa sản
phẩm thai nghén ra khỏi đƣờng sinh dục của ngƣời mẹ [9].
1.2.2. Các biện pháp phá thai
a) Phá thai bằng thuốc (MSMP)
Phá thai bằng thuốc là phƣơng pháp chấm dứt thai nghén bằng cách sử
dụng thuốc Mifepristone và Misoprostol gây sảy thai đối với thai đến hết 7
tuần (49 ngày) kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng.
Theo Hƣớng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản, phác đồ phá thai bằng thuốc đƣợc sử dụng là: uống 1 viên Mifepristone
200 mg, sau 48 giờ sau uống tiếp 400 àg Misoprostol.
17
Hiện nay, phƣơng pháp phá thai bằng thuốc đã đƣợc phép sử dụng ở
khoảng 27 nƣớc trên thế giới [10]. Các tác giả nhận thấy, tỷ lệ gây sảy thai
của Mifepristone dùng đơn độc khoảng 64 – 85% và kết hợp với Misopristol
là 87 – 97% [32].
b) Phá thai bằng thủ thuật (MSP)
Phá thai bằng phương pháp nong nạo
Nong và nạo thai làthủ thuật nong cổ tử cung bằng dụng cụ rồi gắp thai,
rau thai ra ngoài và nạo sạch buồng tử cung. Đây là phƣơng pháp đƣợc dùng
từ lâu và vón cũn phổ biến ở nhiều nơi khi việc dùng biện pháp hút thai chân
không chƣa ssƣợc triển khai và dùng cho phá thai bệnh lý.
Phá thai bằng phương pháp hút chân không
Phá thai bằng phƣơng pháp hút chân không là phƣơng pháp chấm dứt thai
nghén bằng cách dùng bơm hút chân không để hút thai từ tuần thứ 6 đến hết
tuần thứ 12 kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng.
Ở nƣớc ta hiện nay, để thực hiện hút thai bằng phƣơng pháp hút chân
40% tổng số các trƣờng hợp có thai hàng năm trong nƣớc.
Theo báo cáo tổng kết 2 năm 1997 và 1998, Nguyễn Đức Vy đƣa ra tỷ lệ
phá thai/Tổng số đẻ từ 72 – 82% [11].
Năm 1997
Năm 1998
Tổng số đẻ
1.138.607
1.101.791
Tổng số nạo phá thai
934.302
861.353
Tỷ lệ nạo phá thai/Tổng số đẻ
82%
78%
1.3. CHIẾN LƢỢC DS-KHHGĐ
Dân số là một vấn đề đƣợc loài ngƣời quan tâm rất sớm. Có thể cách đây
4000 năm hoặc lâu hơn nữa loài ngƣời đã biết dựng cỏc dụng cụ tránh thai
19
[12].Tiền thân của dụng cụ tử cung ngày nay là cỏc viờn cuội trắng mà các lái
buôn ngƣời Ả rập đã đặt vào tử cung của các con lạc đà cái trƣớc mỗi chuyến
vƣợt sa mạc dài ngày và một loại bao tránh thai trƣớc kia làm bằng ruột động
vật đƣợc đặt vào bộ phận sinh dục nữ. Song phải đến giữa thế kỷ XIX chƣơng
trình KHHGĐ nhằm kiểm soát sự gia tăng dân số mới thực sự đƣợc bắt đầu
với qui mô ngày càng lớn [36].
Với chƣơng trình KHHGĐ, hơn 3 thập kỷ vừa qua mức sinh trên thế giới
nói chung và các nƣớc đang phát triển nói riêng đã giảm đáng kể. Vào giữa
những năm 60 khu vực các nƣớc đang phát triển có tổng suất sinh khoảng 6,1.
chỳng cú ứng dụng đáng kể góp phần tăng sử dụng BPTT và giảm tỷ lệ ngƣng
sử dụng [1].
Tuy vậy, trên thực tế, việc hoạch định chính sách và kế hoạch, các yếu tố
quyết định với chƣơng trình KHHGĐ, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu. Một
nghiên cứu về việc lập kế hoạch từ dƣới lên trên chỉ ra rằng đa số các nhân
viên y tế không có đủ các kỹ thuật chuyên môn trong lập kế hoạch, khoảng
2/3 nhân viên ở cấp tỉnh không đƣơc đào tạo về lập kế hoạch hay phần lớn các
nhân viên ở tuyến xã không biết về các tiêu chí xác định mục đích và các hoạt
động lập kế hoạch [1]. Trƣớc thực trạng đó, MSIVN, một tổ chức phi chính
phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực SKSS và KHHGĐ đã hợp tác với
nghành y tế của mụt số địa phƣơng để tổ chức các hoạt động truyền thông lƣu
động nâng cao nhận thức và cung cấp các dịch vụ KHHGĐ dài hạn và vĩnh
viễn tại vựng cú nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng, với sự hỗ trợ thƣờng xuyên về
tài chính và kỹ thuật từ Marie Stopes International [4].
21
1.4. HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC MSIVN [4]
Marie Stopes International Việt Nam (MSIVN) là một trong những tổ chức
phi chính phủ quốc tế đầu tiên hoạt động trong lĩnh vực y tế tại Việt Nam từ
những năm 1989.
Từ năm 1996 đến cuối năm 2005, MSIVN đã cung cấp đƣợc 568.170 dịch
vụ chất lƣợng cao cho 476.218 khách hàng. Hơn một triệu ngƣời đƣợc cung
cấp kiến thức về kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) và sức khỏe sinh sản
(SKSS) thông qua các buổi truyền thông, nói chuyện chuyên đề và tƣ vấn do
các trung tâm MSIVN thực hiện và bằng các hoạt động lƣu động tại cộng
đồng, nơi mà nhu cầu chăm sóc SKSS chƣa đƣợc đáp ứng đầy đủ.
MSIVN đã phát triển thành công mô hình phòng khám SKSS/KHHGĐ
bền vững, đi tiên phong trong việc lấy khách hàng làm trọng tâm để cung cấp
các dịch vụ chất lƣợng cao, giá cả hợp lý cho cộng đồng tại 8 tỉnh của Việt
Nam bao gồm: Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Thái Bình, Hà Nội, Huế, Bình
23
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIấN CỨU
Nghiên cứu đƣợc triển khai tại 2 phòng khám (PK) của MSIVN tại Hà
Nội, phòng khám: Hà Nội 01 và Hà Nội 02.
PK Hà Nội 01 đặt tại tầng 1, Nhà A4, Làng Quốc tế Thăng Long, phƣờng
Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội.PK Hà Nội 01 đƣợc xây dựng năm 2004, tọa
lạc tại Làng Quốc Tế Thăng Long là khu đô thị tập trung dân cƣ có trình độ
dân trí, đời sống kinh tế và văn hóa xã hội tƣơng đối cao.
PK Hà Nội 02 (PK Hà Nội 02) đặt tại số 282, Đƣờng Nguyễn Trãi, Quận
Thanh Xuân, Hà Nội. Phòng khám trên địa bàn Quận Thanh Xuân, của ngõ
phía Tây của thủ đô Hà Nội, nơi đõy tõp trung dân cƣ đông đúc. Trên địa bàn
quận có nhiều học viện, viện nghiên cứu, trƣờng đại học, cao đẳng nhƣ: Đại
học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Kiến
trúc Hà Nội, v.v Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe ban đầu cho nhân dân
rất đƣợc các cấp lónh đóo chú trọng [13].
2.2. THỜI GIAN NGHIấN CỨU
Trong 12 tháng: Từ tháng 02/2010 đến tháng hết tháng 01/2011
2.3. ĐỐI TƢỢNG NGHIấN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu:
- Là tất cả những phụ nữ đến sử dụng các dịch vụ KHHGĐ tại 2 PK của
MSIVN đặt tại Hà Nội trong thời điểm nghiên cứu.
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Tất cả những khách hàng đến sử dụng các dịch vụ KHHGĐ tại 2 PK
của MSIVN tại Hà Nội vào thời điểm nghiên cứu.
24
Tiêu chuẩn loại trừ:
Phân tích sẽ đƣợc thực hiện đối với thực trạng chung cho cả 2 địa điểm
nghiên cứu và từng địa điểm nghiên cứu.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng dịch vụ KHHGĐ (bao
gồm: các BPTT, PTAT và các BPTT sau PTAT) của khách hàng tại các
địa điểm trên gồm tuổi, nghề nghiệp, hôn nhân, hoc vấn.
2.7. ĐẠO ĐỨC NGHIấN CỨU
Đề tài nghiên cứu đƣợc Hồi đồng bảo vệ Khóa luận tốt nghiệp bác sĩ đa
khoa của Trƣờng Đại Học Y Hà Nội xét duyệt và thông qua.
Nguồn thông tin dùng cho nghiên cứu đƣợc tổ chức MSIVN cho phép sử
dụng.
Các thông tin cá nhân về đối tƣợng nghiên cứu trong báo cáo đƣợc đảm
bảo giữ bí mật tuyệt đối. Các thông tin thu đƣợc chỉ sử dụng cho nghiên cứu,
không sử dụng với bất kỳ mục đích nào khác.