Kết cấu dán ghép điện ảnh trong "Cao lương đỏ" của Mạc Ngôn - Pdf 19

Kết cấu dán ghép điện
ảnh trong "Cao lương đỏ"
của Mạc Ngôn
Cao lương đỏ
(1)
- tác phẩm mở đầu cho danh tiếng Mạc Ngôn và cho
những tác phẩm thuộc "gia tộc Cao lương đỏ" phản ánh cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược của nhân dân Trung Quốc đầu thế kỷ XX (gồm Cao
lương đỏ, Rượu cao lương, Nhà quàn cao lương, Cẩu đao, Da chó ) -
được giải thưởng văn học Mao Thuẫn năm 1985 - 1986, giải thưởng văn
học quốc tế của Italia năm 2005. Sau khi được đạo diễn lừng danh Trương
Nghệ Mưu đưa lên màn ảnh, bộ phim Cao lương đỏ lại chiếm ngôi quán
quân của liên hoan phim Cannes năm 1994 với giải Cành cọ vàng. Có thể
nói tác phẩm này có cái duyên điện ảnh từ trước khi đạo diễn Trương Nghệ
Mưu để mắt đến nó. Cái duyên ấy chính là kết cấu dán ghép điện ảnh - một
nét đặc sắc trong nghệ thuật viết tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
Kết cấu dán ghép điện ảnh là một thủ pháp được sử dụng từ ảnh
hưởng của kỹ thuật điện ảnh. Với thủ pháp này, nhà văn có thể xáo trộn
các biến cố và lắp ghép chúng không theo trình tự thời gian, các biến cố xa
được đặt cạnh các biến cố gần, hai câu chuyện của những nhân vật khác
nhau lại được đặt cạnh nhau và đồng thời với nó là sự di chuyển các điểm
nhìn. Mạc Ngôn đã sử dụng thủ pháp này hầu như trong tất cả các sáng tác
của mình. Ở Cao lương đỏ, kết cấu dán ghép điện ảnh được thể hiện ở hai
phương thức sau: Dán ghép biến cố, sự kiện và dán ghép không gian - thời
gian.
1. Dán ghép biến cố, sự kiện
Cao lương đỏ là chuyện đời của Đái Phượng Liên và Từ Chiếm Ngao.
Chuyện đời ấy như một sự hoà trộn giữa sử thi tình yêu và sử thi lịch sử
bởi nó gắn với chiến công chống Nhật của người dân Đông Bắc Cao Mật
do Từ Chiếm Ngao làm thủ lĩnh. Chuyện đời của họ còn là chuyện tình -
một mối tình do ''cướp đoạt'', nổi loạn mà có được, mà đơm hoa kết

trang 134: kiệu hoa của bà đi vào nhà họ Đơn , bà cầm con dao trên tay,
ngồi suốt hai đêm tân hôn , trên đưòng về nhà mẹ đẻ, Từ Chiếm Ngao
cướp bà chạy vào ruộng cao lương; trang 139: trong tiếng súng và tiếng
kèn vọng lại, Đậu Quan bốc đất nhét vào vết thương để cầm máu cho bà;
trang 140: Phượng Liên cùng "kẻ cướp" ân ái trong ruộng cao lương; trang
143: bà sắp chết, Đậu Quan chạy đi gọi tư lệnh Từ; trang 147: bà chết,
trang 148: trận đánh đến hồi ác liệt; trang 156: tư lệnh Từ đến vuốt mắt cho
bà; trang 159: tiếng súng càng dữ dội, chi đội trưởng Lãnh đem quân tiếp
ứng, kết thúc trận đánh Từng mảng sự kiện đã được cắt rời ra, dán ghép
vào nhau với một sự tuỳ tiện cố ý, vừa cùng một lúc kéo căng 4 sợi dây
kịch tính hết mức, vừa có tác dụng làm chùng lại từng sự căng thẳng một,
vừa buông vừa bắt, vừa vờn vừa thả khiến câu chuyện cuốn hút độc giả
đến cùng. Chúng ta có cảm giác Mạc Ngôn là nhà quay phim lão luyện
muốn thâu tóm toàn bộ các sự kiện và chuyển tải tất cả những gì ghi được
đến ngay với khán giả khiến người đọc quên mất mình đang đọc tác phẩm
mà như đang được xem một cuốn phim nóng luân phiên các cảnh.
Cũng như vậy, tất cả các sự kiện khác trong tác phẩm đều không
được Mạc Ngôn trình bày theo diễn biến một chiều, trước - sau, nhân - quả
mà đựơc phá tan ra từng mảnh rồi ném vào mỗi chương một vài mảnh.
Toàn tác phẩm là những mảnh sự kiện khác nhau đứng cạnh nhau như một
mớ hỗn độn. Muốn có một cái nhìn trọn vẹn về các sự kiện, người đọc phải
tự sắp xếp các mảnh vỡ đó lại, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể
để khám phá ra một hiện thực mới mẻ.
2. Dán ghép không gian, thời gian
Theo GS. Lê Huy Tiêu, "nghệ thuật xử lý không gian và thời gian trong
tiểu thuyết của Mạc Ngôn giống như trong phim trường của trường phái
hiện đại chủ nghĩa, vừa tồn tại một kết cấu nội taị, vừa có một kết cấu ngoại
tại. Bản thân cốt truyện có thời gian tuyến tính, nhưng xuất phát từ điểm
nhìn của ''tôi'', ''tôi'' cắt cốt truyện ra thành nhiều đoạn, sau đó dùng ký ức
ảo mộng của ''tôi'' để tái tạo nên một thế giới hoàn toàn mới"

nhân vật của Mạc Ngôn, cao lương là cuộc sống, là khí trời, là tình yêu, là
tất cả. Họ ăn hạt cao lương để sống, hít thở mùi thơm tinh khiết của phấn
hoa cao lương để xinh đẹp hơn, uống rượu cao lương để trưởng thành,
đánh thuốc nổ vào quân thù bằng bùi nhùi bện từ lõi cây cao lương, yêu
nhau trên đống lá cao lương, chặt cành cao lương để phủ lên thi thể người
yêu, người đồng đội đã hy sinh Cao lương là nơi họ trở thành kẻ cướp,
thổ phỉ, cũng là nơi họ trở thành anh hùng cứu quốc. Dung chứa hết thảy
những biến động của cuộc đời, cao lương là không gian để sống và để chết
của các nhân vật trong Cao lương đỏ. Có thể nhận thấy tầm quan trọng của
không gian cao lương trong tác phẩm bởi hai từ cao lương được nhắc đi
nhắc lại đến 255 lần. Một tác phẩm dài chỉ vẻn vẹn 155 trang sách nhưng
có đến 100 trang có từ "cao lương" xuất hiện, trong 100 trang ấy, trang
nhiều nhất có đến 8 từ. 255 là một con số biết nói. Mật độ dày đặc của "cao
lương" trong câu chữ, sự vây bủa của cao lương trong không gian tác
phẩm đủ để nói lên tình yêu quê hương của Mạc Ngôn và của các nhân vật
mà ông sáng tạo nên. Không gian ấy, tình yêu ấy là bất biến.
Tuy nhiên, không gian bất biến của cao lương lại trở nên đa biến khi
được can thiệp bằng thủ pháp dán ghép điện ảnh. Khi dòng hồi ức của
nhân vật trỗi dậy, cao lương của ngày xưa, của hôm qua và hôm nay cùng
hiện hữu, rách rời, chắp vá, chồng chéo vào nhau. Cánh đồng, bờ sông,
khoảng sân, công trường, chiến trường từng mảnh vỡ của chúng được
vãi tung toé một cách cố ý trong tác phẩm. Người đọc như đang được ghé
mắt vào ống kính của nhà quay phim lia nhanh đến những khoảng không
gian khác nhau: từ con đường nhỏ hẹp trong ruộng cao lương đang nín thở
nhìn đoàn quân phục kích đi qua bỗng quay sang khúc sông Mặc Thuỷ, nơi
Đậu Quan và ông La Hán bắt cua, tiếp đó là sân nhà Phượng Liên, nơi bà
say rượu tựa lên đống lá cao lương van vỉ ông La Hán ở lại Cứ như thế,
không gian này đặt cạnh không gian kia, chuyện này tiếp chuyện nọ, tưởng
đứt lại nối, tưởng nối lại đứt, có khi thoáng qua, có khi dừng lại, càng lúc
càng khắc sâu trong độc giả vẻ đẹp của hình tượng không gian. Quả là

sự xáo trộn ấy là vì nhà văn đã đặt điểm nhìn theo dòng hồi ức của người
kể chuyện '''tôi''. Mà hồi ức thì khó có thể đi theo đường thẳng, vì vậy hồi ức
của "tôi" đã bẻ gãy thời gian tuyến tính thông thường, để điểm nhìn của
mình mặc cho hồi ức, cho liên tưởng lôi cuốn và chi phối.
Mở đầu tác phẩm là mốc thời gian của đêm 9/8/1939, đội quân của tư
lệnh Từ đi phục kích quân Nhật. Tiếp đó là chiều đi ngược của thời gian
nhằm giải thích vì sao tư lệnh Từ phải đứng lên chống Nhật: quân Nhật đến
làng gây tội ác, dân làng theo tư lệnh Từ phục thù. Mở đầu tác phẩm là ''bố
tôi'' - hạt giống của ''ông tôi'' và ''bà tôi''- đã hơn 14 tuổi, ''bà tôi'' đã 30 tuổi;
cuối tác phẩm mới là sự ra đời của ''bố tôi'' trong ruộng cao lương 14 năm
về trước, lúc ấy ''bà tôi'' là cô dâu trẻ 16 tuổi của nhà họ Đơn đã hoà trái tim
bất kham của mình với ''ông tôi'' - người phu khiêng kiệu. Kết quả của mối
tình đầy khổ đau và cuồng loạn ấy chính là ''bố tôi''.
Tuy nhiên, thời gian nghệ thuật không chỉ đơn giản là bị trôi ngược từ
hiện tại trở về quá khứ, từ kết quả đến nguyên nhân mà còn bị bẻ gãy, xáo
trộn bởi dòng hồi ức của người kể chuyện và nhân vật. Vì vậy, quá khứ xa,
quá khứ gần, hiện tại, tương lai cứ ngược xuôi, đan dệt vào nhau, khiến
thời gian nghệ thuật cuả tác phẩm không còn là dòng thời gian nữa mà là
mạng thời gian. Trang 9: mốc thời gian là năm 1939, lúc Đậu Quan 14 tuổi
theo tư lệnh Từ đi phục kích quân Nhật; trang 16: Đậu Quan lên 5, đi bắt
cua cùng ông La Hán; đầu trang 19: năm ngoái (1938), ông La Hán bị quân
Nhật hành hình; cuối trang 19: bảy tám năm trước, bà say rượu ôm lấy vai
ông La Hán trong sân ; trang 20: nối tiếp trận phục kích của trang 9; trang
26: mấy chục năm sau, tác giả về quê tìm hiểu trận chiến đấu nổi tiếng ấy
của ông bà nội mình; trang 30: Nhật đến bắt ông La Hán; trang 48: quay trở
lại đêm phục kích 9/8/1939; trang 50: trước đó mấy ngày, bàn kế hoạch
đánh Nhật; trang 65: tiếp chuyện năm 1938, ông La Hán bị hành hình ;
trang 80: 14 năm trước, Phượng Liên lọt vào mắt Đơn Đình Tú; trang 81:
Phượng Liên 6 tuổi, bó chân Cứ như thế, theo dòng hồi ức miên man và
những liên tưởng giàu xúc cảm của nhân vật, các chiều của thời gian mặc

thần chết mà phần thắng không thuộc về bà nữa, hiện tại, quá khứ và
tương lai chen nhau uà về: ''Tất cả quá khứ như những trái cây thơm phức,
rơi nhanh như mũi têm cắm vào đất; còn tất cả tương lai, bà chỉ có thể lờ
mờ nhìn thấy những vòng sáng mờ dần rồi tắt hẳn. Chỉ có hiện tại ngắn
ngủi, vừa dính, vừa trơn, bà gắng sức nắm lấy không buông tay '' (tr.1423).
Các chiều của thời gian cùng hiện ra trong khoảnh khắc nghiệt ngã của
hiện tại, khoảnh khắc mà cán chuôi của thế giới nhân sinh sắp tuột khỏi tay
bà. Nhưng hiện tại của bà lại là quá khứ, thuộc về quá khứ so với hiện tại
của ''tôi'' - người kể chuyện. Vì vậy, có hai hiện tại đồng hiện trong tác
phẩm. Hiện tại của ''tôi'' - thời gian mà tôi đang sống và kể chuyện, hiện taị
của ''bà tôi'', ''ông tôi'', ''bố tôi'' - thời gian mà họ đã sống và chết - cùng
hoà lẫn vào nhau. Hiện tại được đan dệt với nhiều chiều ngược xuôi của
quá khứ sâu thẳm và tương lai xa vời ấy hội tụ tất cả những gì mà ông bà
và bố đã từng nếm trải, tất cả những gì mà "tôi" thấu suốt, chiêm nghiệm.
Hiện tại cuả ông bà đã vụt tắt nhưng lại sống dậy đẹp đẽ trong hiện tại của
chính ''tôi'' như một huyền thoại.
Ở chương 8 của Cao lương đỏ, chúng ta còn thấy đựơc tài năng của
Mạc Ngôn trong việc tổ chức thời gian nghệ thuật của tác phẩm qua kỹ
thuật dàn trải thời gian. ''Bà tôi'' trúng đạn, từng giây từng phút xa lìa thế
giới nhân sinh. Mạc Ngôn đã cố tình kéo giãn khoảng ngắn ngủi vô cùng đó
để miêu tả cảm giác của một con người yêu vô cùng thế gian này nhưng
buộc phải vĩnh biệt nó. "Bà nằm đó tắm gội trong sự ấm áp, thanh cao của
ruộng cao lương, bà cảm thấy mình nhẹ như con chim én, trượt nhẹ nhàng
thoải mái trên những bông cao lương''(142). Bà đối thoại với thần chết, với
trời của bà, với chim bồ câu, với con trai và người tình như một cách tự
thức tỉnh trước cơn ngủ mê đang ập đến có thể kéo bà chìm vào hư vô bất
cứ lúc nào. Bà cố giữ hiện tại mong manh và ngắn ngủi của mình bằng mọi
cách, kể cả cách điểm lại lịch sử 30 năm của đời mình. Trong dòng hồi ức
miên man của bà, lịch sử ấy như những bức hình trong chiếc đèn kéo quân
quay chậm lại với "bao nhiêu khuôn mặt căm thù, cảm kích, hung hãn, đôn

qua thi pháp kết cấu của tác phẩm. Được kết cấu theo kỹ thuật dán ghép
điện ảnh, thông qua ba dòng hồi ức của ba thế hệ, tác giả đã tạo nên một
chuỗi hình tượng phức hợp về nhân vật, sự kiện, điểm nhìn, giọng điệu,
không gian và thời gian. Chính sự phức hợp ấy đã "ghi điểm" cho Mạc
Ngôn trong thi pháp kết cấu Cao lương đỏ, và có lẽ đó cũng chính là một
trong những ưu thế khiến các giải thưởng văn học trong và ngoài nước về
tay tác phẩm này./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status