SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ TRÒ CHƠI GIÚP HỌC SINH
KHIẾM THÍNH
LỚP DỰ BỊ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
1
MỘT SỐ TRÒ CHƠI GIÚP HỌC SINH KHIẾM THÍNH
LỚP DỰ BỊ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, giao tiếp là một nhu cầu rất quan trọng và không thể
thiếu đối với đời sống của con người. Thông qua giao tiếp giúp cho con người hiểu
biết lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm, thu nhận thông tin từ thế giới bên ngoài qua đó
mở rộng tầm hiểu biết và nâng cao đời sống tình cảm cho bản thân, … Nhưng để
có thể giao tiếp được chúng ta cần có một phương tiện và đó chính là ngôn ngữ.
Tất cả những trẻ em bình thường khi đến trường các em đều có vốn ngôn ngữ
nhất định (ngôn ngữ tiền học đường). Nhưng đối với trẻ khiếm thính thì hầu như
không có. Ngôn ngữ của các em là những cử chỉ, hành động tự nhiên nhằm truyền
tải những nhu cầu, mong muốn của mình với mọi người xung quanh. Tuy nhiên,
2
- Khiếm thính làm chậm quá trình phát triển các kỹ năng tiếp thu và diễn đạt
thông tin.
- Khiếm thính gây mất cân bằng ngôn ngữ dẫn đến những khó khăn về học
tập và tiếp thu làm giảm học lực.
- Khiếm thính làm các kỹ năng giao tiếp không phát triển thường dẫn đến sự
cô lập về mặt xã hội và khả năng tư duy kém.
- Khiếm thính ảnh hưởng quá trình nghề nghiệp, cơ hội hoà nhập vào xã hội
của trẻ sau này.
1.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ ở trẻ khiếm thính.
Ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kỹ năng giao
tiếp, nó được coi như là một phương tiện chủ yếu trong giao tiếp. Vì vậy mức độ
phát triển ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đối với khả năng giao tiếp của trẻ khiếm
thính.
Trẻ nghe bình thường ngay từ khi sinh ra trẻ đã phải học để hiểu được những
âm thanh mà chúng nghe thấy, trẻ có thể nhận ra giọng nói của mẹ và những người
thân trong gia đình của trẻ và rất nhiều những âm thanh khác của cuộc sống bên
ngoài.
Đối với trẻ khiếm thính bị mất đi sức nghe ngay từ khi mới sinh ra, trẻ sẽ
không hiểu được lời nói vì trẻ không nghe được, từ đó mất đi tiến trình học ngôn
ngữ đầu tiên này, mất đi thời kì thuận lợi nhất của việc học ngôn ngữ . Do vậy,
việc phát triển ngôn ngữ và bổ sung vốn ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng quan trọng và
cấp thiết để sớm bù đắp vốn ngôn ngữ thiếu hụt cho học sinh khiếm thính.
1.2.1. Đặc điểm ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính.
Ở trẻ bình thường, ngôn ngữ nói được phát triển trong quá trình giao tiếp.
Nhờ thính giác, trẻ tiếp nhận tiếng nói của những người xung quanh. Đến 4-5 tuổi,
trẻ nghe rõ và phát ra đúng phần lớn các âm, nắm được quy tắc cơ bản, có số lượng
từ đáng kể.
Ngôn ngữ nói của trẻ điếc có một số đặc điểm như sau:
này rất nhanh. Do các em bị mất sức nghe, từ khi mới sinh ra để có thể giao tiếp và
diễn đạt ý của mình các em đã phải dùng tới ngôn ngữ cơ thể, nét mặt cử chỉ, điệu
bộ, … và những điều này là tiền đề của ngôn ngữ kí hiệu.
1.3. Thực tế việc học ngôn ngữ của trẻ khiếm thính lớp dự bị.
Qua những hiểu biết về tâm lý học lứa tuổi và đặc điểm phát triển ngôn ngữ
của trẻ khiếm thính. Căn cứ vào cơ sở lý luận, kinh nghiệm nhiều năm dạy lớp dự
bị tôi nhận thấy trẻ khiếm thính do những khiếm khuyết về thính giác dẫn đến việc
tiếp thu ngôn ngữ gặp rất nhiều hạn chế và khó khăn cụ thể như: khó khăn trong
viêc bắt chước để phát âm, khó khăn trong việc tư duy và tưởng tượng, … Nhưng
với những phương pháp và hình thức dạy học đơn thuần giáo viên giảng học sinh
lắng nghe thì không thu hút được sự chú ý của trẻ, không mang lại được sự hứng
thú trong khi học, sự tự tin, mạnh dạn, tinh thần đoàn kết trong lớp cho trẻ.
Hơn nữa khả năng tập trung của các em rất kém do độ tuổi nhỏ nên cần có
những hoạt động vui nhộn, có những hoạt động nhẹ đối với chân tay “qua học mà
chơi, qua chơi mà học” như vậy việc tiếp thu ngôn ngữ mới có hiệu quả cao.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.
2.1. Nội dung
Trong thực tế có rất nhiều phương pháp, hình thức để bổ sung vốn từ và phát
triển ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính lớp Dự bị nhưng trong đề tài này, tôi chú
trọng vào một số nội dung chủ yếu sau:
o Luyện cho trẻ phát âm đúng
o Làm giàu vốn từ cho trẻ
o Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
Để thực hiện tốt những nội dung trên tôi đã linh hoạt tổ chức, lồng ghép vào
một số trò chơi sau:
o Trò chơi phát triển thính giác ngôn ngữ
o Trò chơi luyện cơ quan phát âm
4
o Trò chơi phát triển chú ý thính giác
Cách chơi 2: Giáo viên gọi trẻ lên cho nhìn một con vật, sau đó xuống nói tiếng
kêu của con vật đó các bạn khác nói tên của con vật.
Ví dụ: Giáo viên cho một trẻ lên nhìn hình con mèo, trẻ trở về chỗ và nói: “meo,
meo, meo”. Học sinh khác nói tên “con mèo”.
Lưu ý: Giáo viên thường xuyên thay đổi người quản trò để rèn cho học sinh kỹ
năng chơi và làm chủ trò chơi.
5
Hình minh họa trò chơi bắt chước tiếng kêu của các con vật
Trò chơi 2: Chim bay - Cò bay
Mục đích:
- Làm theo hiệu lệnh.
- Trẻ tăng thêm một số vốn từ.
- Rèn kĩ năng nghe.
Cách chơi:
- Cô và trẻ đứng thành hình vòng tròn. Khi cô hô. „„Chim bay‟‟(cò
bay, máy bay bay, …) thì trẻ dang hai tay ra vẫy vẫy. Nếu cô nói „„nhà bay‟‟ (hoặc
ô tô bay, …) thì trẻ phải đứng im.
Lưu ý: Giáo viên phải nói chậm, to, rõ, chuẩn hình miệng, giáo viên có thể thay đổi
nhiều từ như: bướm bay, chuồn chuồn bay, cào cào bay, diều bay, dơi bay, …và
một số từ không trái nghĩa biểu thị không bay được như: giường, tủ, bàn, ghế, cây,
ti vi, xe máy, …Tuy nhiên những từ giáo viên đưa ra cho trẻ chơi, trẻ phải được
hiểu nghĩa những từ đó trước. Khi học sinh đã hiểu luật chơi giáo viên nên thay đổi
cho học sinh làm quản trò để phát huy tính tự tin, mạnh dạn, làm chủ cuộc chơi.
6
Hình minh họa trò chơi bắt bóng
Trò chơi 5: Trò chơi làm theo hiệu lệnh.
Mục đích:
- Học sinh khắc sâu khái niệm về toán.
- Rèn kĩ năng phát âm
Cách chơi:
- Giáo viên cho học sinh đứng theo hình vòng cung. Giáo viên „„to‟‟(
hoặc nhỏ, cao, thấp, dài hoặc ngắn, ít hoặc nhiều, ) tất cả học sinh làm động tác
tương ứng. Giáo viên cho từng học sinh quản trò, học sinh nói các từ „„to‟‟(nhỏ,
cao, thấp, …) giáo viên và các bạn còn lại làm động tác.
Lưu ý: Học sinh đã được học các khái niệm trên và biết các kí hiệu.
Mục đích:
- Rèn luyện cơ lưỡi.
Cách chơi:
- Cô cho trẻ xem tranh hoặc nói. Các con đã thấy con mèo liếm sữa
bao giờ chưa? Nó ăn sữa dính đầy cả hai mép. Nó bèn lấy cái lưỡi liếm cho sạch.
Các em bắt chước mèo liếm sữa xem nào. Cô làm mẫu cho trẻ xem, cô chậm rãi
đưa lưỡi liếm vòng tròn từ môi trên xuống môi dưới và ngược lại. Cho trẻ bắt
chước theo cô.
Trò chơi 2: Thổi chong chóng
Mục đích:
- Giúp trẻ biết điều tiết lượng hơi khi thổi.
Đồ dùng:
- Chong chóng.
Cách chơi:
- Giáo viên phát cho mỗi trẻ một cái chong chóng. Cho trẻ ngồi hình
vòng cung, giáo viên thổi mẫu cho cả lớp cùng xem sau đó giáo viên cho cả lớp
thổi chong chóng thi ai thổi hơi dài hơn.
Trò chơi 3: Bé đánh răng
Mục đích:
- Rèn luyện cơ lưỡi.
Cách chơi:
- Giáo viên hỏi trẻ? Buổi sáng ngủ dậy các con có đánh răng không?
Đánh bằng gì? Bây giờ chúng ta thử đánh răng nhưng không phải bằng bàn chải
mà bằng lưỡi. Các con xem cô làm nhé. Giáo viên lấy lưỡi rà sát vào phía trong
hàm răng trên và dưới, miệng há to. Cô yêu cầu trẻ làm tập thể và cá nhân làm 1
đến 2 lần.
9
Trò chơi 4: Dừng ngựa
Mục đích:
vào kĩ năng của trẻ ở mức độ nào).
Hình minh họa trò chơi phát hiện âm thanh 10
Trò chơi 2: Phân biệt âm thanh (Âm thanh là gì?)
Sau khi các em đã có kĩ năng để phát hiện sự xuất hiện của âm thanh, giáo
viên cho trẻ chơi trò chơi này.
Mục đích:
- Giúp trẻ phân biệt hai loại âm thanh với nhau.
- Rèn kĩ năng nghe.
Đồ dùng:
- Trống, tiếng vỗ tay,
Cách chơi:
- Tổ chức chơi tương tự trò chơi 1, nhưng khác nhau về việc quy
định màu. (Màu xanh là tiếng trống; màu đỏ là tiếng vỗ tay, …).
Lưu ý: Trò chơi này có thể chơi với nhiều loại âm thanh khác nhau, kể cả âm thanh
ngôn ngữ, số lượng âm thanh trong một bài nghe có thể nhiều hơn.
Ví dụ: Cho trẻ phân biệt giữa tiếng trống với tiếng còi, tiếng chuông với tiếng vỗ
Bảng 1:
Học lực môn Tiếng Việt trước và sau khi sử dụng trò chơi.
Lớp
Độ
tuổi
TSHS/nữ
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Dự
bị
Từ
5 đến
8
10/4
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Đầu năm 2
20%
trò chơi
(từ)
1
Nguyễn Huỳnh Tuấn Anh
Khoảng 30 (từ)
Khoảng 230 (từ)
2
Nguyễn Linh Hằng
Khoảng 25 (từ)
Khoảng 150 (từ)
3
Trần Trung Hiếu
Khoảng 20 (từ)
Khoảng 100 (từ)
4
Phan Tuấn Kiệt
Khoảng 15 (từ)
Khoảng 100 (từ)
5
Trần Thành Nhân
Khoảng 30(từ)
Khoảng 160 (từ)
6
Nguyễn Thanh Phương
Khoảng 30 (từ)
Khoảng 130 (từ)
7
Cù Duy Tân
Khoảng 10 (từ)
Khoảng 50 (từ)
kết, sự gắn kết thân thiện gần gũi giữa cô và trò.
Bảng 3:
Kỹ năng nghe trước và sau khi sử dụng trò chơi.
STT
Họ và tên trẻ
Trƣớc khi tác
động trò chơi
Sau khi tác động trò
chơi
Số lƣợng âm
thanh, số lƣợng từ
nghe đƣợc
Số lƣợng âm thanh, số
lƣợng từ nghe đƣợc
1
Nguyễn Huỳnh Tuấn Anh
(có máy trợ thính)
Khoảng 10
Khoảng 110
2
Nguyễn Linh Hằng
(không có máy trợ thính)
Khoảng 5
Khoảng 5
3
Trần Trung Hiếu
(không có máy trợ thính)
Khoảng 5
Khoảng 5
4
Nguyễn Minh Trí
(không có máy trợ thính)
Khoảng 5
Khoảng 5
Sau khi áp dụng trò chơi vào dạy học, kỹ năng nghe của các em được nâng
lên rất nhiều, các em ngoài việc nghe được âm thanh như: tiếng trống, tiếng
chuông, tiếng kèn, tiếng gõ hai thanh gỗ, tiếng vỗ tay, còn nghe được âm thanh
ngôn ngữ như: tên học sinh, tên các loại đồ dùng, tên các loại hoa, quả, con vật,
Sức nghe của các em tăng lên, em nghe được nhiều nhất là 100 từ, em thấp nhất là
5 từ còn trẻ không có máy trợ thính thì sức nghe vẫn giữ nguyên như hồi đầu năm.
Điều quan trọng là qua trò chơi giúp các em rất hứng thú và chủ động trong việc
nghe. 13
Bảng 4:
Kỹ năng phát âm trước và sau khi sử dụng trò chơi.
STT
Họ và tên trẻ
Trƣớc khi tác động
trò chơi
Sau khi tác động
trò chơi
Số lƣợng âm thanh, số
lƣợng từ nghe đƣợc
Số lƣợng âm
thanh, số lƣợng
từ nghe đƣợc
Khoảng 5
Khoảng 15
9
Nguyễn Thanh Anh Thy
Khoảng 10
Khoảng 40
10
Nguyễn Minh Trí
Khoảng 10
Khoảng 40
Sau khi áp dụng trò chơi, kỹ năng phát âm của học sinh tiến bộ rõ, biểu hiện
là sự linh hoạt của cơ quan phát âm, sự bật luồng hơi, kỹ năng đặt cấu âm, trẻ có
kỹ năng nhìn hình miệng và kỹ năng bắt chước cách phát âm, bên cạnh đó số lượng
âm, từ học sinh phát âm được cũng tăng cao, tăng nhiều nhất khoảng 160 âm, từ
tăng ít nhất khoảng 10 từ. Tuy nhiên trong quá trình trẻ bắt chước giáo viên cần
chú ý để chỉnh sửa lỗi cho trẻ.
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Qua một năm thực hiện việc sử dụng trò chơi vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ
khiếm thính lớp Dự bị. Tôi mạnh dạn đề xuất một số ý kiến sau:
1. Đối với giáo viên
- Chọn chủ đề chơi phù hợp với trẻ có yếu tố kích thích, sống động, màu sắc và thu
hút trẻ.
- Lập mục tiêu dựa trên mức độ giao tiếp của trẻ. Cần nắm được tâm lý, kĩ năng,
trình độ của từng em.
- Quan sát và linh hoạt lồng ghép, đan xen các từ ngữ vào trong trò chơi. Phát triển
ngôn ngữ cho các em mọi lúc, mọi nơi, thông qua tất cả các hình thức và hoạt
động.
- Ưu tiên hàng đầu cho việc nghe, tận dụng sức nghe còn lại của trẻ (luyện kỹ năng
nghe mọi lúc mọi tình huống), thường xuyên chỉnh âm cho trẻ.
quý thầy cô giáo, hội đồng xét duyệt. Tôi xin chân thành cảm ơn.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tuyển tập trò chơi phát triển ngôn ngữ Bộ giáo dục và đào tạo, Trường
Cao Đẳng Sư Phạm Mẫu Giáo Trung Ương III, Tài liệu lưu hành nội bộ. Nguyễn
Thị Phương Nga.
2. Phƣơng pháp dạy phát âm cho trẻ khiếm thính.Trường Đại học Sư
Phạm Hà Nội, Trần Thị Thiệp (2006)
3. Đặc điểm tâm lý cuả trẻ khuyết tật, trung tâm đào tạo và phát triển giáo
dục đặc biệt, Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội, Nguyễn Quang Uẩn (2004).
Biên Hòa, ngày 28 tháng 4 năm 2012.
NGƢỜI THỰC HIỆN
Lê Thị Huệ