Văn học Nga "Thế kỷ Bạc" như một chỉnh thể phức tạp - Pdf 19

Văn học Nga "Thế kỷ Bạc"
như một chỉnh thể phức tạp
Lời người dịch: Nghiên cứu văn học thập niên cuối thế kỉ XIX, hai thập niên
đầu thế kỉ XX (thường được gọi là văn học giao thời hai thế kỉ) các nhà nghiên cứu
Nga đã đưa ra khái niệm “văn học thế kỉ bạc” vừa với ý nghĩa tiếp nối với văn học cổ
điển thế kỉ XIX được mệnh danh là “văn học thế kỉ vàng”, vừa để chỉ ra sự khác biệt
giữa hai thực tại nghệ thuật này. Ở thời kì Xô viết, văn học thế kỉ bạc chưa giành được
sự chú ý thích đáng của các nhà nghiên cứu, chính vì vậy, sau Cải tổ, Viện Văn học thế
giới mang tên M. Gorki đã thành lập hẳn một ban chuyên môn nghiên cứu văn học
giai đoạn này. Giáo sư V.A. Keldysh là trưởng ban, đồng thời là một trong những
chuyên gia về văn học thế kỉ bạc. Bài viết Văn học Nga “thế kỉ bạc” như một chỉnh thể
phức tạp của ông là một trong ba bài tổng quan trong bộ sách Văn học Nga giao thời
thế kỉ - Những năm 1890 - đầu những năm 1920 (gồm 2 tập do IMLI xuất bản năm
2000). Đây là một bài nghiên cứu dài với những chú thích dầy đặc. Để chuyển thành
một bài báo đăng tạp chí, chúng tôi làm theo phương thức: có những phần lược bớt
những chi tiết xét thấy không cần thiết, có phần dịch toàn bộ. Chúng tôi cố gắng dịch
sao cho có thể đăng bài nghiên cứu của giáo sư thành hai đợt với số trang phù hợp với
khuôn khổ một bài tạp chí mà vẫn giữ được kết cấu và chuyển tải được đầy đủ nội
dung .
Sự chuyển đổi sâu sắc tư duy hình tượng, ở dạng thức chung nhất, được xác định
là cái đã diễn ra trong ý thức thẩm mĩ của nước Nga giao thời thế kỉ XIX-XX, xuất phát
từ những nhu cầu nội tại của sự tự thân phát triển nghệ thuật (trước ngưỡng cửa của thời
đại nghệ thuật mới nhiều nền văn học thế giới cũng nằm ở giao thời thế kỉ). Bên cạnh đó
còn có những nguyên nhân thuộc loại khác - những nguyên nhân dân tộc - lịch sử.
Khởi đầu của giai đoạn mới trong lịch sử nước Nga là sự thoát ra khỏi những năm
1880 đầy khủng hoảng, khi, theo lời V.G. Korolenko, “tính chất phản động của chính
phủ song hành cùng sự phản ứng sâu sắc của các tầng lớp xã hội”
(1)
. Song ngay những
năm 1880 đã xuất hiện những dấu hiệu rõ ràng báo trước sự đổi mới gắn với thập kỷ tiếp
theo - bước ngoặt đối với đời sống đất nước. Những năm 1890 dần hình thành sự nhìn

(4)
. Blok rõ ràng rất gần gũi với
Tolstoi trong cảm nhận về tính trọng đại của cái đang diễn ra ở giao thời thế kỉ, cũng sử
dụng những từ như “bước ngoặt”, “cái bắt đầu” – trong ý nghĩa rộng lớn và cơ bản (về
thực chất, ý nghĩa tôn giáo) hơn là những tai biến xã hội diễn ra trong thời đại. Tuy
nhiên, cũng như Tolstoi, ông thừa nhận (mặc dù không trực tiếp như thế) ý nghĩa của
lịch sử chính trị Nga như cú huých đầu tiên trong các quá trình đó. Bởi chính ở nước
Nga tháng Giêng năm 1901 tràn ngập làn sóng biểu tình chính trị rõ ràng mang dấu hiệu
khác với những gì diễn ra ở tháng Chạp năm trước.
Cũng trong cái tháng Giêng mà Blok nhắc tới, A.M. Gorki viết cho K.P.
Piatnistki phản ứng những vấn nạn chính trị của thời đại: “( ) thế kỉ mới - rõ ràng sẽ là
thế kỉ của sự đổi mới tinh thần ( ) sẽ có nhiều người chết, song ( ) cuối cùng thì cái đẹp
và sự công bằng sẽ vượt qua, những khát vọng tốt đẹp nhất của con người sẽ chiến
thắng”
(5)
.
Tolstoi, Blok, Gorki là những cực khác nhau của văn học Nga thời đại đó. Mỗi
người lí giải thời đại lịch sử biến động chưa từng thấy ấy theo những cách khác nhau,
song điểm chung giữa họ là sự cảm nhận về “một bước ngoặt vĩ đại”. Nhà văn Nga cảm
nhận ranh giới của kỉ nguyên mới ở nước Nga như sự bắt đầu những con đường mới của
nhân loại. Và ảnh xạ nghệ thuật của những con đường này chính là văn học, nghệ thuật
“kỉ nguyên bạc”. Nhiều người cũng cùng ý kiến như vậy.
Khoa nghiên cứu văn học thời Xô viết dường như quay mặt lại với sự thật rõ
ràng này. Phủ nhận toàn bộ những gì mà nó đã làm được (rất tiếc điều này hiện vẫn
đang diễn ra) là không công bằng. Những nghiên cứu thời gian gần đây nhìn nhận lại
một cách phê phán những quan điểm trước đó, phải chịu ơn những giá trị mà các bậc
tiền bối, bất chấp sức ép của hệ tư tưởng, đã tạo ra được (chẳng hạn như các công trình
của B.V. Mikhailovski). Những công trình xuất sắc đã chuẩn bị cơ sở cho tương lai.
Tuy vậy, cái nền chung của nghiên cứu văn học trong vòng hàng thập niên đây không
có gì đáng phấn khởi. Trở thành nạn nhân của những tín điều thời kì sau cách mạng

Thí dụ, điển hình cho điều này là sự kiện văn học cuối những năm 1890, đó là sự
tiếp nhận lạ lùng của V.Ia. Briusov (nhà tượng trưng chủ nghĩa tiêu biểu thời kì này)
phần đầu thiên khảo luận của L. Tolstoi có tên Nghệ thuật là gì? in tháng 12 năm 1897-
tháng Giêng năm 1898, lúc đầu trên tạp chí, sau là ấn phẩm riêng. (“Tư tưởng của
Tolstoi thật trùng khớp với tư tưởng của tôi, đến nỗi thời gian đầu tôi lấy làm bất bình,
định viết “thư cho toà soạn” để phản đối”
(6)
và tiếp sau đó là lời kêu gọi Tolstoi thừa
nhận ông, Briusov, là người kế thừa tư tưởng của ông về nghệ thuật như một “phương
tiện giao tiếp”. Tuy nhiên, đằng sau những thể hiện bề ngoài có vẻ tức cười đó, ẩn giấu
cảm giác nghiêm túc sự gần gũi những quan điểm mĩ học cơ bản
(7)
.
Những tiếp xúc mang tính báo hiệu xuất hiện trong những năm của cuộc cách
mạng đầu tiên ở nước Nga. Đó là sự kiện Gorki tới thăm Viacheslav Ivanov vào đầu
tháng Giêng năm 1906. Tại cuộc gặp gỡ này Gorki đã nói rất nhiều về sự liên kết những
phe phái văn học. Trong cuộc họp tiếp sau đó, Gorki nói rằng “ở nước Nga sẽ chỉ có
nghệ thuật, rằng ở đây chúng ta là những “người thú vị nhất” nước Nga, rằng ở đây
chúng ta là “chính phủ” của nó, rằng chúng ta cần phải toàn quyền thống trị, rằng nhà
hát kịch của chúng ta cần phải được xây dựng trên một phạm vi to lớn ( )”. Những phát
biểu của Gorki tràn đầy xúc cảm lãng mạn hùng biện. Mặc dù trên “tháp” của V. Ivanov
người ta nói tới những dự định, kế hoạch nghệ thuật chung, song nhu cầu liên kết, gần
gũi của các nhóm phái nghệ thuật lại xuất phát từ những nguyên nhân khác - tinh thần
chống đối chung đối với chế độ chính trị hiện tồn. Vào tháng Mười năm 1905, S.A.
Vengerov trong thư gửi V. Ivanov đã trịnh trọng thông báo: “Vậy là, chủ nghĩa tượng
trưng cũng đã gia nhập phong trào giải phóng”
(8)
. Chính bằng cảm hứng phản kháng xã
hội mãnh liệt trong những tác phẩm của mình các nhà tượng trưng và các nhà hiện thực
đã gặp gỡ nhau ở thời kì này.

(13)
.
Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện thực mới” - thường được gọi là “chủ nghĩa tân hiện
thực” được phổ biến rộng rãi chính vào giai đoạn văn học đã nói tới (cuối 1900-1910). Ở
giai đoạn này, nhiều khuynh hướng sáng tác tiêu biểu gắn với nó. Cần lưu ý rằng khái
niệm này mang nhiều nghĩa khác nhau.
Một mặt, “chủ nghĩa hiện thực mới” được xem như các quá trình nảy sinh bên
trong phong trào hiện thực: tách khỏi chủ nghĩa tự nhiên cuối thế kỉ XIX, trở về với
truyền thống của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và đổi mới nó, trong đó có tính tới việc sử
dụng những thành tựu “kĩ thuật” của các nhà hiện đại chủ nghĩa. Nhưng giới phê bình
lúc ấy còn mong muốn một sự cởi mở lớn hơn trong thái độ của chủ nghiã hiện thực
đương thời đối với kinh nghiệm nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, tiến tới hoà nhập với nó
với tư cách một thành tố đặc biệt
(14)
.
Mặt khác, sự lí giải khái niệm “tân hiện thực” được hưởng ứng trong nhóm phái
hiện đại chủ nghĩa, tuy nhiên, nó mang những ý nghĩa đặc biệt. Điều này thấy rõ, thí
dụ, ở những suy nghĩ thấu đáo trong bài viết của M.A. Voloshin Henri de Régnier
(1910). Tác giả thừa nhận tính tổng hợp của hiện tượng nghệ thuật mới, những bài học
có ích đối với ông về sự kết hợp chủ nghĩa hiện thực với “tư tưởng” ( ) dựa trên sự
phân tích và quan sát”, sự hướng tới “thế giới bên ngoài”. Song ông vẫn cho rằng
“lòng mẹ” của nghệ thuật mới này là chủ nghĩa tượng trưng: “Chủ nghĩa tân hiện thực
xuất hiện từ chủ nghĩa tượng trưng” và thậm chí còn được “củng cố trên nền móng của
chủ nghĩa tượng trưng”. Đối với Voloshin “sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa tượng trưng
sang chủ nghĩa hiện thực mới” về thực chất xuất phát từ xung đột nội tại của phong
trào hiện đại chủ nghĩa, song lại mở rộng đáng kể những chân trời mới cho mình. Danh
sách những người phô bầy xung đột đó được bắt đầu bằng Andrei Belyi
(15)
. Tư tưởng
về “chủ nghĩa hiện thực mới” xuất hiện trên mảnh đất của chủ nghĩa tượng trưng còn

.
Sau này khoa học bảo thủ của chúng ta đã phủ nhận những tìm tòi tư tưởng đó,
còn đối với văn học “thế kỉ bạc” thì nó “ra sắc lệnh” về những đối kháng tư tưởng cũng
như đối kháng nghệ thuật, coi đó như dấu hiệu chính của văn học thời kì này.
Điều này diễn ra phần lớn do sự xuất hiện phong trào văn học vô sản trong tiến
trình văn học giao thời hai thế kỉ (đứng đầu là M. Gorki) và đỉnh điểm của nó - chủ
nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Từ đó tới nay một sơ đồ phân bố lực lượng văn học
được xác định – “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa - chủ nghĩa hiện thực phê phán -
chủ nghĩa hiện đại”, đây là một sự lí giải đầy thiên vị và nặng tính ý thức hệ những gì
thực sự diễn ra trong quá trình văn học. Ở giai đoạn hiện tại, tất nhiên không thể sử dụng
sơ đồ này, song cũng cần phải lưu ý tới tính chính xác. Sẽ là không phải, thí dụ, chỉ vì
phản ứng với quan niệm thủ cựu trước đây mà vất bỏ toàn bộ nền văn học vô sản (như
hiện nay nhiều người vẫn thường làm) ( )
Tuy nhiên, nếu như văn học giao thời hai thế kỉ không được khoa nghiên cứu văn
học chúng ta chú ý tới một cách thích đáng, thì các giá trị của nó lại được bảo tồn tích
cực bởi nghiên cứu ở hải ngoại (các nhà văn, nhà nghiên cứu Nga lưu vong và nước
ngoài). “Thế kỉ bạc” từ lâu đã trở thành một trong những đối tượng nghiên cứu hấp dẫn
nhất đối với họ. Trong hàng loạt cách tiếp cận, kinh nghiệm nước ngoài tỏ ra hiệu quả,
đáng học tập. Điều này ở chừng mực đáng kể liên quan tới sáng tác của các nhà văn mà
vì những nguyên nhân khác nhau trở thành persona non grata (người bị bạc đãi) ở ngay
chính quê hương mình.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status