Văn học Nga "Thế kỷ bạc"
như một chỉnh thể phức tạp
(phần cuối)
Vấn đề ngã thể chỉ là một bộ phận trong cái tổng thể to lớn của quá trình văn
học cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX cả ở nước Nga, lẫn ở phương Tây, gắn với
những tìm kiếm triết học tích cực của các nghệ sĩ giai đoạn giao thời. Những vấn đề
về con người cụ thể và các mối quan hệ của nó đối với xã hội, về cá nhân và môi
trường (như đã làm rõ ở phía trên), thường xuất hiện trước văn học Nga cả ở cái
nghĩa “tồn tại”, giống loài và thường được nâng từ bình diện lịch sử tới những phạm
trù triết học. Nền nghệ thuật mới bước vào thế kỉ XX đã lấy cảm hứng về những vấn
đề bản thể đời sống, ưu thắng của các giá trị “vĩnh cửu” đối với các giá trị “nhất thời”
để đối lập với người tiền nhiệm gần nhất của mình (kinh nghiệm nghệ thuật thực
chứng). Sự đòi hỏi bắt rễ sâu vào những chiều kích “rộng lớn” của các giá trị nảy
sinh bởi sự vận động gấp gáp của thời đại. Những thay đổi rộng khắp về phương diện
tinh thần và xã hội-lịch sử mà thế kỉ XX mang lại đã thấm vào từng tế bào nhỏ nhất
của thực tại, cho thấy sự cần thiết nói về cái đang diễn ra, về con người cá nhân, cụ
thể từ điểm nhìn thế kỉ, điểm nhìn thế giới và đời sống nói chung, khát vọng bền bỉ
nhìn nhận quá trình sống dưới ánh sáng của những khởi nguyên phổ quát của tồn tại.
Trong văn học Nga giao thời thế kỉ, cột trụ trên con đường đó, trước hết là hai vị
tiên khu vĩ đại – Tolstoi và Dostoevski. Trong sáng tác của họ, những yếu tố đời sống
bắt rễ sâu vào dòng lịch sử, nhưng lại đầy quyền lực chi phối nó.
Ở cội nguồn “thế kỉ bạc” người thừa kế gần gũi và quan trọng nhất những khát
vọng tư tưởng nghệ thuật đó chính là Chekhov. Đối với phần lớn những người cùng
thời với nhà văn, sự tham dự của ông vào truyền thống triết học của văn học Nga, có
thể ra gây ra những nghi ngờ. Sau một thời gian rất dài, cuối cùng điều đó mới được
nhận ra, và cùng với nó là một vấn đề khác, đó là ý nghĩa vô giá của kinh nghiệm
Chekhov đối với toàn bộ quá trình văn học giao thời thế kỉ, trong đó, có cả nghệ thuật
hiện đại chủ nghĩa mà bản thân nhà văn nói chung tỏ thái độ mỉa mai, xa cách. Còn
thái độ đối với Chekhov của các nhóm phái hiện đại chủ nghĩa cũng khác nhau, song
tựu chung đều không đồng nhất với sứ mệnh đích thực của nhà văn này. Có thể, trong
các nhóm phái đó Andrei Belyi là người cảm nhận tinh tường hơn cả ý nghĩa đời
bản tàn bạo. Nhân vật của truyện, bác sĩ Korolev, “với tư cách một bác sĩ, chẩn đoán
đúng về những đau khổ kinh niên mà nguyên nhân sâu xa của nó là không thể hiểu và
không thể chữa trị, và anh nhìn khu nhà xưởng như nhìn một cái gì đó bị ngộ nhận
(…); Anh có cảm giác, bằng những con mắt đỏ rực ấy (những ô cửa sổ của nhà
máy – V.K) kẻ nhìn anh chính là quỷ, cái sức mạnh huyền bí đã tạo nên mối quan hệ
giữa những người mạnh và những kẻ yếu, đã gây ra lỗi lầm nghiêm trọng đó (…)
Đấy không còn là quy luật, mà là sự phi lí mang tính lôgic, khi mà cả người mạnh lẫn
kẻ yếu đều trở thành nạn nhân như nhau trong những mối quan hệ ràng buộc, lệ thuộc
một cách vô thức vào một sức mạnh định hướng nào đó, không hiểu nổi, bên ngoài
cuộc sống, xa lạ với con người”
(58)
.
Những tư tưởng mà tác giả cảm nhận được ấy có ý nghĩa gì? Phải chăng vào
cuối thế kỉ XIX ông muốn làm sống lại trong tinh thần của chủ nghĩa khai sáng “cũ”
quan điểm về lịch sử như một chuỗi “những sai lầm” và “ngộ nhận”? Tất nhiên, mọi
cái phức tạp hơn nhiều. Trong Một trường hợp trong cuộc đời hành nghề, cũng như
trong những tác phẩm khác của Chekhov viết vào thời kì đó, bên cạnh quan điểm lịch
sử còn quan điểm bản thể luận không loại trừ, mà bổ sung cho quan điểm đầu, kiểm
tra thực tiễn bằng mức độ tương xứng của nó đối với sứ mệnh đích thực của con
người. Chính trong bức vẽ thu nhỏ đó, thậm chí bản thân quy luật lịch sử, khi làm
điều ác, đã “không còn là quy luật” nữa, mà là sự “bất hợp lí”. Trong thước đo tư
tưởng đặc biệt đó, bằng cái nhìn triết học, thậm chí cái sức mạnh tạo nên những mối
quan hệ cơ bản nhất (giữa “người mạnh” và “kẻ yếu”) đắc thắng theo kiểu kinh
nghiệm chủ nghĩa trong thực tiễn, chỉ là cái “bên ngoài cuộc sống”, “xa lạ với con
người”. Gắn với hình tượng của cái sức mạnh này (hình tượng “con quỷ”), về thực
chất, còn là đề tài “cái bao” thể hiện trong những tác phẩm nổi tiếng khác của nhà
văn viết vào những năm 1890. Đó là thứ chất liệu chết, ngoại vật, xâm nhập vào cơ
thể sống của cuộc đời, làm méo mó bản chất tự nhiên của con người.
Ngay từ cuối những năm 1880 Chekhov nói lên cái đức tôi tin của mình trong
những lời nổi tiếng từ bức thư gửi A.N. Plesheev: “Tôi không phải người theo phái
thể.
Chekhov, một cách khiêu khích, đã phá bỏ chính cái truyền thống vững chắc
quan tâm đặc biệt tới học thuyết xã hội đó. Là một nghệ sĩ mang tính xã hội sâu sắc,
ông có thái độ hoài nghi đối với sự xác định hệ tư tưởng cụ thể của thời đại mình.
Trong sáng tác, ông đối lập nó với phạm trù bản thể luận (thể hiện ở những từ “thân
xác con người”, “cảm hứng”, “tình yêu”, v.v ) làm tăng dung lượng ý nghĩa triết học
quan trọng mà không một “quảng cáo”, “nhãn mác” nào có thể chứa đựng nổi.
Về phương diện này, Chekhov không chỉ là kết quả, mà còn là xuất phát điểm.
Toàn bộ kinh nghiệm của nhà văn, trong đó có kiểu cảm quan thế giới với sự
“chuyển hướng” từ tính “tư tưởng” sang “tính đời sống”, đóng vai trò vô cùng quan
trọng đối với văn học Nga giao thời thế kỉ. Trong sự “khắc phục” ý thức hệ trên con
đường tiến tới tính đời sống, cùng với Chekhov, những nhà tượng trưng chủ nghĩa
cũng đóng vai trò quyết định. Đây là nói về ý hướng chung, chứ không phải về khả
năng nhìn nhận của các nhà tượng trưng chủ nghĩa trong thái độ, thí dụ, như đối với
Chekhov, hay những người kế thừa họ - các nhà hiện thực chủ nghĩa “sinh sau”.
Đối với các nhà hiện thực chủ nghĩa thế hệ này, con đường tiến tới cảm quan
thế giới đổi mới diễn ra phức tạp hơn, kí ức về chủ nghĩa tư tưởng luận của các bậc
tiên khu có ảnh hưởng lớn hơn đối với họ. Điều này thể hiện đặc biệt rõ trước
ngưỡng của cách mạng 1905-1907 và cả trong tiến trình của nó. “Các bậc thầy ngôn
từ đã biến mất (…) giờ đây chỉ còn lại những nghệ sĩ - người truyền bá những quan
điểm, tư tưởng, nguyên tắc chính trị, xã hội v.v…”
(61)
- Một tác giả không tên tuổi đã
viết trên tạp chí Khán giả năm 1905. Ở đây sức hấp dẫn của “chương trình” xã hội
đối với chủ nghĩa hiện thực thời kì cách mạng được ghi nhận, tuy có phần cứng nhắc
thái quá, song, nhìn chung, là đúng đắn. Tuy nhiên, vào giai đoạn văn học tiếp theo,
trong chủ nghĩa tân hiện thực cuối những năm 1900-1910, thái độ “kiểu Chekhov”
đối với những vấn đề thuộc tư tưởng đã thắng thế và cùng với nó là sự xâm nhập sâu
vào những yếu tố bản thể luận và sự xích lại gần với những nhóm phái văn học khác.
Đáng lưu ý là trong văn học Nga giao thời thế kỉ phổ biến việc tiếp nhận có
đầu về ngã thể cá nhân (Andreev), sự hấp dẫn của tư tưởng “tính nữ vĩnh hằng” của
Soloviev (trong sáng tác của Zaisev thời kì trước cách mạng tháng Mười), v.v
Những quá trình tương đồng về mặt loại hình ta gặp cả ở trong văn học châu
Âu cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX. Sáng tác của một loạt các nhà văn lớn, lúc đầu
phát triển trong lòng chủ nghĩa hiện thực – và thường mang xu hướng tự nhiên chủ
nghĩa khá rõ, sau đó tìm thấy được phẩm chất mới trong tư tưởng nghệ thuật in đậm
dấu ấn phức tạp và mâu thuẫn. Xin đưa ra đây một ví dụ về Auguste Strinberg mà các
tác phẩm đã lôi cuốn được sự chú ý của nhiều nhà văn Nga giai đoạn giao thời thế kỉ.
Ở giai đoạn sáng tác ban đầu của nhà văn, quan niệm theo kiểu E. Zola về con người
bị quy định một cách toàn diện bởi hoàn cảnh sinh học và xã hội chiếm ưu thế, vào
những năm 1880 được thay bằng tư tưởng Nietzsche về cái tôi cô độc và tự kỉ ấn
định cho thực tại những quy luật của mình và tư tưởng này đến lượt nó, vào những
năm 1890, buộc phải rút lui trước bước ngoặt, mặc dù tạm thời, song rất lớn, tiến tới
chủ nghĩa huyền bí trong hình thức “trung đại” của nó. Ngay cả sau này, sự nhìn
nhận thế giới về bản chất như là cái bí hiểm nằm ngoài khả năng nhận biết vẫn còn
tồn tại trong các tác phẩm của Strinberg.
Cùng với sự phức tạp hoá của chủ nghĩa hiện thực Nga (và của những hiện
tượng liên quan tới nó) bởi yếu tố thần bí, thông linh, có thể thấy được cả phong trào
hướng tới bản thể luận trong văn học thế kỉ bạc. Ai cũng biết vai trò của phục hưng
tôn giáo-triết học giao thời thế kỉ như là một trong những môi trường nuôi dưỡng chủ
yếu văn học hiện đại chủ nghĩa ở Nga. Sự gắn bó chặt chẽ của chủ nghĩa tượng trưng
với nó, ở nhiều phương diện, có thể lí giải bởi tính chất của tư tưởng tân tôn giáo nơi
V. Soloviev với quan niệm về “tính thống nhất của tất cả” được hiểu như sự tổng hoà
toàn diện tinh thần và vật chất. Ở những người kế nhiệm của nhà triết học, tính chất
này được thể hiện khác nhau trong tư tưởng làm xích lại chủ nghĩa vô thần với thiên
chúa giáo trên con đường lịch sử nhân loại, ước nguyện kết hợp trong tương lai giữa
“thân xác thần thánh” với “linh hồn thần thánh”, v.v… Không chỉ bước ngoặt trong
tư tưởng nền tảng về đời sống tinh thần, mà bản thân cách tư duy đã khiến các nhà
triết học tôn giáo gần với các nghệ sĩ ngôn từ. Khuynh hướng bản thể luận nổi rõ
trong cảm hứng soi rọi cuộc sống nhân gian một cách siêu hình (“thần thánh hoá vật