Văn học Nga "Thế kỷ Bạc"
như một chỉnh thể phức tạp
Ở nước Nga, những ý kiến về triết gia người Đức này cũng cực kì đa dạng, trong đó phản
xạ phê phán Nietzsche đi trước sự tiếp nhận ông trong sáng tạo nghệ thuật và sau đó thì
thường xuyên đi kèm với nó. Nếu L. Tolstoi (và nhiều người đồng ý kiến với ông) nhìn thấy
ở tư tưởng cái tôi cá nhân của Nietzsche sự cổ suý cho tư tưởng chống xã hội, chống nhân
dân vì lợi ích của giai cấp cầm quyền, còn L. Seshtov (trước hết là cuốn sách có nhan
đề Dostoevski và Nietzsche, 1902 của ông) nhìn thấy “bi kịch triết học”, sự thật chân xác về
con người hiện đại, sự cô đơn và đày ải tiền định của nó, thì những người Nga khác lại giải
thích Nietzsche gần với tinh thần khẳng định. Còn một điều thú vị nữa là sự tiếp nhận đó
xảy ra ở môi trường xa lạ với Nietzsche – ở phe cánh tả đối lập về mặt chính trị với chính
quyền hiện hành. Một số các nhà hoạt động quan trọng của tổ chức này coi Nietzsche như
bạn đồng minh trong cuộc đấu tranh giải phóng cá nhân.
Dấu hiệu đầu tiên xuất phát từ N.K. Mikhailovski, người kiên định bảo vệ ý nghĩa
quan trọng của cuộc nổi dậy tinh thần nơi Nietzsche: “Cá nhân con người đối với ông là
thước đo mọi vật; tuy nhiên, bên cạnh đó, ông đòi hỏi phải có cuộc sống đủ đầy cho nó, đối
lập lại mọi lợi ích, mọi điều kiện có thể giảm thiểu lòng tự trọng của con người, cho nên ở
đây nói về sự ích kỉ trong ý nghĩa dung tục tầm thường của từ này và về cái gọi là “phi đạo
đức” nào đó, là không thể”
(37)
.
Giải thích thái độ “bất ngờ” của Mikhailovski, người ủng hộ “tinh thần vị tha xã hội”,
đối với Nietzsche, khoa học về văn học hiện đại chỉ ra sự khiếm thiếu yếu tố cá nhân trong
tư tưởng xã hội Nga thời kì đó và sự bổ sung bằng “tư tưởng Nietzsche” của Mikhailovski;
nó lưu ý rằng những vấn đề cơ bản mà Mikhailovski bước đầu đề cập tới, sau trở thành đối
tượng luận bàn về Nietzsche, kể cả ở phe thuộc hệ tư tưởng đối lập
(38)
. Những người phản
biện nhau gặp nhau ở cái điểm mà họ đều coi là không thể chấp nhận được nơi Nietzsche –
họ không chỉ nhất tề quay lưng lại “triết học sức mạnh” của ông, (giống như Tomac Man),
mà còn tích cực hạ uy tín của nó, nhưng đồng thời lại chỉ ra rằng cái có giá trị trong học
công tôn giáo quên mình”
(41)
. Nietzsche của Kuprin, ngược lại, đối lập “tình yêu bản thân”
với luân lí Kitô giáo (tình thương “trâu bò” đối với đồng loại, nhưng đồng thời lại có khả
năng cảm nhận “nồng nhiệt” “niềm vui, nỗi buồn của người khác” và suy tưởng về “cuộc
sống tương lai tương tự thánh thần”, trong đó “sẽ không còn nô lệ, không còn chủ nô”
(42)
.
Điểm nhấn đặc biệt vào nội dung nhân văn trong triết học Nietzsche, thậm chí vào yếu tố xã
hội ẩn đằng sau cảm xúc cá nhân, về nhiều phương diện, đã xác định chính nét độc đáo của
“Nietzsche Nga”.
Tiếp nhận ảnh hưởng Nietzsche – không còn nghi ngờ, là đặc tính chung của quá
trình văn học Nga giao thời hai thế kỉ. Nó giúp hình thành một trong những tư tưởng cơ bản
của quá trình văn học này - khẳng định giá trị tự thân của cá nhân - trong những cách hiểu đa
dạng nhất, đôi khi là đối lập. Tuy nhiên, sự tiếp nhận Nietzsche không mang lại điều gì hoàn
toàn mới mẻ cho đời sống tinh thần Nga. Ở lĩnh vực này nó được nuôi dưỡng trước hết bởi
chính những cội nguồn gốc rễ của mình. Nietzsche được đọc thông qua lăng kính truyền
thống văn hoá dân tộc. Điều này, trước hết, lí giải sự chuyển hoá những tư tưởng của triết
gia Đức trong môi trường Nga. Cả tinh thần hợp quần (sobornost) của người Nga cũng nhập
cư vào một “Nietzsche Nga” đã được nhân đạo hóa. Mặt khác, nguồn gốc các yếu tố cá nhân
thuần tuý chủ nghĩa cũng được tìm kiếm trong tư tưởng dân tộc. Ám chỉ những nguồn gốc
đó, năm 1899 V.S. Soloviev viết: “Tôi nhận thấy ở Lermontov, một ông tổ trực tiếp của tâm
trạng tinh thần, của khuynh hướng tình cảm, tư tưởng, đôi khi cả hành động, mà nói ngắn
gọn có thể gọi là “chủ nghĩa Nietzsche”
(43)
. Nói tới “những chiều sâu tăm tối của sự hung
bạo, của ham hố quyền lực vô hạn độ, “điều mà bây giờ được F. Nietzsche lí thuyết hoá”,
N.K. Mikhailovski nhận xét: “… Đối với nhà văn Nga, thậm chí là nhà văn không cần sâu
sắc và hiểu biết lắm, những lời đó không phải không quen biết (…) Thiên tài vĩ đại, nói
thẳng là thiên tài khủng khiếp Dostoevski và tính rõ ràng đến nao lòng của những bức tranh
(47)
, trong đó - đặc trưng cho Dostoevski - nội dung bản thể
rộng lớn nhất hiện ra hoàn toàn mang tính cá nhân, trong những xung đột tinh thần của con
người cụ thể. Cặp đối lập “Chúa trời và quỷ dữ” có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sáng
tác của Dostoevski, còn được nhà văn xác định một cách khác, gần với cốt lõi tư tưởng của
ông hơn, - “Thần - nhân (bogochelovek) và nhân – thần (chelovekobog)”. “Người sẽ tới và
tên Người là nhân – thần”, - Kirilov, một nhân vật trong Lũ người quỷ ám, đã nói lên tư
tưởng cứu thế tâm đắc của mình. “Thần - nhân?” – Stavrogin hỏi lại cho chính xác. “Nhân –
thần, khác nhau ở chỗ ấy đấy”, - Kirilov trả lời. Cặp đối lập này, trên bình diện khái niệm,
được hiểu như sự đối kháng giữa hai quan niệm không tương dung – quan niệm hữu thần và
quan niệm vô thần, “hội thánh” và cá nhân. Nhưng trong thế giới hình tượng của nhà văn,
cặp đối lập này còn hướng tới bản chất tự nhiên của con người, và với tư cách ấy nó đã
không còn mang tính rạch ròi quyết liệt như thế nữa. Trước mắt chúng ta - sự thống nhất của
hai mặt đối lập, trong đó sự gắn kết của cá nhân con người với cái chung cũng quan trọng
như giá trị bản thân nó, ý chí tự do của nó. Nếu như “thần - nhân” gắn với khái niệm về yếu
tố siêu cá nhân trong bản chất con người, thì “nhân – thần” - dấu hiệu của yếu tố cá nhân
trong nội dung hai chiều của nó: sự kính trọng của Dostoevski đối với cái “tôi” độc lập bên
cạnh nỗi sợ hãi trước sự chuyển hoá của ý chí tự do thành chủ nghĩa duy kỉ tùy tiện.
Yếu tố “nhân – thần” của Dostoevski là sự báo hiệu trực tiếp tư tưởng “siêu nhân”
của Nietzsche
(48)
. Về điều này S. Bulgakov cũng đã nói tới, nhấn mạnh sự “vượt trội” của
Dostoevski so với Nietzsche: “(…) tinh thần của nhà viết tiểu thuyết của chúng ta, bên cạnh
tâm hồn Nietzsche-Ivan, còn tỏ ra có khả năng dung nạp cả tâm hồn Aliosa lẫn khí chất tiên
tri của trưởng lão Zosima”
(49)
.
Tính hai chiều và tính mâu thuẫn nội tại – hai “trụ cột” trong tư tưởng của Dostoevski
về con người – phù hợp với quan niệm hai mặt thống nhất về cá nhân con người, mà thực
chất, đã trở thành thành tựu chung của văn học “thế kỉ bạc”. Tính hợp thời của quan niệm
ở nhân vật trữ tình trong thơ của Z.N. Gipnius. Theo nhận xét chính xác của O. Matich,
nhân vật này kết hợp một cách độc đáo những nét của các nhân vật đối kháng của
Dostoevski – “người bảo vệ ý Chúa” và “kẻ chống lại Chúa”. Merezhkovski cũng cố gắng
tìm kiếm con đường tổng hoà. Sự gắn kết dị thường Kitô và phản Kitô trong các tác phẩm
văn học và văn học - triết học của ông không đơn giản là sự phản ứng thần luận đối với
tính lưỡng phân trong bản chất của thần thánh và cũng không chỉ là dấu ấn của “những
xung đột tinh thần bên trong” của nhà văn, được phản chiếu lên cái nền của những mâu
thuẫn đối kháng lịch sử-văn hoá
(50)
, song còn là sự phản ánh tình huống cuộc sống giao
thời thế kỉ - tính hai chiều cực đoan của các yếu tố ngã thể con người. Sự hài hoà, sự “kết
hợp cuối cùng” của các yếu tố này còn ở phía trước, trong tương lai của Giao Ước Thứ ba.
Trường phái tượng trưng chủ nghĩa thế hệ sau cũng thể hiện tính chất phức tạp trong
tiếp nhận cá nhân và sự tham dự của nó trong thế giới. Người ta đưa ra ý kiến về sự đối lập
yếu tố hài hoà trong sáng tác của Blok với yếu tố bất hài hoà trong sáng tác của A. Belyi.
Song sự khác biệt, tất nhiên, không tới mức triệt để: nhân vật trữ tình của Blok nhiều khi bị
chấn động bởi những khủng hoảng của tâm thức “cô liêu”, còn trong thế giới nghệ thuật của
Belyi thường xuyên diễn ra sự tìm kiếm những con đường dẫn tới “tính hợp quần”. Trong
nhánh này của phong trào sáng tác tượng trưng, Viacheslav Ivanov đóng vai trò “người hoà
giải” chính. Trong trường ca Con người (1915-1919) - một trong những tác phẩm thơ của
ông hoàn thành trong giai đoạn trước cách mạng, với cốt truyện trữ tình - triết lí và tính khái
quát đặc biệt, biện chứng của sự đối lập nghiệt ngã giữa yếu tố cá nhân và siêu cá nhân được
kết thúc bằng những lời tán dương sự khắc phục tính đối lập. Tuy nhiên sự tổng hoà chúng
một cách cao cả - vẫn chỉ là kì vọng vào tương lai.
Văn học hiện thực thời kì đó cũng đưa ra những song hành loại hình kì lạ - cả ở
phong trào chung, lẫn ở những hiện tượng riêng biệt
(51)
. Trong dòng văn học này, ở cuối thế
kỉ, sự thể hiện “môi trường quần chúng vẹn toàn” (M.E. Saltykov-tsedrin) theo tinh thần
truyền thống của các nhà văn thập niên 60 thế kỉ XIX và của văn học dân tuý, được đưa
thái độ khinh bỉ tình trạng nô lệ nhiều khi gắn kết với những nét tiêu cực trong tính cách: vị
lợi, cá nhân vô chính phủ. Cách hiểu khác nhau của giới phê bình về hai loại cá nhân đối cực
trong tác phẩm Bà lão Izergil là công bằng, song chưa đủ. Larra - kẻ duy kỉ cá nhân theo
kiểu Nietzsche chà đạp lên người khác và Danko - người vị tha, cuối cùng gắn với nhau bởi
cùng số phận - bị ruồng bỏ, cô độc và xa lạ với nhân quần. Thái độ phức tạp đối với những
vấn đề cá nhân - một đặc điểm nổi trội của văn học giao thời thế kỉ một lần nữa được thể
hiện. Trong văn xuôi Gorki thời kì đầu và của một loạt các nhà văn cùng thời, quan điểm
chiếm ưu thế là quan điểm cá nhân tách khỏi xã hội (cho dù cá nhân đó có những tư tưởng
nhân đạo cao cả), ý thức về sự được lựa chọn của mình.
Sự bùng phát yếu tố cá nhân còn lí giải sức cuốn hút của một kiểu quan hệ xác định
giữa nhân vật và tác giả. Đây là nói về định hướng thường thấy nhằm tới kiểu nhân vật anh
hùng của bi kịch, loại nhân vật trở thành trung tâm tự sự và thể hiện thế giới quan của tác giả,
cho dù ở mức độ khác nhau, - lúc thì không trùng khớp, khi lại rất gần gũi. Khuynh hướng
này đã lôi cuốn văn học Nga giao thời thế kỉ vào dòng chảy của tiến trình văn học thế giới
thời kì đó. “Brand – đó chính là tôi trong những giây phút tốt đẹp nhất của cuộc đời (…)” –
G. Ibsen nói về nhân vật nổi tiếng của mình
(53)
. Sáng tác của tác giả Brand, Đốc tờ
Stokman và những tác phẩm khác với cảm hứng cá nhân mạnh mẽ và tương thích với nó là
“kết cấu nghệ thuật đơn tính” là một trong những hiện tượng có ảnh hưởng hơn cả đối với
văn học nước Nga ở giáp ranh thế kỉ. Với mức độ đồng tham dự tương tự là phong trào văn
học “tân lãng mạn” ở phương Tây đối lập sự phản kháng của cá nhân đơn độc với quyền
năng định mệnh của môi trường đối với con người (J. London với tư cách tác giả chùm
truyện ngắn về vùng đất Clonday, J. Konrad, E. Rostand tác giả vở kịch nổi tiếng Syrano de
Bergerac v.v ).
Trong “thành phần” của quan niệm cá nhân ở thời kì chuyển giao thế kỉ, hiển nhiên
có mặt cả truyền thống “đấu tranh vì cá nhân” (N.K. Mikhailovski) của văn học dân tộc (chủ
nghĩa lãng mạn ba thập niên đầu thế kỉ XIX, “những người thừa” đã được nhắc tới), nhưng
được đổi mới một cách cơ bản theo tinh thần của một thời đại chờ đợi những kịch biến và
chống chủ nghĩa thực chứng. Bậc tiên khu gần gũi với phong trào đổi mới này là sáng tác
nhân lúc được soi rọi một cách cao cả, khi mang màu sắc bi hài, sẽ trở thành một trong những
vấn đề mâu thuẫn nhất, nan giải nhất của toàn bộ văn học thế giới thế kỉ XX