Văn học Nga "Thế kỷ Bạc"
như một chỉnh thể phức tạp
Một trường hợp điển hình - Andrei Belyi. Nhà văn này, hầu như bị lãng quên ở trong nước,
đã được phục sinh “ở phương Tây vào cuối những năm 1950” và từ đó tới nay “sự quan tâm
chú ý tới ông ngày một gia tăng”
(20)
. Bên cạnh những cố gắng nỗ lực của cá nhân các nhà
bác học, từ đầu những năm 1980 Hội Andrei Belyi quốc tế đã đi vào hoạt động, tổ chức các
cuộc hội thảo, công bố các thông tin, tiến hành việc viết tiểu sử nhà văn. Cho đến thời gian
gần đây, khi ở nước Nga “ngành Belyi học” bắt đầu thực sự phát triển thì ở nước ngoài
nghiên cứu về Belyi đã có những tích lũy đáng kể. Những công trình nghiên cứu về chủ
nghĩa hiện đại Nga nói chung là những thành tựu đặc biệt của khoa học về văn học nước
ngoài ( )
Có thể nói, trong giai đoạn hiện tại, việc chiếm lĩnh “thế kỉ bạc” đối với khoa nghiên
cứu văn học của chúng ta không phải là sự đột phá một chất lượng hoàn toàn mới (điều đã
xảy ra ở giai đoạn khác, cách đây 30 năm), mà là sự phát triển tự nhiên và sự hoàn thiện
những tham biến tư tưởng có ở những thời kì trước, nhưng giải thoát chúng khỏi những định
kiến, những tàn dư của các máy nén tư tưởng. Trên mảnh đất quang quẻ, lần đầu tiên diễn ra
những cuộc tiếp xúc với khoa học nước ngoài bằng các cuộc hội thảo diễn ra thường xuyên,
bằng những liên kết dịch thuật, in ấn phát hành, v.v điều chứng tỏ sự gần gũi nội tại giữa
hai khuynh hướng nghiên cứu trong và ngoài nước. Dấu hiệu rõ rệt nhất đó là sự gia tăng
mạnh mẽ những ấn phẩm về chủ nghĩa hiện đại Nga của khoa nghiên cứu văn học trong
nước. Đây là chỗ gặp gỡ những con đường của các nhà ngữ văn học trong nước và nước
ngoài - cả ở phạm vi nghiên cứu, lẫn ở sự tương đồng các định hướng nghiên cứu.
Tuy nhiên, sự quan tâm gia tăng tới khu vực này đòi hỏi sự triển khai đối tượng
rộng hơn. Ở trên chúng tôi đã nói tới yêu cầu hiện tại trong việc nghiên cứu văn học giao
thời thế kỉ một cách tổng hợp. Bên cạnh đó, việc tìm kiếm những liên hệ ban đầu trong
những nguồn tư liệu nghệ thuật vô cùng trái ngược được tiến hành ở những cấp độ khác
nhau - cấp độ “bên trong của loại” và cấp độ “giữa các loại”. Ở trường hợp đầu - thí dụ
như việc đi sâu lí giải chủ nghĩa tượng trưng Nga như một chỉnh thể đặc biệt, trong đó
diễn ra sự vận động của phong trào tượng trưng và hậu tượng trưng không đồng thuận
cuốn sách thú vị bởi những nhận xét tinh tường về văn học giai đoạn này, tác giả đã tỏ thái
độ quyết liệt phản đối thuật ngữ này. Nghiên cứu kĩ lưỡng sự vận hành của thuật ngữ (những
biến thái sau này của nó) trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật và phê bình, học giả đã
đi tới kết luận về sự không phù hợp giữa nghiên cứu và đối tượng được nghiên cứu, sự tách
rời giữa định nghĩa và nội dung thực của quá trình văn học nghệ thuật Nga ở thời kì giao
thời hai thế kỉ, kêu gọi “xua đuổi khỏi lĩnh vực văn chương Nga cái “thuật ngữ sai lầm”
này”
(24)
. Lời buộc tội của Ronen, bên cạnh những nhận xét nghiêm túc, vẫn tỏ ra quá cực
đoan. Tác giả luận giải một cách thuyết phục việc không thể áp dụng nghĩa ban đầu, cụ thể
hơn cả, của thuật ngữ thường dùng để chỉ tính phái sinh xác định của các hiện tượng nghệ
thuật (na ná như quan hệ giữa “thế kỉ bạc” của văn học La Mã với “thế kỉ vàng” của nó) cho
việc nghiên cứu một thời đại nghệ thuật với tính cách tân đáng kinh ngạc và đề nghị trả thuật
ngữ “thế kỉ bạc” “cho giai đoạn văn học nửa sau thế kỉ XIX” (tr.124) như một giai đoạn văn
học phù hợp duy nhất đối với cái tên ấy trong toàn bộ nền văn học chúng ta.
Khó có thể phản đối sự phù hợp này, song cũng không dễ khôi phục việc áp dụng
thuật ngữ này như trước đây, bởi từ lâu nó đã vượt khỏi phạm vi khoa học. Mặt khác, cũng
khó mà nghi ngờ rằng sự vận động nghệ thuật ở nước Nga giai đoạn giao thời, với tư cách
một chỉnh thể xa lạ đối với bất kì tính chất phái sinh nào, vẫn ý thức được tính liên đới sâu
xa, mặc dù đầy những mâu thuẫn, với thế kỉ cổ điển của văn hóa Nga. Và chính tính chất
của mối quan hệ đó đã tạo ra sự liên hệ giữa thế kỉ vàng và thế kỉ bạc, dự kiến trước tính
chất gần gũi về phương diện di truyền giữa các thời đại văn học nghệ thuật, cùng lúc là thứ
bậc giữa chúng. Đó chính là mối quan hệ “không hòa đồng nhưng không tách rời” giữa
“bạc” - những thành tựu nghệ thuật mới mẻ, vĩ đại được tạo dựng trong thời đại bước ngoặt
và “vàng” - những thành tựu đỉnh cao của thế kỉ “cổ điển”.
Quay trở lại bản thân thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy, đối với bạn đọc trí thức hiện đại
trong nước, những người quan tâm tới “thế kỉ bạc”, nhưng không chuyên nghiệp, thì khái
niệm này thường mang ý nghĩa tích cực. Nó - giống như dấu hiệu chất lượng, như một kiểu
“định giá” cao những hiện tượng mà nó biểu thị (liên quan tới nghĩa khởi thủy của từ “bạc”),
đồng thời làm nhớ lại một thời gian dài những hiện tượng đó bị coi thường, đánh giá, khôi
(27)
.
Sẽ là thái quá nếu cho rằng việc mở rộng khái niệm tương tự dẫn tới sự phi định hình
và tính không xác định. Khác với việc sử dụng khái niệm này trong ngôn ngữ hàng ngày,
trong khoa nghiên cứu văn học hiện đại, nó phù hợp với khuynh hướng nhận thức chỉnh thể
phức tạp của hiện tượng đang được nghiên cứu với những tham biến chung nhất như đã
trình bày. Và các tác giả, các chủ biên công trình này ủng hộ quan điểm nêu trên, song đôi
chỗ có những khác biệt khi sử dụng cụ thể khái niệm.
Ở đây chúng tôi hưởng ứng quan điểm của N.A. Bogomolov trong Lời nói đầu cho
tập hồi kí về “Thế kỉ bạc”. Tiêu chí chủ đạo trong việc nhìn nhận “thế kỉ bạc” như “sự thống
nhất phức điệu” - đó là tính hiện đại của nhà văn trong tư tưởng và hình thức không lệ thuộc
vào khuynh hướng sáng tác (đó vừa là “thế kỉ của chủ nghĩa hiện đại”, vừa của “các nhà
hiện thực chân chính”), là “ý thức về thời đại mình hoàn toàn đặc biệt thoát ra khỏi ranh giới
của những cái trước đây, trước hết là những cái thuộc thế kỉ XIX”. “Hiển nhiên, - tác giả bổ
sung, định nghĩa này khá chung chung, không mấy xác định, song với tư cách một phương
tiện, nó mở ra khả năng phân biệt các nhà văn “thế kỉ bạc”, một mặt, chẳng hạn như với L.
Tolstoi và A. Tchekhov mà toàn bộ sáng tác gắn với thế kỉ XIX, mặt khác, với
A.Serafimovich và E. Chirikov, những người có khuynh hướng nhận thức thời đại mình
bằng quan niệm nghệ thuật truyền thống vững chắc”
(28)
. Về vấn đề “nhân sự” có thể phải
bàn cãi - đặc biệt là về A. Tchekhov, người gắn với thế kỉ XIX không nhiều hơn thế kỉ XX
và là một trong những vị tiên khu cũng như nhà hoạt động của “thế kỉ bạc” (về điều này hầu
hết các nhà Tchekhov học đều có đồng quan điểm). Tolstoi giai đoạn cuối đời cũng gắn bó
sâu sắc với những tìm kiếm của nền văn học trẻ đầu thế kỉ XX. Còn về sáng tác của
Serafimovivh cũng không thể lí giải một cách đơn giản, nhất là trong sáng tác giai đoạn đầu
của ông những mô tả đời sống hàng ngày khá phức tạp bởi những motip bi kịch đặc trưng
cho ý thức nghệ thuật thời kì giao thời; về phương diện phong cách rõ ràng có sự giao thoa
với ngôn ngữ biểu hiện chủ nghĩa của L. Andreev (Serafimovich và Andreev làm bạn với
nhau một thời gian dài). Về thực chất, quan điểm này gần với quan điểm nêu phía trên coi
Nhưng ngay từ những lời nói này của ông đã thấy rõ, với tất cả tính chất phức tạp của
bức tranh văn học, “thế kỉ bạc” phát triển chính là dưới dấu hiệu của sự đối lập này. Những
người tham dự vào quá trình văn học khi ấy, trong đó có những người khá phóng khoáng,
biết một cách chắc chắn rằng có “chúng ta” và có “họ”, và điều đó là có thật. Bài báo Tổng
kết văn học năm 1907 của A. Blok mà chúng tôi đã nhắc tới chứng minh sự phản đối của
ông đối với tính khép kín văn học. Năm 1907 xuất hiện các bài viết của ông Về các nhà hiện
thực và Về phê bình đương đại (gây bất bình ở một số những chiến hữu của ông), trong đó
nói một cách đồng cảm về tính giáo huấn trong những bài học sáng tác của các nhà hiện
thực Nga đương đại và về sự gần gũi với họ của các nhà tượng trưng chủ nghĩa. Tuy nhiên,
với tất cả những điều đó, Blok chưa khi nào nhầm lẫn về khoảng cách ngăn cách họ với
“phe” của ông. “Một trong những hiện tượng đặc thù của thời đại chúng ta – đó là “cuộc gặp
gỡ” của “các nhà văn hiện thực” và “các nhà văn tượng trưng”; tuy nhiên, đó là cuộc gặp gỡ
“lạnh lùng” (có thể sau này sẽ khác): “giống như Montekki và Capuletti hoà giải quá muộn,
khi Romeo và Juliet không còn nữa”
(31)
.
Hoàn toàn đúng đắn khi cho rằng cặp đối lập “chủ nghĩa hiện thực - chủ nghĩa hiện
đại “không có khả năng bao quát, hơn thế, không có khả năng giải quyết toàn bộ hiện tượng
biến động và đa dạng như văn học thế kỉ XX”
(32)
. Tuy nhiên, đối với văn học “thế kỉ bạc” ý
nghĩa quan trọng của cặp đối lập này vị tất cần bàn cãi, cái cần được đổi mới – và điều đó
đang diễn ra – là cách tiếp cận những mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng được nghiên
cứu như là “những mặt đối lập có quan hệ mật thiết của một chỉnh thể thống nhất”
(33)
.
Văn học Nga cuối thế kỉ XIX - đầu XX bác bỏ giả thuyết hình thành ngay trong lòng
“kỉ nguyên bạc” về sự “hòa giải của các trường phái” (tức sự thống nhất chúng trong một
dạng tổng hợp thứ ba nào đó), và giả thuyết về sự đối đầu không khoan nhượng giữa chúng
(tư tưởng chung và sống dai của nghiên cứu phê bình Xô viết). Chỉnh thể phức tạp của quá
lẫn những mâu thuẫn nội tâm
(34)
. Một trong những nhà bình luận văn học xuất sắc thời kì đó
nhận xét rằng từ “ngã thể” có mặt khắp mọi nơi, tạo cảm hứng cho các nhà tiểu thuyết, các
nhà phê bình thường xuyên nói về nó, người ta sử dụng và lạm dụng nó trong mọi trường
hợp
(35)
. Tư tưởng về sự giải phóng “cái tôi” khỏi ách thống trị của quy luật “bên ngoài” được
khẳng định bằng những con đường khác nhau, thậm chí đối kháng nhau - từ duy xã hội tới
cá nhân chủ nghĩa cực đoan. Song, sự phát triển sâu rộng của nó ở giai đoạn giao thời thế kỉ,
xét cho cùng, xuất phát từ một nguyên nhân chung, đó là sự đổ vỡ triệt để những thể chế
trước giông bão lịch sử làm rạn nứt quan niệm về “môi trường” tưởng chừng tồn tại vững
chắc.
Tư tưởng về ngã thể cá nhân ở nước Nga thời kì đó gần như không tách khỏi tên tuổi
của Nietzsche. Ảnh hưởng của nhà triết học Đức này ở nước Nga, cũng giống như ở phương
Tây, rất rộng rãi và sâu sắc. Tác phẩm của ông được in ở các nhà xuất bản khác nhau, xuất
hiện hàng loạt công trình về ông. Trong thái độ đối với Nietzsche có nhiều cái chúng ta
giống với phương Tây, nhưng cũng có nhiều cái khác biệt đủ để nói tới một “Nietzsche
Nga”
(36)
độc đáo. Điểm chung – đó là việc tiếp nhận Nietzsche như sự phủ định văn minh
thời đại mình, coi ông là nhân vật tiêu biểu trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực
chứng vì cá nhân con người. Sự khác biệt nằm ở tính chất khác nhau tới mức cực đoan của
sự tiếp nhận đó – từ việc làm mất uy tín triệt để tới sự đề cao quá mức.
Nhiều nhà văn phương Tây đã trải nghiệm sự “cám dỗ” bởi Nietzsche. Những dấu ấn
của lập trường tư tưởng – xã hội tinh tuyển luận của triết gia người Đức này hiện rõ trong
sáng tác của nhiều nhà văn lớn (thí dụ như A. Strinberg). Những người khác tìm thấy ở
Nietzsche nội dung khác thiên về bản thể luận, cách hiểu của ông về bản chất tự nhiên con
người - cảm hứng về ý chí khởi nguyên hướng tới cuộc sống, sự tự khẳng định của cái tôi cá
nhân (thí dụ, những truyện ngắn của J. London đầu những năm 1900).