Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng
giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11 theo
hướng tăng cường hoạt động tự học
của học sinh
Nguyễn Thị Hoài
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Lý luận và phương pháp dạy học; Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS. TS. Nguyễn Nhụy
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học tích cực: Những quan điểm về dạy
học; Cơ sở lí luận của dạy học tích cực; Cơ sở lí luận của dạy học tự học. Nghiên cứu
việc tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác ” theo hướng tăng cường hoạt
động tự học của học sinh: Giới thiệu nội dung kiến thức phần “Phương trình lượng
giác” sách giáo khoa ĐS> lớp 11; Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác”
theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh; Một số giáo án phần “Phương
trình lượng giác” soạn theo hình thức dạy học tự học. Tiến hành thực nghiệm sư phạm
để đánh giá tính khả thi của đề tài.
Keywords: Giáo dục trung học; Phương pháp giảng dạy; Phương trình lượng giác; Đại
số; Giải tích
Content
1. Lý do chọn đề tài
Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Phương pháp giáo
dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng
năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” (Luật Giáo dục 1998, Chương I, Điều
4).
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng
mình.
Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh đã được nhân
rộng khắp trên thế giới.
2.2. Những vấn đề nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
Việc tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp dạy học sinh tiếp nhận thông tin đã có từ xa
xa khi con người biết truyền đạt tri thức cho nhau. Cha ông ta đã có câu “Đi một ngày đàng, học
một sàng khôn” là nói về sự cần thiết của việc tự học.
Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự đổi mới trong công tác giảng dạy đổi
mới trong phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng qui trình tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và
Giải tích lớp 11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động tự học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11
theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Giáo viên dạy Toán tại trường THPT Đan Phượng – Hà Nội.
- Học sinh lớp 11 tại trường THPT Đan Phượng – Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp
11 .
- Đối tượng khảo sát là học sinh lớp 11 trường THPT Đan Phượng- Hà Nội.
6. Vấn đề nghiên cứu
Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11
như thế nào để tăng cường hoạt động tự học của học sinh.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp 11
theo định hướng bồi dưỡng kỹ năng tự học cho học sinh thì sẽ làm cho học sinh nắm vững kiến
sinh.
- Soạn 05 giáo án cụ thể phần “Phương trình lượng giác” của SGK Đại số và Giải tích lớp
11 theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh”.
- Xây dựng qui trình tổ chức dạy học theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học
sinh.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Tổ chức dạy học phần “Phương trình lượng giác ” theo hướng tăng cường
hoạt động tự học của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Những quan điểm về dạy học
1.1..1. Quan điểm dạy học cổ điển
Học sinh được đánh giá về năng lực học tập theo điểm số thầy giáo cho, vì vậy không
thấy được tầm nhìn về hành vi tương lai của mình, sự đóng góp của mình. Việc đánh giá bằng
điểm số này được thực hiện thường xuyên và công khai. Quan điểm giáo dục cổ điển này thực tế
đã tạo ra những học sinh thiếu năng động và linh hoạt trong cuộc sống, thiếu nhiều kỹ năng rất
cần thiết trong cuộc sống hiện đại. Nhiều kỹ năng làm việc liên quan người, cộng tác trong các
nhóm lao động thực tế rất cần cho xã hội vẫn chưa được đưa vào huấn luyện cho học sinh. Nhiều
kĩ năng truy tìm tri thức mới có trên thế giới chưa được giới thiệu cho học sinh. Sự tách rời giữa
thành tựu mới đang được sử dụng trong xã hội với những tri thức của học sinh được trang bị
trong nhà trường đã dẫn đến việc xã hội phải mất thêm thời gian đào tạo lại người lao động trong
các cơ sở sản xuất.
1.1.2. Quan điểm dạy học hiện đại
Ngày nay có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình dạy - học, nhưng các quan niệm
đều thống nhất cho rằng: học là quá trình trình tự làm phong phú kiến thức của bản thân và tự
biến đổi mình. Dạy là quá trình giúp con người đi học tự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng. Tất cả
mọi phương pháp dạy học đều hướng đến lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủ động
của người học.
năng vốn có trong mỗi con người làm kết quả học tập được nhân lên gấp bội.
1.2.3. Yêu cầu của dạy học tích cực
1.2.3.1. Yêu cầu chung
Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Dạy học
kết hợp giữa học tập cá thể và học tập hợp tác. Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa nội
dung bài học với thực tiễn
Dạy học tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu
Dạy học tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học
Dạy học chú trọng các hình thức tổ chức dạy học tăng cường các hình thức kiểm tra đánh
giá
1.2.3.2. Yêu cầu đối với học sinh
Tích cực chủ động học tập tự tìm tòi, tự khám phá và rèn luyện kĩ năng tự học
Xây dựng các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng học tập của mình. Chủ động trong
việc giải quyết các tình huống có vấn đề
Mạnh dạn trình bày ý kiến, quan điểm cá nhân
Biết tự đánh giá hoạt động học tập của bản thân và đánh giá ý kiến quan điểm của bạn bè
1.2.3.3. Yêu cầu đối với giáo viên
Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức
đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học
sinh.
Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích
cực, chủ động, sáng tạo và quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức
Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát biểu tư duy và
rèn luyện kĩ năng.
Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh
hoạt, phù hợp với đặc trưng của môn học, nội dung bài học, trình độ của học sinh, điều kiện dạy
học của trường.
1.2.4. Mô hình dạy học tích cực
Hiện nay, để nhấn mạnh quan điểm dạy học mới, các tài liệu về phương pháp dạy học
đưa ra mô hình hợp tác hai chiều và mô hình truyền thụ một chiều.
của mình .
Qua việc nghiên cứu các hình thức tự học ở trên thấy rằng mỗi hình thức tự học có những
mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định. Để nhằm khắc phục được những nhược điểm của các
hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS trường THPT Đan Phượng chúng tôi đề xuất
một hình thức tự học :tự học theo tài liệu hướng dẫn , tự học theo SKG , tự học theo chương
trình hóa và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là "tự học có hướng dẫn".
1.3.2. Ưu nhược điểm của tự học
1.3.2.1. Ưu điểm
- Kiến thức người học được khắc sâu, vững chắc vì những gì họ tự tìm ra bao giờ cũng
nhớ lâu, hiểu rõ.
- Tự học giúp người ta có thể học suốt đời, học ở mọi nơi, mọi lúc.
- Trong tự học người học tự chủ động lựa chọn nội dung học tạo nên phong cách học tập
riêng của mỗi người.
- Tự học giúp người học làm quen với hoạt động nghiên cứu sau này.
- Tự học giúp người học hình thành và phát triển nhân cách: rèn luyện tính độc lập, tự
giác cao.
1.3.2.2. Nhược điểm
- Người học khó xác định được trọng tâm bài học. Nhược điểm này có thể khắc phục khi
GV giao nhiệm vụ có thể nêu rõ mục đích, yêu cầu, trọng tâm của bài học.
- Khi học không có GV, người học khó có thể giải đáp được những thắc mắc. Nhược
điểm này có thể khắc phục thông qua trao đổi thông tin liên lạc với thầy cô và bạn bè như dùng
điện thoại, email.
- Khi tự học, người học khó kiểm tra kết quả học tập của mình. Nhược điểm này có thể
khắc phục qua phiếu học tập của GV hoặc so đáp án.