V. N. M. Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr. 46-54 46
Những điều kiện thuận lợi của VIệC TIếP NHậN ảNH HƯởng
thơ tợng trng pháp trong thơ mới việt nam
Võ Nhật Minh Tâm
(a)
Tóm tắt. Đi sâu nghiên cứu việc tiếp nhận ảnh hởng của thơ tợng trng Pháp
trong phong trào Thơ mới Việt Nam 1932-1945, bài viết làm sáng tỏ các vấn đề:
truyền thống thơ Việt đã tạo điều kiện thuận lợi để các nhà Thơ mới đến với thơ tợng
trng Pháp và hấp thụ những mặt tích cực của nó một cách chủ động; sự tiếp nhận
ảnh hởng của thơ tợng trng Pháp diễn ra khác nhau ở từng giai đoạn phát triển
của Thơ mới và ở những nhà thơ có cá tính sáng tạo khác nhau.
1. Đầu thế kỷ XX, nền văn học Việt
Nam đã bắt đầu có sự tiếp nhận ảnh
hởng của nền văn học phơng Tây, cụ
thể là nền văn học Pháp. Nớc Pháp có
thể xem là một trong những nơi khởi
nguồn của nhiều trào lu, khuynh
hớng văn học Thi phái lãng mạn, thi
phái tợng trng cũng đợc ra đời trên
mảnh đất này. Tiếp xúc với văn học
Pháp cũng có nghĩa là nền văn học
tính cho tác phẩm, hầu tìm lối thoát cho
những giá trị thẩm mỹ, khắc phục kiểu
trình bày trực tiếp sự vật. Đó chính là
điểm tơng đồng giữa thơ truyền thống
Việt Nam và thơ tợng trng Pháp. Tuy
nhiên giữa chúng vẫn có những điểm
khác biệt: nhạc tính trong thơ Việt là
thứ âm nhạc chủ yếu mang tính chất
mô phỏng - mô phỏng sự vật, mô phỏng
hành động - còn nhạc tính thơ tợng
trng thì tuân theo nguyên tắc kết hợp
giữa các âm thanh, sự hiệp vần, ngắt
nhịp để tạo nên những cung bậc cao
thấp, những trờng độ, cao độ, từ đó
mỗi bài thơ là một giai điệu riêng.
Chính sự khác biệt này là điều kiện để
Thơ mới sáng tạo trong khi tiếp thu.
Thơ mới đã rất chú trọng vấn đề nhạc
tính, và trong thực tiễn sáng tác thơ ca,
Thơ mới đã tạo ra những bài gây ấn
tợng mạnh mẽ không chỉ bởi hình ảnh,
màu sắc mà chính bởi sự du dơng
trong âm điệu của nó.
Ngời phơng Đông nói chung,
ngời Việt nói riêng từ buổi hồng hoang
Nhận bài ngày 25/02/2009. Sửa chữa xong 08/4/2009.
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
Đông và ngời Việt Nam.
Ngời phơng Đông và ngời Việt
Nam thời trung đại có thế mạnh về lối
t duy bằng hình tợng. Khi con ngời
cha tách mình ra khỏi tự nhiên và
cha nhận thức, lý giải đợc nó, ngay cả
bản thân mình họ cũng không biết từ
đâu mà có. Nhng với t duy sơ khai,
họ cố gắng trả lời câu hỏi mình đến từ
đâu, xung quanh mình là gì, tại sao có
gió, tại sao, tại sao T duy tợng
trng hình thành từ đó. Thiên nhiên
với ngời trung đại nh thể là cùng một
loại với con ngời, thiên nhiên nh là
một bình chứa vĩ đại các tợng trng.
Nh vậy, lối t duy tợng trng nguyên
thuỷ đã có lâu đời trong cách cảm, cách
nghĩ ở phơng Đông. Điều này đợc
phản ánh rõ rệt trong thơ Đờng. Trớc
khi có tợng trng phơng Tây, ngời
Việt Nam đã trải qua nhiều thế kỷ tiếp
xúc với thơ Đờng. Đó là một thứ thơ
gắn chặt vào tâm thức của ngời trung
đại. Một trong những nội dung chính
của thơ Đờng là khám phá mối giao
hoà giữa con ngời với thiên nhiên. Nếu
ngời phơng Tây có thế mạnh về t
duy khái niệm và thơ thiên về cái mạnh
mẽ, hùng vĩ, chân xác và tráng lệ thì
ngời phơng Đông thiên về lối t duy
ra một cách rõ hơn sự trì trệ, xơ cứng
của nền thơ cũ đã tồn tại bao thế kỷ. Họ
nhận thấy cần phải có cái gì đó mới mẻ
V. N. M. Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr. 46-54 48
để làm tăng thêm sinh khí cho thi đàn.
Nhu cầu đổi mới văn học đợc đặt ra
một cách cấp bách. Từ những bối cảnh
nh vậy, việc thơ Việt Nam tiếp nhận
nguồn tợng trng trong thơ Pháp là
một tất yếu. Chúng ta có thể xem đây là
nhân tố nội tại, đóng vai trò thứ nhất
thuộc về sự chủ động tiếp nhận ảnh
hởng trong bối cảnh mới của giao lu
văn học.
Sự tơng đồng trong ý thức về thân
phận giữa các nhà Thơ mới Việt Nam
và các nhà thơ tợng trng phơng Tây
chính là sự gặp nhau của những tâm
hồn trí thức bất mãn với xã hội, không
còn niềm tin vào thực tại mà họ đang
sống. Bất mãn trớc cách lý giải cái
tôi cá nhân của trào lu lãng mạn, họ
đi tìm một thế giới thẩm mỹ khác đó là
ở
phơng Đông, trong khuôn khổ
giáo lý, đạo đức chặt chẽ, nghiêm ngặt,
con ngời cá nhân dờng nh ít có điều
kiện để tự thể hiện mình, nếu có chỉ là
yếu ớt, hoặc chỉ là những hiện tợng bột
phát. Con ngời phơng Đông sống gắn
bó với cộng đồng, tính cộng đồng đợc
đề cao và là nền tảng của mọi hành xử
xã hội. Thế nhng bản thể của con
ngời là luôn luôn muốn tìm cách tự thể
hiện mình dù bằng kiểu này hay kiểu
khác, họ luôn có khát vọng nói tiếng nói
của mình, càng bó buộc, càng đóng
khung thì họ càng tìm cách bứt phá
mãnh liệt và dữ dội. Đầu thế kỷ XX, ý
thức cá nhân có điều kiện xuất hiện và
tự khẳng định. Chính ý thức cá nhân đã
giúp ngời nghệ sĩ có khả năng phát
hiện ra những gì nhạy cảm nhất của
tâm hồn con ngời cũng nh của chính
mình, họ tự phát ngôn những điều
thầm kín, cấm kị mà từ xa đến giờ bị
bng bít, trói buộc. Chính những
ngời nghệ sĩ với tâm hồn nhạy cảm
của mình đã ý thức rõ hơn tính chất thù
địch của hoàn cảnh hiện thực đối với
nghệ thuật và họ đã tự khám phá ra
những bi kịch tinh thần mà từ lâu họ
đã đeo mang. Trong Thơ mới, ta bắt gặp
kỷ nguyên hiện đại mỗi ngày một đi xa
hơn giới hạn của cái thiêng liêng, cái
hào quang, cái quầng sáng tâm linh
đã biến mất dới sức nặng của vật chất
hoá và phi nhân tính hoá các quan hệ
con ngời, với sự tính toán đáng sợ theo
tinh thần thực chứng cuối thế kỷ. Trong
các nhà thơ tợng trng Pháp, A.
Rimbaud đã từng mơ ớc chạy trốn
trớc sự buồn chán: rời bỏ thành phố
Chaleville ra Paris, rời bỏ Paris sang
phơng Đông, rồi bỏ phơng Đông đến
h vô Tuy hoàn cảnh xã hội Pháp cuối
thế kỷ XIX và Việt Nam đầu thế kỷ XX
không phải tất cả đều tơng đồng (về
văn hoá, lịch sử, giai cấp ), nhng
trớc những biến động xã hội, giữa các
nhà Thơ mới Việt Nam và các nhà thơ
tợng trng Pháp đều có những nét tâm
lý trong sự biến động khá giống nhau,
họ tuyệt vọng và không thể dung hoà
đợc với xã hội đơng thời, họ tìm kiếm
lối thoát cho chính mình bằng cách đi
tìm những lý tởng thẩm mỹ mới.
Nhân tố xã hội đã tác động đến
những thi sĩ thuộc phong trào Thơ mới,
giúp họ có tâm thế sẵn sàng tiếp thu lý
tởng thẩm mỹ của thơ tợng trng.
Các nhà Thơ mới say Ch. Baudelaire,
say A. Rimbaud, P. Verlaine, S.
phủ định. Từ đầu thế kỷ XIX thi ca
Pháp diễn ra theo trình tự từ lãng mạn
đến Thi sơn rồi đến tợng trng, hậu
tợng trng sau đó là thơ siêu thực. Thơ
mới Việt Nam không diễn tiến theo quá
trình đó và cũng không theo một trình
tự rõ ràng nh thế. Thơ mới không tồn
tại hiện tợng phủ định nhau mà các
khuynh hớng thơ ấy cùng tồn tại,
dung chứa lẫn nhau trong một môi
trờng văn học đang ở quá trình hiện
đại hoá những năm 1930-1945. Trong
quá trình tiếp nhận ảnh hởng, tợng
trng trong Thơ mới không còn giữ đợc
nguyên chất thứ thơ tợng trng của
Pháp. Chất tợng trng biểu hiện lúc
đậm, lúc nhạt, không đồng đều ở từng
giai đoạn, từng tác giả và từng tác
phẩm cụ thể. Quá trình hiện đại hoá
văn học đợc phân chia thành các mốc
V. N. M. Tâm Những điều kiện trong thơ mới việt nam, tr. 46-54 50
thời gian rõ rệt, cụ thể là quá trình này
đợc chia làm ba giai đoạn: giai đoạn
hàng ngũ thơ xa phải tan vỡ (Hoài
Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt
Nam). Nhà thơ bên cạnh việc đi tìm cái
đẹp nơi tiên giới với Tiếng sáo Thiên
Thai, Tiếng trúc tuyệt vời còn quan
tâm xây dựng biểu tợng giống nh thơ
Pháp, mở ra một thế giới oanh liệt với
khát vọng tung hoành, hống hách.
Hình tợng con hổ trong vờn bách thú
trong Nhớ rừng vừa là cái tôi của tác
giả vừa là một biểu tợng tợng trng
cho sự dũng mãnh, uy nghiêm, cho cái
tôi mang nặng căm hờn, với khát vọng
tung hoành bốn cõi. Thơ Thế Lữ còn
mang cả tín hiệu âm nhạc phần nào gợi
âm hởng nhạc của thơ tợng trng:
Tiếng hát trong nh nớc ngọc tuyền /
Êm nh hơi gió thoảng cung tiên/Cao
nh thông vút, buồn nh liễu/Nớc
lặng, mây ngừng, ta đứng yên. Tiếp đến
là Lu Trọng L, tác giả đã mang đến
cho Thơ mới một thế giới nghệ thuật có
nét độc đáo với một quan niệm nhân
sinh mới. Thế giới thơ Lu Trọng L
hiện lên bởi những ám ảnh: sầu, mộng,
say, giang hồ phiêu lãng tất cả đợc
tắm mình trong một không khí phi thực
(Mộng chiều hè, Thơ sầu rụng, Sứ
giả ). Thật ra, thế giới thơ Thế Lữ, Lu
Trọng L là thế giới mang nặng ảnh
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009 51
Diệu vẫn là một nhà thơ lãng mạn.
Xuân Diệu là ngời có ý thức tiếp thu
thơ ca tợng trng Pháp. Bên cạnh nét
nổi bật trong thơ Xuân Diệu là lẽ sống,
là niềm yêu đời mãnh liệt, cuồng say,
hối hả, là tha thiết trẻ trung với một
năng lực cảm thụ tinh tế dồi dào, thơ
ông còn là một khả năng nhạy cảm nắm
bắt đợc cả những cái vô hình, hữu
hình hoá cái vô hình: Không gian nh
có dây tơ/Bớc đi sẽ đứt, động hờ sẽ
tiêu. Thơ Xuân Diệu có những liên
tởng nối liền, hoà hợp giữa âm thanh
màu sắc và hơng vị với sự mở rộng các
giác quan: Thu lạnh, càng thêm nguyệt
tỏ ngời/Đàn ghê nh nớc lạnh, trời
ơi Sự tơng hợp ở đây có phần nào
giống sự tơng hợp trong thơ của Ch.
Baudelaire
Đến với Huy Cận, phần nào ta đã
thấy độ chín của một hồn thơ có sự
dung hoà đặc biệt giữa lối thơ tợng
trng và thơ lãng mạng Pháp. Huy Cận
bớc vào làng thơ đã đợc ngời ta
dẫn con ngời đến cõi h vô xoá nhoà
hiện thực. Năm 1938, trong đề tựa tập
Thơ Điên, Hàn Mặc Tử viết: Tôi làm
thơ? nghĩa là tôi yếu đuối quá? tôi bị
cám dỗ, tôi phản lại tất cả những gì mà
lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức bí
mật. Và cũng là tôi đã mất trí, tôi phát
điên. Những hồn, máu, trăng đã
minh chứng điều đó. Chịu ảnh hởng
quan niệm của Ch. Baudelaire, Hàn
Mặc Tử đã tiến sâu hơn một bớc trong
việc dùng những biểu tợng trăng, hoa,
nhạc, hơng để thể hiện sự khải thị,
khám phá những thế giới mơ hồ đầy bí
ẩn. Thơ Hàn Mặc Tử tắm trong hơng
thơm - một thứ hơng thơm kỳ lạ kiểu
nh Ch. Baudelaire lạ kỳ mà thân
quen: Hoa đào vắng mùi hơng; Thơm
nh tình ái của ni cô: Thơm nh tiếng
ngọc lng chừng; Xuân xuân điểm
chuyết hơng ngàn muôn hơng. Các
yếu tố trăng, hoa, nhạc, hơng còn hoà
hợp trong một biểu tợng nhằm khải
thị về một bí ẩn trong vũ trụ, ở nơi xa:
Chiếc tàu chở cả một đêm trăng/Muôn
ánh sao ngời chiếu thẳng băng/Muôn
sợi hơng trầm say bối rối/Muôn vàn
thần thánh sống cao sang/ Giây phút,
ôi chao! Nguồn cực lạc (Ghen).
Hàn Mặc Tử là ngời có ý thức đa
thơ Chế Lan Viên trong Điêu tàn (1937)
cũng nói nhiều đến hồn: hồn ta, hồn tôi,
hồn cô, hồn mi, hồn ma, hồn tan Đó là
một thế giới khác thờng không có thực
mang nặng yếu tố tợng trng: Hồn mi
bay trong đốm lửa ma trơi Theo hồn
ta tuôn chảy những lời thơ Muốn điên
cuồng nuốt cả khối xơng khô. Hàn Mặc
Tử khẳng định trong Chế Lan Viên, một
thi sĩ điên: Về cùng tôi vỗ tay reo vang
để cùng cời, cùng khóc, cùng hoan hô:
Ha ha! Chúng ta đây là hai thi sĩ điên
rồ đây!. Cái điên rồ phi duy lý đảm bảo
cho sự cần thiết của các yếu tố tợng
trng, khi con ngời tìm đến một thế
giới khác đầy biểu tợng để ký thác linh
hồn. Nh vậy, đến với Hàn Mặc Tử, Chế
Lan Viên, ta thấy trong các thi phẩm
của họ thế giới hình tợng nghệ thuật
đã có những thay đổi đáng kể. Cả cái
biểu đạt (hình tợng tợng trng) và
cái đợc biểu đạt bị che giấu đều trở
nên bí ẩn. Điều này càng thể hiện rõ
hơn trong sáng tác của Bích Khê (ngời
viết trình bày về tác giả này ở phần
sau).
Giai đoạn 3: 1940-1945.
ả
nh hởng
của thơ tợng trng Pháp đến các nhà
thơng/Tiếng nhạc màu trăng quấn
quýt tan ra nhạc? Tan ra nhạc!/Khung
trắng trời mây trắng lạ thờng Một sự
tơng giao đan xen nhau khó lòng tách
bạch. Ta còn thấy trong thơ Bích Khê
những hình tợng biểu tợng lạ lẫm,
độc đáo. Trong Tranh loã thể ta thấy:
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
Nàng là hơng hay nhan sắc lên hơng?
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thờng;
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc,
Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
Vài chút trăng say đọng ở làn môi.
Nàng đó là một hình tợng biểu
tợng, ta không cần biết nàng là ai,
cũng không nên định danh nàng, nàng
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009 53
có thể là tình nhân, cũng có thể là nàng
thơ. Ta cũng không cần tìm dòng sâm
ngọt lộng là gì, hay vài chút trăng say ở
đâu Tất cả là thế giới biểu tợng
mang những ám thị gợi lên một giấc
mộng tình với ánh sắc nghê thờng.
giác. Hai câu thơ với cách diễn đạt mới
lạ nhằm chỉ sự giao hoà giữa các cảm
giác gợi lên sự liên thông giữa cái vô
hình và hữu hình, làm rung cảm giác
quan ta, rung cả tâm hồn.
5. Đến đây chúng ta có thể kết luận
rằng trong quá trình tiếp nhận ảnh
hởng thơ tợng trng Pháp, mỗi nhà
.
thơ mới tiếp nhận một cách khác nhau,
không thuần nhất, tuỳ theo cái tạng
của họ. Xuân Diệu đứng cả hai chân
vững vàng trên lãng mạn, với tay hái
những chùm tợng trng. Huy Cận thì
đã có một độ chín - sự dung hoà giữa
tợng trng và lãng mạn. Hàn Mặc Tử
thì cả hai chân cũng đứng vững trên bờ
lãng mạn, nhng hai chân cứ nhún
nhảy một cách điệu nghệ với tợng
trng. Còn Bích Khê thì một chân trụ
vững ở bờ lãng mạn nhng chân kia đã
đa sang và gần chạm đến bờ tợng
trng một cách có chủ ý. Xuân thu nhã
tập hai chân phần nào đã đến địa hạt
của tợng trng. Và chúng ta cũng có
thể kết luận rằng: dấu hiệu nghệ thuật
vị nghệ thuật, dấu hiệu phi lý tính, dấu
hiệu chủ thể hoá và tinh thần hoá
khách thể của thi ca tợng trng Pháp
54
Việt Nam vợt ra khuôn khổ của vùng,
miền để tiệm cận với mặt bằng chung
của văn học thế giới. Thi ca tợng trng
Pháp ảnh hởng đến Thơ mới Việt Nam
là một tất yếu của lịch sử văn học, là
một tất yếu của thời đại.
Tài liệu tham khảo
[1] Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999.
[2] Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993.
[3] Trần Mai Châu (tuyển dịch), Thơ Pháp thế kỷ XIX, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh, 1996.
[4] Nguyễn Văn Dân, Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.
[5] Xuân Diệu, Thế giới thơ Huy Cận, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988.
[6] Xuân Diệu, Thơ Huy Cận, Báo Ngày nay, số 166, 1939.
[7] Đặng Anh Đào, Việt Nam và phơng Tây tiếp nhận và giao thoa trong văn học,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.
[8] Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988.
[9] Trần Khánh Thành, Huy Cận đời và thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1999.
[10]Nguyễn Toàn Thắng, Hàn Mặc Tử và nhóm thơ Bình Định, NXB Giáo dục, 2007.
Summary
The advantageous conditions of receiving the influences
of French Symbolic poetry on Tho moi (New Poetry) in Viet Nam