Báo cáo nghiên cứu
khoa học:
"Màu sắc của “cõi
trời cách biệt” trong
thơ Hàn Mặc Tử"
Nguyễn Thanh tâm cõi trời cách biệt trong thơ Hàn Mặc Tử, TR. 56-62 56
Màu sắc của cõi trời cách biệt trong thơ Hàn Mặc Tử
Nguyễn Thanh tâm
(a) Tóm tắt. Thế giới màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử thể hiện khát khao vơn tới
một cõi trời cách biệt sáng láng, thơm tho và thanh khiết.
ở
đó, mọi khổ luỵ đợc
giải thoát, thi nhân đợc sống với tất cả lòng mến yêu thành thực của mình. Tìm hiểu
thế giới màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử chính là một hớng tiếp cận với thế giới tâm
hồn còn ẩn chứa nhiều bí mật ấy của nhà thơ.
yêu mến, trân trọng, đợc đa vào
chơng trình giảng dạy ở nhiều bậc
học Không những thế, cuộc đời, sự
nghiệp thơ ca của ông còn trở thành
nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều
loại hình nghệ thuật khác: nhạc, hoạ,
điêu khắc, sân khấu, điện ảnh
Trong đời sống văn học (không chỉ
trong nớc), Hàn Mặc Tử trở thành đối
tợng nghiên cứu đầy lôi cuốn, mê hoặc
dẫn dụ bớc chân những ngời yêu mến
văn chơng. Từ nguồn gốc gia đình,
dòng họ đến cuộc đời bất hạnh, ngắn
ngủi, từ căn bệnh quái ác đến những
bóng dáng khuynh thi, từ phơng
pháp sáng tác đến cảm hứng nghệ
thuật, từ yếu tố tôn giáo đến những dấu
ấn phơng Đông, phơng Tây trong thơ
ông Tất thảy đều đợc các tín đồ của
văn học say sa tìm kiếm, khám phá,
những mong giải nghĩa cho những ám
ảnh về hồn thơ kì dị vào bậc nhất của
thi ca Việt Nam giai đoạn 1930- 1945.
2. Trên hành trình mê mải đó, rải
rác ở chỗ này chỗ kia, một số nhà
nghiên cứu đã nhắc đến yếu tố màu sắc
trong thơ Hàn Mặc Tử. Có thể kể đến
những tác giả nh: Chu Văn Sơn [5],
Hoàng Ngọc Hiến [2, 200], Lã Nguyên
[8, 143] họ đã gặp nhau trong những
pháp học. Từ sự lặp lại mang tính hệ
thống của màu sắc, xem màu sắc nh là
yếu tố trong cấu trúc nội tại của tác
phẩm, ta có thể lí giải, khám phá đợc
tâm trạng, cảm xúc, t tởng của nhà
văn. Những trùng điệp ám ảnh trở đi
trở lại nhiều lần trong tác phẩm trở
thành hình thức bên trong, mà: Cái lí
của hình thức nghệ thuật chỉ bộc lộ rõ
rệt trong hệ thống của nó mà trớc hết
biểu hiện ở tính lặp lại của các yếu tố
tác phẩm [6,14]. Tìm hiểu thế giới màu
sắc trong thi ca đợc xem nh là sự
khám phá đời sống một cách hình
tợng (M. B. Khrapchencô).
Van Gogh đã từng nói: Màu sắc tự
nó đã nói lên điều gì rồi. Dới cái nhìn
biện chứng, ta có thể thấy đợc mối liên
hệ giữa hội hoạ và văn học. Màu sắc,
đờng nét là chất liệu của hội hoạ, còn
chất liệu của văn học là ngôn từ. Màu
sắc cụ tợng của hội hoạ mang tính vật
thể, ngôn từ mang tính phi vật thể. Tuy
nhiên, điểm gặp nhau giữa hai loại hình
nghệ thuật này ở chỗ chúng đều có khả
năng tạo hình. Sâu hơn, ta có thể thấy
màu sắc là sự biểu hiện của quan niệm
(t duy), mà ngôn ngữ là hiện thực trực
tiếp của t duy, thông qua ngôn từ ta có
thể gọi tên và hình dung ra màu sắc.
làm đợc điều đó đòi hỏi ngời nghệ sĩ
phải có một năng lực nhất định trong
việc thẩm định màu sắc.
Nhà nghiên cứu Văn Tâm khi nghiên
cứu về khả năng biểu cảm, biểu vật của
màu sắc, đã đa ra một bảng màu rất chi
li và biểu cảm: trắng tinh (trắng nguyên
chất), trắng nõn (trắng non), trắng bệch
(trắng thiếu sinh khí), trắng toát (trắng
lạnh), trắng dã (trắng vô cảm), trắng hếu
(trắng thô bỉ), xanh um (xanh rậm, tròn,
kín), xanh lè (xanh thẫm, vô duyên), xanh
ngắt (xanh cao), xanh biếc (xanh trong),
xanh thẳm (xanh sâu), xanh rì (xanh
thẫm đều). (Văn Tâm, Từ khoảng vờn
này đôi điều nhớ lại, 2002), dẫn theo[4,
210].
Nguyễn Thanh tâm cõi trời cách biệt trong thơ Hàn Mặc Tử, TR. 56-62 58
3. Từ những định hớng của ngời
đi trớc, chúng tôi tiến hành thao tác
thống kê, phân loại các cấp độ của màu
sắc và tần số xuất hiện của chúng trong
6 tập thơ của Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên,
sự rạch ròi giữa màu sắc cụ tợng và
luận: Thế giới nghệ thuật của Nguyễn
Du đầy màu sắc quý phái, vơng giả và
lộng lẫy [7, 422]. Thơ mới giai đoạn
đầu với vị chủ soái Thế Lữ cho thấy một
niềm yêu đời tha thiết khi tác giả yêu
thích sử dụng màu xanh (xanh trời,
xanh cỏ, chim xanh ), sau đó mới là
màu trắng, hồng Nữ sĩ Xuân Quỳnh
cũng đa vào trong thơ mình rất nhiều
màu xanh. Đó là màu xanh của hoà
bình, của hi vọng, của những khát khao
sống và yêu đơng toả ra từ tâm hồn
một ngời phụ nữ rất đằm thắm mà
cũng đầy cá tính.
Nh vậy, ở một góc độ nào đấy có
thể xem hệ thống màu sắc nh là tình
điệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn học.
Màu sắc và các cấp độ của nó phản ánh
STT
Màu sắc
Tần số xuất
hiện (Lần)
Tỉ lệ (%)
Nhóm phân loại (thí dụ)
1. Màu đỏ 44/160 27.5 ửng, hồng đào, chín, thắm, tơi,
đỏ
2. Màu vàng 40/160 25.0 Vàng, kim, hoàng
trong kết cấu nội tại của tác phẩm. Và
đó là một hớng để ngời đọc tiếp cận
với thế giới nghệ thuật, hiểu đợc t
tởng, tình cảm của nhà văn nh M.
Bakhtin đã nói t tởng tạo ra cái
nhìn.
4. Thế giới nghệ thuật của Hàn Mặc
Tử lấp lánh muôn ngàn màu sắc và ánh
sáng. Màu sắc đợc nội cảm hoá bởi cái
tôi thi sĩ, lọc qua một kiếp đời khổ ải
lâm luỵ, trở thành màu sắc của tâm
tởng. Đó dờng nh là kết quả đợc
Siêu thăng (Baudelaire) từ sự dồn nén
những ẩn ức, xung đối giữa hi vọng và
tuyệt vọng, khát khao sống, khát khao
yêu đơng nhng luôn bị ám ảnh bởi
hơi thở lạnh buốt của thần chết phả vào
sau gáy. Có lẽ vì vậy nên một thế giới
ấm áp, tơi sáng, đầy sức sống luôn là
niềm ớc ao, mơ tởng của thi nhân. Và
nh là một hệ quả tất yếu, màu đỏ
(ửng, hây hây, hồng đào, chín, thắm,
tơi, đỏ ) chiếm u thế trong thơ Hàn
Mặc Tử.
ở
thế giới đó có những nàng
con gái thanh tân, trinh khiết. Sức
xuân, hơi xuân đang dâng lên, toả ra
trên đôi má đỏ hờm, đỏ au au, Làn
môi mong mỏng tơi nh máu, má
mọng chín sức xuân, hơi xuân Và thi
nhân đã say sa ngắm nhìn, chiêm
ngỡng đến mê đắm, thèm thuồng vẻ
đẹp xuân tình rạo rực ấy.
5. Thế giới đợc kết hợp từ vô số
những kết hợp về màu sắc và ánh sáng.
Thế giới màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử
càng trở nên rực rỡ, lung linh khi đợc
chiếu rọi bởi ánh vàng. Màu vàng thắm
của hoa, màu vàng kim chói lọi, nhng
bao trùm lên tất cả là màu vàng mênh
mông gắn với biểu tợng trăng đầy
ám ảnh trong những sáng tác của ông:
Ta đuổi theo trăng,
Trăng bay lả tả ngả trên cành vàng.
(Rợt trăng)
Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng,
Những sợi hào quang vạn thớc vàng.
(Ước ao)
Sông là một dải lụa bạch, không, là
một đờng trăng trải chiếu vàng. Tôi và
chị tôi đồng cầm một mái chèo con, nhẹ
nhàng lùa những dòng vàng trôi trên
mặt nớc( ). Hai chị em liền dấu
Nguyễn Thanh tâm cõi trời cách biệt trong thơ Hàn Mặc Tử, TR. 56-62
xuất thế gian (Hàn Mặc Tử), vợt ra
ngoài biên giới của trần thế.
Cõi trời cách biệt (Hàn Mặc Tử),
là nơi các đấng bậc ngự trị, là nơi con
ngời xác tục đợc cứu độ, đợc giải
thoát khỏi những khổ đau, đày đoạ. ở
đó, mùa xuân, tình yêu, ánh sáng, sự
sống là vĩnh hằng. Cùng với màu vàng
làm nên sắc lung linh, chói ngợp, rực rỡ
của không gian thơ Hàn Mặc Tử là các
đạo hào quang, là muôn sắc nghìn tía.
Màu sắc huyền diệu ấy bao bọc lấy thi
sĩ, tạo nên sự cách biệt với thế giới thực
tăm tối, đau đớn và tuyệt vọng. Không
gian ngời sáng ấy là nỗi khát khao đến
tột cùng của một linh hồn róng riết
sống, bị vò xé trong một thể xác đang
quằn quại vì bệnh tật:
Tứ thời xuân! Tứ thời xuân non nớc,
Phút thiêng liêng nhuần gội áng hào
quang.
(Nguồn thơm)
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu,
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.
(Thánh nữ đồng trinh Maria)
Dù thi nhân Siêu thăng (Baudelaire)
đến cõi nào thì sự đối lập giữa hiện thực
và khát vọng, trong này và ngoài ấy,
dới ấy và trên ấy, cõi dới thế đầy
lâm luỵ và một cõi trời cách biệt sáng
trờng Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 3B-2008 61
vợt thoát ra Ngoài vũ trụ. Thế giới đó
nh là hệ quả tất yếu của những ẩn ức
bị dồn đẩy, áp chế, do đó trong thơ Hàn
Mặc Tử dờng nh tất cả đều đợc đẩy
lên những giới hạn tột cùng (Chu Văn
Sơn), vô biên và tuyệt đích. Và màu sắc
cũng đợc phát huy tới những biên độ
tối đa. Màu trắng là một trờng hợp đã
thể hiện đợc nét độc đáo đó trong thi
học của Hàn Mặc Tử. Hãy cảm nhận
một màu trắng đến nh thế này:
ống quần vo xắn lên đầu gối,
Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình.
(Nụ cời)
Ta có cảm giác nh vừa hứng một
luồng gió lạnh! Cái độc đáo ở đây còn
là cách tác giả sử dụng một tính từ chỉ
trạng thái của cơ thể (da) để biểu thị
chính sắc độ của da. Tinh ý, ta còn có
thể cảm nhận đợc cái rợn mình của
thi nhân qua hơi thở, qua ánh mắt, cảm
giác ấy lan toả từ chân tóc tới đầu mút
ngón tay, gai lạnh cả hồn ngời, rụng
hoà. Một thế giới tràn ngập ánh sáng
rực rỡ, chói ngợp thực sự cha phải là
niềm mơ tởng của thi nhân. Những
gam màu ấm nóng, rạo rực, chói loá sẽ
đằm dịu lại, êm ái và du dơng trong
sắc xanh huyền diệu. Xanh có nhiều vẻ:
xanh ngắt, xanh tơi, xanh mơ, xanh
biếc Vạn vật thì: trời xanh, rừng
xanh, ngày xanh, xuân xanh, ánh trăng
xanh, tóc xanh, lời nguyện xanh Màu
ấy cứ nh một dòng suối ngọt, mê mải,
say sa ru biếc đất trời trong một cõi
diệu huyền:
Ngoài không gian rất mát,
Chim thanh tớc ra đời.
Nêu cao hơn tiếng nhạc,
Mùa hát sẽ xanh tơi.
(Điềm lạ)
Tầng thợng tầng lầu đài ngọc đơm ra,
Khói nhạt nhạt xen vô màu xanh biếc.
(Đừng cho lòng bay xa)
Nơng nơng ơi! Biết bao từ độ ấy,
Tóc xanh thêm và tình đậm đã nhiều
(Quần tiên hội)
Đọc thơ Hàn Mặc Tử, ta thấy hiển
hiện một chốn nớc non thanh tú, diễm
lệ. Có khi trong không gian ấy sắc màu
lại chiếu rọi, đan hoà vào nhau ánh lên
màu của ban mai trong khu vờn tơi
tốt, mớt xanh. Màu xanh biểu trng
hển, cũng xanh xao vàng vọt, tật bệnh,
ma mị khó hiểu, dậm dật rên xiết
Thực không dễ để đi đến tận cùng vờn
thơ của ngời thơ kì dị ấy.
Thế giới màu sắc trong thơ Hàn
Mặc Tử đem đến cho con ngời không
chỉ là khả năng mà là cả cái khả
nhiên (Trần Đình Sử) khi nhìn nhận
về thế giới, để thấy đợc tính phong
phú, bất tận của cuộc đời. Từ thế giới
ấy, t duy, cảm giác của con ngời đợc
mài sắc, đợc kích thích, để có thể rung
động và đồng cảm với một hồn thơ dù bị
đoạ đày, khổ ải vẫn luôn khao khát
sống, khao khát yêu thơng Tài liệu tham khảo
[1] Phan Cự Đệ, Nguyễn Toàn Thắng, Hàn Mặc Tử về tác giả và tác phẩm, NXB
Giáo dục, 2003.
[2] Hoàng Ngọc Hiến, Văn học gần
&
xa, NXB Giáo dục, 2003.
[3] Lữ Huy Nguyên, Hàn Mặc Tử thơ và đời, NXB Văn hoá, 2003.
[4] Lê Lu Oanh, Văn học và các loại hình nghệ thuật, NXB ĐHSP, 2006.
[5] Chu Văn Sơn, Thơ điệu hồn và cấu trúc, NXB Giáo dục, 2007.
[6] Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục, 1995.
[7] Trần Đình Sử, Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
[8] Trần Đình Sử (Tuyển chọn), Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam, NXB ĐHQG,