1.2.1. Virus gây rối loạn tiêu hóa (gastroentérite):
Trong nhóm này thường gặp nhất là Rotavirus và Norovirus (Virus Norwalk )
Đặc điểm:
- Rotavirus thuộc giống Reovirus
họ Reoviridae gây nhiễm trùng
ặng và đe dọa tính mạng trẻ em
- có dạng tròn như bánh xe, kích thước hạt
ng hình khối gồm capsid trong và capside
g xếp theo hình nan hoa và kéo nối các
h vòng do vậy các virus này mới có tên là
-
ững tế bào chưa trưởng thành không thể hấp thu hữu
ở nên bình thường lúc các
Biểu hiện
-
virus và những
tổn bệnh lý xảy ra ở những tế bào cuả toàn bộ ruột non. Ruột già và
-
chảy nghiêm trọng, có thể chết. Bệnh thường khởi phát đột ngột. Nôn mửa trước
đường hô hấp và đường tiêu hóa.
Rotavirus gây bệnh tiêu chảy
n
dưới 2 tuổi trên toàn thế giới.
Virus Norwalk tương tự nhưng
nhỏ hơn Rotavirus cũng gây bệnh
tiêu chảy nhưng ở trẻ em lớn tuổi
và người trưởng thành.
Rotavirus được gọi tên như thế vì
virus là 65 -70 nm. Capsid đối xứ
ngoài. Các capsome của lớp tron
capsome của lớp ngoài tạo nên hìn
nước sạch
trong một
trong thời g
Điều tri bằ rường
ng mới phải truyền dịch.
Hyppocrate đã mô tả bệnh này với tên
ễm”.
gan A để phân biệt với viêm gan
- ính, lưu hành khắp trên thế giới, nhất là
nh thường gặp ở thanh thiếu niên. Một
ỉa chảy. Nhiễm trùng Rotavirus đặc biệt nghiêm trọng và có thể đưa đến tử vong
ở trẻ em suy miễn dịch.
Nhiễm Rotavirus xảy ra khắp nơi trên thế giới. Trong khoảng 3 tuổi đầu, mỗi trẻ
em bị nhiễm Rotavirus ít nhất một lần. Ở các nước ôn đới nhiễm trùng xảy ra ở
những tháng lạnh về mùa đông. Ở nước ta cũng như các nước nhiệt đới bệnh
xảy quanh năm, tần số tăng lên ở các tháng mát trời và mưa lạnh. Rotavirus là
căn nguyên quan trọng nhất gây ỉa chảy mất nước nghiêm trọng ở trẻ nhỏ và trẻ
dưới 3 tuổi ở các nước ph
30 - 50 % các trường hợp ỉa chảy cân nằm viện hoặc cần bù dịch tích cực.
a và điều trị
a ngay ở các nước phát triên có phương tiện y tế hiện đại và cung cấp đầy đủ
nên không thể phòng ngừa bằng biện pháp vệ sinh đơn thuần. Những tiên bộ
số vaccine sống giảm độc cho phép hy vọng có thể phòng ngừa bằng vaccine
ian tới.
ng cách cho uống oresol (ORS) để bù nước và chất điện giải. Chỉ một số t
hợp đến bệnh viện quá nặ
1.2.2. Virus thực phẩm gây viêm gan:
1.2.2.1. Virus viêm gan A (HAV-Hepatitis A Virus
)
Đặc điểm:
- Viêm gan A lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua thức ăn và nước
uống bị nhiễm virus. Virus HAV được đào thải qua phân ở cuối thời kỳ ủ bệnh
(kéo dài hàng tuần, cho tới khi lui bện
kiện thuận l
- Viêm gan A cũng có thể lây qua truyền máu, tuy nhiên khả năng lây theo
phương thức này là rất hy hữu.
của bệnh:
Viêm gan cấp tính : Sau một th
phát đột ngột bằng các dấu hiệu giống như cảm cúm: sốt, ho, đau mỏi cơ, nhức
đầu, mệt nhọc, chán ăn, đi tiểu ít
nhiều ngườ
phát hiện sớm, bệnh sẽ nặng lên, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Sau 5-7
ngày với những triệu chứng trên, bệnh nhân hết sốt nhưng vẫn tiếp tục mệt mỏi
và chán ăn. Dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện tăng dần và thường kéo dài 2-
4 tuần. Bệnh viêm gan A cấp tính thường tự khỏi, bệnh nhân đi tiểu nhiều và hết
vàng da, vàng mắt. Tuy nhiên có khoảng 2% số trường hợp diễn biến nặng, có
thể dẫn đến suy gan, hôn mê gan, làm cho người bệnh tử vong.
Viêm gan tối cấp : Bệnh diễn biến nhanh chóng trong một tuần với biểu hiện sốt
cao, vàng mắt, mệt lả, gan teo nhỏ. Hôn mê gan thường là biểu hiện cuối cùng
trước khi tử vong.
Viêm gan kéo dài : Hiện tượng này rất ít gặp. Biểu hiện là ứ mật
xảy ra 2-3 tháng, nhưng ít khi để lại hậu quả nặng nề. Không ghi nhận thể viêm
mạn tính hoặc tình trạng mang HAV suốt đời.
phòng ngừa:
- Hầu hết các trường hợp viêm gan A cấp tính thường diễn biến nhẹ. Phương
pháp điều trị chủ yếu là nằm nghỉ, không nên tiếp tục học tập và lao động trong
thời gian mắc bệnh.Tuy nhiên, người bệnh khô
23
đến bệnh viện để
bệnh cao nhất là các nước vùng nhiệt đới đặc
biệt là những nước vệ sinh môi trường kém,
mưa lũ thường hay xảy ra
Virus viêm gan E sống rất kém khi ra môi trường bên ngoài, do v
sôi nước trong vòng từ 1-2 phút là có khả năng
đặc điểm rất thuận lợi cho công tác phòng bệnh.
Virus viêm gan E rất hiếm khi lây qua đường má
nhiễm: Bệnh xuất hiện theo chu kỳ ừ 5-10 năm, thường có mộ vụ
Hình: Virus viêm gan E
t địa phương nào đó có liên quan mật thiết với mưa lũ đã hoặc đang xảy ra mưa
o virus viêm gan E có trong phân, rác, nước thải, khi mưa lũ về làm tràn ngập
ất bẩn có chứa các vi sinh vật gây bệnh, trong đ
iru bám vào thức ăn như rau, thực phẩm (do dùng nước sông, ao hồ để r
uống. Khi người ăn, uống phải loại thức ăn, nước uống đó sẽ lâm bệnh. Tuy vậy mắc bệnh
viêm gan virus E chỉ chiếm một tỷ lệ dưới 10%, tuy nhiên bệnh dễ dàng trở thành ác tính,
có tỷ lệ tử vong khoảng 0,5-4%.
Biểu hiện bệnh:
- Thời gian ủ bệnh: khá dài, từ vài tuần đến vài tháng sau khi virus xâm nhập vào cơ thể
- Thời kỳ khởi phát: Bệnh nhân sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, đau mỏi toàn thân làm
cho người bệnh dễ nhầm tưởng là cảm cúm.
- Thời kỳ toàn phát: vàn
trắng n
24
buồn nôn, chán ăn, có thể bị tiêu chảy.
Trong i
cũng tăng nước tiểu sẫm, phân bạc màu.
Phòng ngừ
-
và sau mưa lũ; có biện pháp quản lý và
rượu, bia. Cho đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào để điều trị tiêu diệt m
bệnh viêm
phát triển virut viêm gan và kích thích cơ thể sinh kháng thể để chống lại virus. Tuy vậy,
trước khi dùng các loại thuốc này người bệnh nhất thiết phải được khám bệnh và chẩn đoán
của thầy thuốc để có chỉ định dùng thuốc đúng.
1.2.3. Virus thực phẩm gây những bệnh khác:
Đặc điểm: Đây là các loại virus phát triển trong ruột nhưng lại đi tấn công các cơ quan
khác trong cơ thể. Chúng là những virus đường ruột mà quan trọng hơn hết là virus gây
bệnh liệt chi và bại xuội mà người ta gọi là virus
thể nhiễm bệnh. Phụ nữ mang thai cần tránh bị nh
Nguồn lây nhiễm: Virus vào cơ thể qua đường tiêu hóa và khu trú ở trong phân và hầu
họng. Virus lây truyền theo đường phân – miệng nhưng cũng có thể bị lây nhiễm do tiếp
xúc trực tiếp với dịch tiết đường hô hấp. Nói chung thời k
25
lễ đầu tiên. Vi rút có thể tìm thấy trong nước bọt, đàm tiết trong 3-4 tuần và trong phân của
người bệnh trong 6-8 tuần.
Biểu hiện bệnh: Đa số các trường hợp nhiễm có biểu hiện nhẹ và tự hồi phục mà không cần phải
điều trị. Các trường hợp có biểu hiện nhẹ, thì triệu chứng có thể gặp của bệnh là sốt, phát ban, tiêu
chảy, viêm họng và nổi mụn nước ở trong miệng, lòng bàn tay, chân, và vùng mông. Bệnh
thường kéo dài khoãng 7-10 ngày. Sau khi khỏi, bệnh nhân còn miễn dịch một thời gian ngắn với
type đã nhiễm bệnh, và miễn dịch cả với một số type khác trong nhóm Enterovirus.
thể dục điều
ới người bị nhiễm
Hiện na tr
ngừa loại v
1.3. K
Ký sinh rù hững sinh vật khác đang sống, sử đụng các
ân ra 2 loại: đơn bào và đa bào.
1.3.1. Ký sinh trùng đơn bào:
26
Nguồn lây ít gặp hơn là truyền qua nước.
Biểu hiện bệnh: Khi kén xâm
nhập vào cơ thể con người qua
đường miệng, đến ruột non thì
vỏ bao sẽ bị dịch tiêu hóa phá
vỡ trở thành amip ở dạng hoạt
động, ở đây chúng tồn tại vô
hại trong ruột phần lớn bệnh
i
ười bệnh có thể đi đại tiện từ 10-15 lần/ngày, có
ủ yếu là máu và nhầy nhớt. Bệnh nhân bị lỵ
m để phân biệt với lỵ trực khuẩn (shigella) thường sốt nhiều,
từ vài ngày đến vài tuần tùy theo việc điều trị được
amip dễ bị tái nhiễm và cẩn thận dè chừng khả năng bệnh
i tràng mạn tính do amip thường dai dẳng với những biểu
- Diệt côn trùng mang mầm bệnh như: ruồi, gián
hiện và điều trị những người nhiễm ký sinh trùng, nhất là những người có
nhân. Khoảng 10% số người bị
nhiễm amip thì các thể hoạt
động này xâm nhập vào niêm
mạc ruột gây viêm ruột hoặc đi
vào máu tới các cơ quan gây áp
- xe như gan, phổi, não
nhưng thường gặp bệnh amip
đường ruột. Viêm đại tràng do
amip có triệu chứng từ 2-6 tuần
sau khi ăn phải kén lây nhiễm.
Trước hết là đau bụng dưới và tiêu ch
hoặc ra sau lưng. Trong thời kỳ toàn phát, ng
sán lá phổi; bệnh ấu trùng sán lợn trong não hay trong tổ chức cơ.
iệt
ạ sườn phải âm ỉ hoặc dữ dội, vàng da, nước tiểu vàng sẫm
i, thịt lợn, thịt bò nhiễm
c rửa sạch.
rị: Trong các trường hợp đau bụng, đi ngoài phân có
ệnh phải vào nằm viện để được theo d
ơi (soi phân vừa mới đi ngoài xong) để tìm amip dạn
chẩn đoán xác định. Ngoài ra còn có thể nội soi đ
nghiệm máu để tìm nguyên nhân gây bệnh. Bệnh amip ở ruột hoàn toàn có thể điều
c bằng thuốc thích hợp. Tỷ lệ tái phát khá cao (35%)
metronidazol, đây là một loại thuốc rất đắng, cần phải uống sau khi ăn no để tránh những
cảm giác khó chịu do thuốc như cảm giác đắng miệng khi uống nước, cảm giác chóng mặt
nhẹ, buồn nôn Trong thời gian điều trị tuyệt đối không được uống rượu bia.
1.3.2. Ký sinh trùng đa bào
Ký sinh trùng đa bào được chia thành hai nhóm: nhóm giun và nhóm sán. Mọi lứa tuổi đều
có th mắc giun, sán (đặc biệt là trẻ em):
1.3.2.1. Nhiễm giun
Giun sống trong ruột non của người, hút máu và các chất dinh dưỡng gây ra tình tr
Hậu quả nhiễm giun có thể g
trùng giun đũa; viêm loét hành tá tràng do giun móc; phù voi, đái ra dưỡng chấp do giun
chỉ; sốt đau cơ phù nề, teo cơ, cứng khớp và có th
1.3.2.1. Nhiễm sán
Đặc điểm: Sán trưởng thành thường sống trong ruột non của người, một số sán hay ấu
trùng sán sống trong các phủ tạng của cơ thể hay trong các tổ chức cơ như: bệnh sán lá gan,
Hậu quả nhiễm sán có thể biểu hiện mức độ khác nhau tuỳ theo vị trí có sán.
- Sán trong ruột thường gây: rối loạn tiêu hoá, ăn không tiêu, buồn nôn, đau bụng,
ỉa chảy, táo bón thất thường, gầy sút, phù nề có thể tử vong do suy k
- Sán ở gan: Đau h
- Quản lý phân, xử lý phân thật tốt (dùng hố xí tự hoại, hố xí 2 ngăn, nhà vệ sinh
có cửa), không dùng phân tươi tưới bón cây cối, hoa quả.
29
- Không thả r
1.4. Các sinh vật có độc tố
1.4.1. Vi sinh vật có chất độc (độc tố nấm mốc)
Độc tố nấm mốc (Mycotoxin) là những sản phẩm trao đổi thứ cấp của một số loại nấm
mốc như Aspergillus, Penicillium, Fusarium, Alternaria…
Độc tố nấm mốc có tính bền vững nhiệt độ cao và không bị tiêu diệt trong quá trình chế
biến thức ăn thông thường. Tùy theo từng loại mà độc tố nấm mốc có thể gây nhiễm độc
cấp tính và mạn tính. Triệu chứng nhiễm độc cấp tính ở gia súc thường là các tổn thương
về gan và thận, nhiễm độc hệ miễn dịch hoặc mất tác dụng của hoóc môn có liên quan.
Nhiễm độc nhẹ hơn, có nghĩa không có các triệu chứng bệnh cấp tính do lượng độc tố hình
thành gây nên, có thể là bệnh ung thư, ảnh hưởng di căn hay không hình thành phôi thai.
Những loài nấm mốc sinh độc tố này có thể phát triển trong lúc canh tác, thu hoạch, dự trữ,
sản xuất chế biến thức ăn và trong quá trình cho ăn khi điều kiện thuận lợi.
Nấm mốc ngoài đồng
Trong điều kiện thực tế của nông nghiệp hiện nay, độc tố nấm mốc được hình thành từ
nấm mốc ngoài đồng là vấn đề lớn nhất mà ta đang phải đối mặt. Nấm mốc đồng ruộng
điển hình và nghiêm trọng nhất là Fusarium và Alternaria. Độc tố nấm mốc Fusarium
được biết tới đều thuộc nhóm Trichothecenes, mà loại thường gặp nhât là độc tố nấm mốc
Deoxynivalenol (DON). Loại độc tố này được mô tả như là "độc tố gây nôn mửa". Nó gây
ra các hiện tượng chán ăn, sưng tấy hệ tiêu hóa cũng như buồn nôn và bỏ ăn. Nó gây ra tổn
thất năng suất đáng kể, đặc biệt trong chăn nuôi lợn và sản xuất thức ăn cho lợn. Đồng thời
nhóm độc tố này cũng có ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ miễn dịch. Điều này có nghĩa là
khi ta sử dụng thức ăn chăn nuôi nhiễm độc tố này, nó sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối
với các cơ quan trong cơ thể gia súc, và như vậy tác động ức chế miễn dịch của độc tố nấm
mốc là nhân tố làm giảm đáng kể năng suất.
Một loại độc tố nấm mốc Fusarium nữa gây tổn thất lớn cho chăn nuôi lợn phải kể tới là