MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ NÔNG HỘ - Pdf 19

MỘT SỐ VẤN
ĐỀ CƠ BẢN VỀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA KINH TẾ
NÔNG HỘ
LỜI MỞ ĐẦU
Nền văn minh nông nghiệp ra đời sớm nhất và đã tồn tại hàng vạn năm trên Trái
Đất, là một ngành không thể thay thế được, cho dù trong thế kỷ XXI và sau này nữa khi
các trình độ kỹ thuật điện tử, hoá sinh phát triển cao độ. Nông nghiệp – nông dân – nông
thôn đã trải qua nhiều thăng trầm của các phương thức sản xuất. Nhiều nước đi tìm con
đường khác nhau để rút ngắn quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Họ đã thử
nghiệm phương pháp bần cùng hoá nông dân, để trên cơ sở đó thiết lập các xí nghiệp
nông nghiệp tư bản chủ nghĩa với lao động nông nghiệp làm thuê. Mãi cho đến cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX người ta vẫn lầm tưởng con đường phát triển nông nghiệp theo
kiểu công nghiệp như vậy. Nhưng từ thực tế nông nghiệp diễn ra hoàn toàn trái ngược. Ơ
các nước tư bản phát triển, các nước đang phát triển cũng như ở các nước xây dựng xã
hội theo mô hình xã hội chủ nghĩa, thì cuối cùng nền nông nghiệp cũng hình thành các
trang trại với những quy mô khác nhau, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu. Trên cơ sở
nhu cầu phát triển các nông hộ (trang trại gia đình) hợp tác với nhau sản xuất hàng hoá,
dịch vụ với quy mô đa dạng và thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, cung cầu… Thực
tiễn đó đã thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu khoa học, kinh tế, xã hội học… nghiên cứu
nghiêm túc về hộ và kinh tế hộ trong nền kinh tế nông thôn.
Từ một nước lạc hậu, sản xuất tự cấp tự túc, nay bước đầu chuyển sang sản xuất
hàng hoá, đối với nước ta đây là một sự nghiệp mới mẻ. Bởi vậy, việc nghiên cứu cơ sở
lý luận về sự tồn tại và phát triển khách quan của hình thức kinh tế nông hộ trong sản
xuất nông nghiệp; nghiên cứu xu hướng vận động và phát triển của nó trong cơ chế mới,
để từ đó có những giải pháp phù hợp tạo điều kiện thúc đẩy qua trình phát triển kinh tế hộ
nông dân nói riêng, nền nông nghiệp và nông thôn nói chung theo hướng phát triển hàng

Nam, Trung Quốc tiến hành cải cách, đổi mới theo hướng phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Mơ hình nơng hộ xã hội
với các đơn vị kinh tế khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi. Kinh tế nơng hộ tồn tại với
nhiều hình thức sở hữu (Nhà nước, tập thể, cá thể) gắn liền với thị trường và sản xuất
hàng hố, phát triển theo hướng nơng hộ sản xuất hàng hố ( hay nơng trại gia đình) và
hợp tác, nó khác xa với kinh tế hộ tiểu nơng cá thể trước đây. Kinh tế nơng hộ là kinh tế
độc lập tự chủ nhưng nó tồn tại và phát triển gắn liền với kinh tế tập thể và các doanh
nghiệp Nhà nước. Ngay cả một bộ phận các hộ nơng dân cá thể trước đây, nay cũng đang
trong q trình biến đổi, có hộ trở thành thành viên của các tổ chức hợp tác, có hộ trở
thành hộ tư nhân sản xuất hàng hố lớn nhưng khơng thể tồn tại biệt lập với kinh tế Nhà
nước và các hình thức kinh tế khác.
Như vậy, có thể nói kinh tế nơng hộ nói chung khơng phải là một thành phần kinh
tế độc lập, nhưng nó có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nơng thơn.
Khi nghiên cứu về khái niệm khái niệm “hộ”, các tổ chức quốc tế và các nhà khoa
học đã đưa ra nhiều định nghĩa về hộ dưới những giác độ khác nhau.
Hộ: - Là gia đình coi như một đơn vị chính quyền.
- Là đơn vị những người cùng ăn ở với nhau.
- Là tất cả những người cùng sống trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm
những người cùng chung huyết tộc và những người làm cơng.
Theo Liên Hiệp Quốc: hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà,
cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ.
Những năm gần đây đã có nhiều cuộc thảo luận nghiên cứu nghiêm túc về khái
niệm hộ giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà chỉ đạo thực tiễn. Tại cuộc hội thảo
Quốc tế lần 2 về quản lý nơng trại tại Hà Lan năm 1980, các nhà đại biểu nhất trí cho
rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu
dùng và các hoạt động xã hội khác”.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
3
Như vậy, hộ là một nhóm người cùng huyết tộc, sống chung hay khơng sống chung
với những người khác huyết tộc trong cùng một mái nhà, ăn chung và có chung một ngân

2.1. Quan niệm về kinh tế tiểu nơng:
C.Mac và Ph.Angghen đã để lại nhiều di sản lý luận q báu về kinh tế, trong đó
có lý luận về tiểu nơng và kinh tế tiểu nơng. Sau cách mạng vơ sản, Ph.Angghen cho rằng
tiểu nơng là “người chủ ruộng đất hoặc người tá điền – và nhất là người chủ – một mảnh
ruộng cần thiết để ni gia đình họ. Cũng như tiểu thủ cơng nghiệp, người tiểu nơng là
một người lao động, anh ta khác với người vơ sản hiện đại ở chỗ anh ta sở hữu những tư
liệu lao động”.
Mác đã nhận xét q trình sản xuất của tiểu nơng: “Mỗi gia đình nơng dân riêng
lẻ, gần như tự túc hồn tồn, tự mình trực tiếp sản xuất ra đại bộ phận những cái mình
tiêu dùng. Do đó họ kiếm cho mình những tư liệu sinh hoạt bằng cách trao đổi với thiên
nhiên nhiều hơn là trao đổi với xã hội”.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
4
Như vậy, theo như những nhận định trên đây thì người tiểu nơng là người lao
động, khơng sử dụng là lao động làm th, khơng cần nhiều ruộng đất, sản xuất của họ
mang tính tự cung tự cấp. Một nền kinh tế như vậy là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ, cần
phải phát triển lên sản xuất hàng hố, trước hết bằng cách cải tạo kinh tế tiểu nơng.
2.2. Quan niệm về con đường vận động của kinh tế nơng hộ:
Lúc đầu khi nghiên cứu con đường cơng nghiệp hóa đặc thù của nước Anh; Mác
đã đưa sự tiên đốn rằng giai cấp nơng dân sẽ bị thủ tiêu cùng với sự phát triển của đại
cơng nghiệp. Trong nơng nghiệp cũng sẽ diễn ra q trình tách lao động ra khỏi tư liệu
sản xuất, trước hết là ruộng đất, và kết hợp chúng lại theo phương thức là sở hữu tư bản
chủ nghĩa, và lao động làm th. Sau này, chính ở nước Anh dẫu rằng q trình cơng
nghiệp hố diễn ra nhanh chóng cùng với sự tước đoạt và xố bỏ kinh tế nơng hộ một
cách quyết liệt, nhưng các nơng trại gia đình vẫn tồn tại và tỏ rõ hiệu quả của nó so với
các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa. Nơng trại gia đình đã dần dần thay thế các xí nghiệp nơng
nghiệp sử dụng lao động làm th. Vì vậy, Mác đã nhận thấy dự đốn ban đầu của mình
là khơng thích hợp, khi viết quyển Tư bản III, ơng đã rút ra kết luận “Ngay ở nước Anh
siêu cơng nghiệp… với thời gian cho đến nay đã khẳng định hình thức lãi nhất khơng
phải là nơng trại cơng nghiệp hố mà là nơng trại gia đình thực tế khơng dùng lao động

Đối tượng của sản xuất nơng nghiệp là những cơ thể sống, khác với đối tượng sản
xuất của cơng nghiệp là những vật vơ tri vơ giác, các cây trồng vật ni torng nơng
nghiệp là những sinh vật, chúng có q trình phát sinh, phát triển và suy thối. Q trình
sản xuất nơng nghiệp là q trình chuyển hóa vật chất năng lượng cho q trình sinh
trưởng của cây trồng và do địa bàn sản xuất nơng nghiệp lại bố trí trên phạm vi khơng
gian rộng lớn nên sản xuất nơng nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, nó chịu sự chi
phối của các điều kiện sinh sống như mơi trường chế độ dinh dưỡng, thời tiết, khí hậu…
khơng chỉ trong q trình sản xuất sinh học mà cả những cơng việc sau thu hoạch như
bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm cũng mang tính sinh học. Các nơng sản khó bảo
quản và khơng dễ kéo dài thời gian chế biến, tiêu thụ như sản phẩm cơng nghiệp. Do vậy
sản xuất nơng nghiệp thường mang tính khơng ổn định , khơng chắc chắn. Ngồi ra yếu
tố kinh tế nó còn mang tính sinh vật thuần t.
3.2. Đặc thù của lao động sản xuất nơng nghiệp
Trong nơng nghiệp, thời gian lao động và thời gian sản xuất khơng trùng khớp.
Thời gian sản xuất kéo dài suốt thời kì sinh trưởng của cây trồng vật ni, còn thời gian
lao động lại mang tính chất thời vụ. Tuy lao động mang tính thời vụ, nhưng cây trồng lại
đòi hỏi phải được quan tâm chăm sóc trong suốt thời kì sinh trưởng, tức là trong suốt cả
thời gian sản xuất
Do thời gian kéo dài phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, mọi cơng đoạn
trong q trình sản xuất đều phụ thuộc vào kết quả cuối cùng, chi phí của từng khâu lao
động khơng quyết định trực tiếp kết quả cuối cùng, do đó rất khó kiểm tra đánh giá từng
khâu cơng việc như trong cơng nghiệp. Vì thế, tổ chức lao động kiểu làm cơng, phân phối
theo ngày cơng hay theo kết quả từng khâu cơng việc là khơng thích hợp và kém hiệu
quả.
Do lao động mang tính thời vụ nên khi thời vụ thì cần nhiều lao động, lúc nơng
nhàn lại cần ít lao động. Hiện tượng thừa lao động lúc nơng nhàn ở nơng thơn là rất phổ
biến. Chính vì thế, trong sản xuất nơng nghiệp khó chun mơn hố, tiêu chuẩn hố như
trong cơng nghiệp. Trong nơng nghiệp cần đến hình thức tổ chức lao động gọn nhẹ, linh
hoạt, hiệu quả, biết kết hợp các loại lao động, biết tận dụng mọi khả năng và thời gian để
tạo thêm việc làm, tăng thu nhập.

Th nht: kinh t nụng h l hỡnh thc t chc sn xut phự hp vi c im
ca sn xut nụng nghip m i tng sn xut l cỏc sinh vt. Ngi nụng dõn- ngi
ch thc s ca quỏ trỡnh sn xut trc tip tỏc ng vo quỏ trỡnh sinh trng ca cõy
trng vt nuụi, khụng qua khõu trung gian, h lm vic khụng k gi gic, bỏm sỏt rung
ng nờn t hiu qu cao.
Th hai: kinh t nụng h cú kh nng s dng hp lý lao ng v to vic lm
nụng thụn. Kinh t nụng h cú cu trỳc lao ng a dng, phc tp, trong mt h cú
nhiu loi lao ng, vỡ vy h va l ch th trc tip iu hnh qun lý tt c cỏc khõu
va trc tip iu hnh qun lý tt c cỏc khõu, va trc tip lm nhiu khõu cụng vic
ca quỏ trỡnh sn xut. Do sn xut nụng nghip mang tớnh thi v, nờn thi gian nụng
nhn nụng thụn thng thiu vic lm nghiờm trng. Hin nay nc ta, lao ng
trong nụng nghip ch s dng khong 40% qu thi gian.
Thc tin cỏc nc trờn th gii v c nc ta cho thy kinh t nụng h l mt
trong nhng hỡnh thc c bn thc hin kt hp nụng nghip vi cỏc ngnh phi nụng
nghip.
H nụng dõn l ch th trc tip i phú vi tỡnh trng mt cõn i i ai, lao
ng v vic lm nụng thụn. Vỡ vy, h thng tỡm cỏch s dng nhng iu kin vt
cht vn cú kt hp vi sc lao ng, to ra sn phm v thu nhp. Do mc u t cho
lao ng trong cỏc nụng h nh hn trong cụng nghip, tc l t trng gia lao ng vt
húa v lao ng sng to vic lm mi thp, nh s liu sau õy:
- Vn u t ca h cỏ th: 1,3 triu ng/1 lao ng/1 vic lm.
- Xớ nghip t nhõn: 3tr ng/1lao ng/1 vic lm.
- Kinh t quc doanh a phng (vn ti sn c nh) : 12 tr ng/1 l/1 vic lm (
cha k vn lu ng).
Chớnh vỡ vy, cựng mt iu kin v vn, kinh t nụng h cú u th hn trong vic
phỏt trin cỏc ngnh ngh to cụng n vic lm trong iu kin hin nay.
Th ba: kinh t nụng h cú kh nng t iu chnh rt cao. Do cú chung mt c
s kinh t, chung ngõn sỏch gia ỡnh, nờn mi thnh viờn trong gia ỡnh u chu trỏch
nhim v cú li ớch chung v kt qu cui cựng, cng nh cựng chu chung nhng thit
hi v mựa mng do thiờn tai, sõu bnh hay nhng ri ro trong tiờu th sn phm vic

làm chủ trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối. Chính sự thống nhất biện chứng
giữa quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối trong kinh tế nơng hộ đã làm
cho kinh tế nơng hộ thực hiện được vai trò tự chủ của mình, thể hiện trên các phương
diện: tự xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về lổ- lãi, tự quyết
định chuyển dịch cơ chế đầu tư cơ cấu sản xuất, tự quyết định việc liên kết liên doanh.
Giữa vai trò tự chủ của kinh tế nơng hộ và nhu cầu hợp tác có mối quan hệ biện
chứng. Sự phát triển của kinh tế nơng hộ khơng loại trừ, mà chính là điều kiện, tiền đề
cho sự ra đời các hình thức hợp tác. Kinh tế nơng hộ trong q trình phát triển, đặc biệt là
phát triển lên sản xuất hành hố đòi hỏi phải có sự liên doanh, liên kết hợp tác để khắc
phục những hạn chế của chính mình.
Ơ nước ta, Đảng đã sớm nhận rõ sai lầm của con đường hợp tác xã – tập thể hố
trong nơng nghiệp và đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nơng nghịêp, trong đó
có những nội dung quan trọng như xác nhận vai trò đơn vị kinh tế tự chủ của các nơng
hộ, đổi mới cớ chế kinh tế hợp tác theo các hướng:
- Trao quyền tự chủ cho các nơng hộ trên cả 3 phương diện: quan hệ sở hữu, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối.
- Họ và hợp tác xã là 2 chủ thể bình đẳng, hợp tác xã khơng triệt tiêu hay hồ tan
kinh tế nơng hộ mà hỗ trợ cho kinh tế nơng hộ phát triển lên sản xuất hàng hố.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
8
- Hợp tác xã khơng phải là tập thể hố như trước đây, mà hợp tác xã ra đời trên cơ sở
kinh tế nơng hộ, tơn trọng tính độc lập tự chủ của kinh tế nơng hộ, thực hiện những
khâu, những cơng việc mà hộ làm kém hiệu quả.
- Phát triển đa dạng các hình thức hợp tác, phù hợp với trình độ của các loại hộ.
- Phát triển nơng hộ là tạo điều kiện ra đời các hình thức hợp tác mới có hiệu quả và
ngược lại các hợp tác xã sẽ hỗ trợ cho kinh tế nơng hộ phát triển. CHƯƠNG II: KINH TẾ NƠNG HỘ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI
ĐOẠN LỊCH SỬ

là chế độ phong kiến, có sự xâm nhập của chế độ tư bản do thực dân Pháp đưa vào. Tổ
chức sản xuất nơng nghiệp phổ biến vẫn là kinh tế hộ nơng dân tiểu nơng sản xuất tự túc
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
9
nhưng đồng thời cũng hình thành lực lượng sản xuất nơng sản hàng hố cung cấp trong
nước và cho xuất khẩu.
Kinh tế hộ nơng dân tiểu nơng bao gồm bần nơng ít ruộng đất, thiếu vốn; phần lớn
là cổ đơng – tá điền (vơ sản nơng thơn) lĩnh canh ruộng đất của địa chủ với địa tơ rất cao
– chiếm 50% sản lượng trở lên – nên sản xuất khơng đủ ăn và thường xun nghèo đói.
Tầng lớp trung nơng có ruộng đất riêng (ít hoặc nhiều), có vốn sản xuất, đủ ăn, có một số
sản xuất được một ít nơng sản hàng hố.
Sau đây là những số liệu để minh hoạ tình trạng nơng hộ dưới chế độ thực dân
phong kiến:
Theo số liệu thống kê trước Cách mạng 8/1945, nơng dân chiếm 97% tổng số
nơng hộ nhưng chỉ có khoảng 38% diện tích ruộng đất. Khoảng 40% số nơng hộ có chút
ít ruộng tư, còn lại ½ (ớ Bắc Kỳ và Trung Kỹ) và 2/3 số hộ ở Nam Kỳ khơng có lấy
“mảnh đất cắm dùi”.
Theo số liệu của Yves Henry (1930) thì:
- Ở Bắc Kỳ: số hộ có dưới 0.36 ha chiếm 61,8% có ruộng đất, số có từ 0.36-1,8 ha
chiếm 29,8%.
- Ơ Trung Kỳ: số hộ có dưới 0,5 ha chiếm 68,5% người có ruộng, số có 0.5-2.5 ha là
25.3% tổng số chủ ruộng.
- Ơ Nam Kỳ: số hộ có dưới 1 ha chiếm 33.6%, còn số hộ có 1-3 ha chiếm 38% tổng
số chủ ruộng.
Như vậy đa số nơng dân có ruộng ở nước ta chỉ có dưới 1 ha trong khi ở nhiều nước
châu Á, châu Mỹ, bình qn hộ nơng dân có từ 5-10 ha.
Vì khơng có hoặc thiếu ruộng đất, số đơng nơng dân phải đi làm th hoặc lĩnh
canh ruộng đất của địa chủ. Những người làm th phần lớn thuộc tầng lớp cố nơng (vơ
sản nơng thơn). Họ thường chỉ có việc làm hai tháng trong một năm vào hai mùa vụ:
tháng 5và tháng 10. Tiền cơng chỉ được 10-12 xu/ngày, cơm ni. Những năm kinh tế

Ap bức xã hội cộng với sức tàn phá của thiên nhiên đã kìm hãm ghê gớm sức sản
xuất của hàng triệu nơng dân lao động nước ta. Năng suất cây trồng và năng suất lao
động rất thấp, trung bình lúa chỉ đạt 10-12 tạ/ha. Nơng dân quanh năm “đầu tắt mặt tối”
mà đói rách vẫn đói rách.
Theo chứng kiến của những người đương thời thì hàng năm, thợ cày phải ăn đói
đến 7-8 tháng, bần nơng 5-6 tháng, trung nơng 3-4 tháng. Trong những tháng ấy, họ phải
cầm hơi mỗi ngày một bữa, ăn cháo, ăn bắp, ăn khoai, cùng lắm thì ăn rau má, củ chuối,
củ mài để có cái nhét cho đầy bụng. Gần đến ngày mùa, ở nhà q, ta gặp những bộ mặt
hốc hác, xanh xao, cặp mắt lờ đờ, mép trắng dã. Đó là những bộ mặt đói cơm, mất máu
của dân cày nghèo vác hái đi tìm việc”.
Quần chúng nhân dân bị phá sản ngày càng nhiều thì tình trạng thất nghiệp, nửa
thất nghiệp và nhân khẩu thừa tương đối trong nơng thơn ngày càng tăng.
Tóm lại, dưới chế độ thực dân phong kiến, nơng dân ta lâm vào cảnh “một cổ đơi
ba tròng”. Họ bị các tầng lớp ăn bám xã hội là phong kiến, địa chủ, đế quốc và tư sản xâu
xé. “Chính họ là những người phải làm cho mọi cơng việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch.
Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám,lũ người lười biếng, lũ người đi khai hố thụ
hưởng. Còn họ thì phải sống cùng khổ, nếu mất mùa thì họ chết đói trong khi những tên
đao phủ của họ sống thừa thải… Đó là họ bị ăn cắp khắp mọi phía, bằng mọi cách, do các
quan cai trị , do bọn địa chủ phong kiến và Nhà thờ”.
Trên đây là tình cảnh bi thảm của hộ nơng dân Việt Nam dưới các chế độ phong
kiến và thực dân trước CM 8/45.
2. Kinh tế nơng hộ Việt Nam sau Cách mạng Tháng 8/1945:
Cách mạng Tháng 8/1945 là cái mốc lịch sử đánh dấu sự thay đổi cơ bản của xã
hội Việt Nam, đồng thời là sự thay đổi của nơng dân Việt Nam.
Từ sau CM 8/45, kinh tế nơng hộ đã có những biến đổi sâu sắc và tác động tích
cực đến sản xuất nơng nghiệp phục vụ u cầu bảo vệ và xây dựng đất nước.
Từ sau tháng 8 năm 1945, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước
cơng nơng đầu tiên ở Đơng Nam Á đã từng bước giải quyết những vấn đề ruộng đất theo
khẩu hiệu “người cày có ruộng” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ giảm tơ, giảm tức, xóa
nợ tạm cấp, tạm giao và chia cấp ruộng đất các loại, nơng dân ta đã giành lại được nhiều

trong những năm trước đó và cả 20 năm sau.
Từ năm 1958 đến 1960 và cho đến gần 20 năm sau, chủ trương tiến hành HTHNN
thực chất là tập thể hố trên tồn miền Bắc và sau 1975 cả ở miền Nam. Các HTXNN
được thành lập trên cơ sở tập thể hố ruộng đất, trâu bò, lao động, xố bỏ quyền tự chủ
sản xuất của kinh tế hộ nơng dân, chỉ để lại 5% đất cho kinh tế phụ gia đình. Tập thể hố
nơng nghiệp đã làm lu mờ vai trò của kinh tế hộ nơng dân. Tồn bộ cơng việc từ sản xuất
đến phân phối đề do ban quản trị HTX điều hành.
Nhưng trong thực tế, kinh tế nơng hộ vẫn có sức sống mãnh liệt. Với hình thức là
kinh tế phụ gia đình với diện tích đất nhỏ bé 5%, các nơng hộ xã viên của HTXSXNN đã
đầu tư trí tuệ, cơng sức với số vốn và vật tư ít ỏi đã ứng dụng thành cơng các tiến bộ kỹ
thuật,kết hợp trồng trọt với chăn ni để lấy phân bón, thực hiện thâm canh tăng vụ. Kết
quả chỉ với 5% đất,bà con đã tạo ra những năng suất lúa kỷ lục cao gấp 2-3 lần năng suất
ruộng của tập thể. Phần thu nhập từ trồng trọt của kinh tế phụ gia đã bảo đảm trên 50%
tổng thu nhập của gia đình, còn thu nhập từ 95% đất của tập thể nhiều khi thấp hơn thu
nhập từ đất 5%.
Ơ miền Nam, thời kỳ 1954-1975, quần chúng nơng dân phải liên tục đấu tranh
chống chính quyền Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ, để bảo vệ những quyền lợi ruộng
đất mà Đảng Cộng sản và chính quyền cách mạng đã đưa lại từ sau CM 8/45. Chính
quyền Ngơ Đình Diệm đã tiếp tay cho giai cấp địa chủ giựt lại gần hết số ruộng đất cách
mạng đã cấp cho nơng dân. Đến Đồng Khởi 1959-1960, nơng dân miền Nam vùng lên
giành lại chính quyền (ở cơ sở) và ruộng đất, mở rộng vùng giải phóng và bảo vệ được
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
12
quyền làm chủ ruộng đất trên 70% diện tích canh tác ở miền Nam cho đến ngày giải
phóng 1975.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, cơng cuộc tập thể
hố nơng nghiệp được tiến hành ở miền Nam theo mơ hình HTXNN của miền Bắc. Tập
thể hố nơng nghiệp đã hồn thành nhanh chóng ở vùng Dun hải miền Trung, vì ở đây
hầu hết là kinh tế tiểu nơng và có nhiều khó khăn sau chiến tranh. Ơ Nam Bộ, nhất là
ĐBSCL, tập thể hố gặp nhiều trở ngại vì số đơng nơng dân là người sản xuất hàng hố

Theo Chỉ thị 100, hộ nơng dân xã viên bắt đầu được giao một phần quyền chủ động
trong quản lý sản xuất, cụ thể là được HTX khốn một số khâu canh tác và được hưởng
phần năng suất vượt khốn, đã có tác dụng khuyến khích nơng dân sản xuất, trong khi
HTX vẫn quản lý điều hành.
Nhờ có Chỉ thị 100, so với thời kỳ 1976-1980, năng suất lao động nơng nghiệp tăng
23.8%, sản lượng lương thực tăng 27%, diện tích cây cơng ngiệp tăng 62.1%, đàn bò tăng
33%, đàn heo tăng 22.1%. bình qn lương thực đầu người năm sau tăng hơn năm trước:
1981- 273 kg, 1985- 304 kg.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
13
Những con số nêu trên cho thấy: kinh tế hộ nơng dân đã từng bước xác lập lại vị trí
của mình trong sản xuất nơng nghiệp.
Tuy nhiên, do Chỉ thị 100 còn một số nhược điểm làm hạn chế vai trò kinh tế của
hộ nơng dân nên tháng 4/1988, Bộ Chính trị Trung ương Đảng (khố VI) đã ra Nghị
quyết số 10 về đổi mới quản lý kinh tế nơng nghiệp và sau đó là Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 6 của Trung ương Đảng (khố VI) chủ trương:
- Thừa nhận hộ nơng dân là đơn vị kinh tế tự chủ nhận khốn.
- Nơng dân chỉ còn một nghĩa vụ: nộp thuế.
- Thực hiện chính sách một giá, với nơng dân chủ yếu là giá thoả thuận.
- Được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài.
- Thương mại hố vật tư.
- Kinh tế HTX có nhiều hình thức từ thấp đến cao, mọi tổ chức sản xuất kinh doanh
do người lao động tự nguyện góp vốn, góp sức, được quản lý theo ngun tắc dân
chủ, khơng phân biệt quy mơ và trình độ kỹ thuật.
Đây là bước thắng lợi quan trọng thứ hai (sau Chỉ thị 100) và là thắng lợi cơ bản
của kinh tế nơng hộ: từ vị trí phụ trợ, hộ nơng dân đã xác lập lại vị trí tự chủ.
Vậy là sau 30 năm tổ chức phong trào HTH (tập thể hố) nơng nghiệp, chúng ta đã
trở lại quan niệm đúng đắn về kinh tế nơng hộ và kinh tế hợp tác trong nơng nghiệp.
Từ sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, sản xuất nơng nghiệp đã có những chuyển
biến quan trọng. Ơ các địa phương, ruộng đất được giao cho hộ nơng dân sử dụng lâu dài.

Biện chứng của q trình từ “khốn chui” đến “khốn 100” rồi đến “khốn 10” và đến
Nghị quyết TW6 (khố VI) khẳng định hộ nơng dân là đơn vị kinh tế tự chủ đã thể hiện
rõ điều đó.
3. Hợp tác xã trong nơng nghiệp là q trình xã hội hố từng bước nền sản xuất nơng
nghiệp, nhưng do tính đặc thù của sản xuất nơng nghiệp, q trình hợp tác trong nơng
nghiệp diễn ra khác với trong cơng nghiệp. HTX trong nơng nghiệp khơng phải là sự tập
trung tư liệu sản xuất, ruộng đất, vốn, lao động để quản lý theo kiểu “làm cơng ăn điểm”
khơng phải là sự tập trung những đơn vị sản xuất quy mơ nhỏ – kinh tế hộ nơng dân
thành một đơn vị sản xuất quy mơ lớn theo kiểu cơng nghiệp, mà chỉ là những khâu,
những chức năng mà HTX tiến hành thì có lợi hơn các nơng hộ làm riêng lẻ. HTX khơng
triệt tiêu kinh tế nơng hộ mà chỉ bổ trợ cho kinh tế nơng hộ ngày càng phát triển.
Sai lầm của mơ hình HTX – tập thể hố kéo dài mấy thập kỷ qua là:
- Khơng nhận thức đúng đặc thù của sản xuất nơng nghiệp gắn với nó là vai trò tự chủ
của kinh tế nơng hộ. Việc xố bỏ kinh tế nơng hộ làm cho q trình sản xuất sinh học
mất đi người chủ thực sự của nó.
- Tập trung hố sản xuất nơng nghiệp theo kiểu cơng nghiệp đồng nhất hợp tác hố với
tập thể hố khơng phù hợp với đặc thù của sản xuất nơng nghiệp. Vì vậy, tập trung
hố càng cao thì sản xuất càng kém hiệu quả.
- Nhận thức đơn giản về CNXH, đặc biệt là quan niệm đồng nhất sở hữu cơng cộng về
tư liệu sản xuất với bản chất của CNXH, đối lập siêu hình CNXH với CNTB kể cả
việc xây dựng những mơ hình kinh tế.
- Nhận thức sai về nơng dân, coi nơng dân chỉ là những người có đầu óc tư hữu đi
ngược với bản chất của CNXH. Vì vậy, cần phải xố bỏ cơ sở kinh tế của họ bằng
cách tách họ ra khỏi tư liệu sản xuất, tập trung tồn bộ ruộng đất vào sản xuất tập thể
để tránh nguy cơ phát triển CNTB ở nơng thơn.
- Bối cảnh quốc tế lúc đó, ở tất cả các nước đi theo con đường XHCN đều thực hiện mơ
hình tập thể hố sản xuất nơng nghiệp. Nước ta bước vào xây dựng CNXH tương đối
muộn so với các nước, hơn nữa nhận thức lý luận của chúng ta vào thời điểm đó cũng
chưa vượt được nhận thức lý luận- thực tiễn của những người cộng sản quốc tế, do đó
việc áp dụng mơ hình tập thể hố sản xuất nơng nghiệp vào nước ta là khó tránh khỏi.

Việc rút lao động ra khỏi nơng nghiệp cho phép sử dụng kỹ thuật để thay thế lao động tức
là cơ giới hố nơng nghiệp để tăng năng suất lao động. Trong giai đoạn này muốn tăng
năng suất, các nơng trại phải chuyển hướng sang chun mơn hố.
Trong nơng nghiệp, nơng thơn, hộ nơng dân với tư cách là đơn vị kinh tế cơ sở,
chiếm số lượng lớn nhất và đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống. Vì vậy xu
hướng phát triển của nơng nghiệp, nơng thơn một phần quan trọng gắn liền với sự vận
động và xu hướng phát triển của kinh tế nơng hộ.
Nước ta hiện nay mới đang ở giai đoạn 1 của q trình phát triển nơng nghiệp từ
tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hố. Hiện nay lao động nơng nghiệp vẫn còn tăng lên do
tỉ lệ phát triển dân số cao, quy mơ ruộng đất canh tác của từng hộ trong một số năm tới
còn tiếp tục giảm xuống, đặc biệt là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tỉ trọng hàng hố nơng
nghiệp xòn thấp (khoảng 20%). Tuy nhiên, vào thập kỉ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI
nước ta đã bước dần vào thời kỹ cơng nghiệp hố, hiện đại hố nền kinh tế. Với đường
lối đổi mới có khả năng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khai thác các tiềm năng
của tất cả các thành phần kinh tế trong mơi trường sản xuất hàng hố , cạnh tranh phát
triển có sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt quan hệ ruộng đất trong nơng nghiệp đã có
điều kiện tham gia vào cơ chế thị trường. Lao động, đất đai cũng là yếu tố đầu vào của
sản xuất hàng hố, trong tương lai khơng xa, theo dự tính của nhiều chun gia, khoảng 1
đến 2 thập kỷ nữa, lao động trong nơng nghiệp sẽ ngừng tăng và bắt đầu giảm xuống nếu
cơng nghiệp phát triển mạnh, nước ta cũng sẽ có thể chuyển lên giai đoạn 2 với tốc độ
khơng thua kém các nước cơng nghiệp mới ở Châu Á.
2. Xu hướng phát triển đa dạng của kinh tế nơng hộ lên sản xuất hàng hố:
Hiện nay, ở nơng thơn nước ta có khoảng 11 triệu hộ nơng dân, phân bổ trong 7
vùng nơng nghiệp với khoảng 10000 đơn vị xã, thị trấn, 50000 thơn ấp, bản. Bình qn
mỗi xã có 1000 hộ, mỗi thơn ấp có trên dưới 2000 hộ. Ơ vùng trung du miền núi Bắc Bộ
có 1.7 triệu hộ, vùng dun hải miền Trung có 1.1 triệu hộ, vùng Tay Ngun có 0.4 triệu
hộ, miền Đơng Nam Bộ có 0.8 triệu hộ và đồng bộ sơng Cửu Long có 2.3 triệu bộ.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
16
Từ khi thực hiện cơ chế quản lý mới, nhất là sau khi làm chủ về đất đai, hộ nơng

trong q trình phát triển của kinh tế nơng hộ. Song cũng rất sai lầm khi áp đặt một mơ
hình hợp tác cho mọi loại trình độ kinh tế nơng hộ.
4. Những khó khăn trở ngại trong q trình phát triển kinh tế nơng hộ:
Mặc dù kinh tế nơng hộ ở nước ta được cơ chế mới tạo ra những tiền đề cơ bản về
kinh tế, pháp lý cho sự phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế nơng hộ còn gặp
khơng ít khó khăn, trở ngại cần được tháo gỡ.
4.1. Phần đơng các nơng hộ vẫn đang là các hộ tiểu nơng, trình độ tự cung tự cấp, quy mơ
canh tác nhỏ bé, sản xuất với mục tiêu đảm bào an tồn lương thực là chủ yếu. Mặt khác,
do dân số phát triển nhanh nên một số vùng đất chật người đơng quy mơ canh tác bình
qn một hộ trong một số năm tới tiếp tục có nguy cơ giảm xuống, vì thế các nơng hộ
khơng n tâm chuyển sang làm ngành nghề phi nơng. Hiện nay, bình qn một hộ ở
miền Bắc được giao cho 0.3-0.4 ha, ở Dun hải miền Trung là 0.4-0.6 ha, ở đồng bằng
sơng Cửu Long là 0.6-1.5 ha. Đó là trở ngại lớn đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nơng nghiệp – nơng thơn nước ta hiện nay cũng như đối với q trình chuyển sang phát
triển sản xuất hàng hố của kinh tế nơng hộ.
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
17
4.2.Tiềm lực về vốn, về cơ sở vật chất kỹ thuật của đa số nơng hộ rất mỏng manh:
- Trên 50% số hộ thiếu vốn để sản xuất , nhất là các hộ nghèo thường thiếu cả vốn để
tái sản xuất giản đơn đảm bảo cuộc sống hàng ngày.
- Phần lớn các hộ chỉ có cơng cụ sản xuất thơ sơ, lạc hậu, trang bị kĩ thuật còn rất hạn
chế. Bình qn 100 ha mới có 0.32 máy kéo; 5.56 máy bơm, làm đất bằng máy chỉ
chiếm 20% diện tích canh tác, còn lại 60% diện tích là do súc vật kéo cày, 20%
diện tích bằng sức ngựa.
4.3.Tư tưởng tác phong của người tiểu nơng còn rất nặng nề, thói quen sản xuất tự cấp tự
túc, phân tán manh mún, quen lao động bằng kinh ngiệm, thụ động đã ăn sâu và nếp nghĩ,
cách làm của số đơng người nơng dân. Họ bị hụt hẫng về kinh tế, lúng túng khi đưa ra
sản phẩm ra thị trường, thiếu năng động quyết đốn.
Trình độ văn hố, khoa học kỹ thuật của người nơng dân còn thấp: 9% lao động
nơng nghiệp mù chữ; 49.9% chưa đạt trình độ phổ thơng cơ sở; 31.3% đạt trình độ phổ

18
Nước ta đã ban hành luật đất đai mới năm 1993, đó là cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế
cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế nơng hộ. Tuy nhiên, cần thiết phải có sự cụ thể
hố một cách đầy đủ có hệ thống để chỉ đạo thi hành luật đất đai trong thực tiễn đó là
những vấn đề sau:
- Cần nhanh chóng thể chế hố các quyền năng và nghĩa vụ của người sử dụng đất (
các hộ), đặc biệt là luật về chuyển nhượng, thuế chuyển nhượng đất đai cần được
cơng bố sớm và thực thi một cách nghiêm túc.
- Thực hiện nghiêm túc luật đất đai mới, ngồi phần đất cơng ích khơng để q 5%,
số đất còn lại sớm giao quyền sử dụng ổn định, lâu dài cho các hộ một lần, với đầy
đủ các quyền theo luật định (quyền sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế,
cho th, thế chấp).
- Để tránh những xung đột, mâu thuẫn trong việc giao ruộng đất, các địa phương cần
tổ chức việc giao ruộng cho các hộ theo đúng ngun tắc cơng khai, dân chủ, cơng
bằng.
- Trên cơ sở phân loại giá trị sử dụng của từng loại đất, xác định hệ số quy đổi đất tốt
xấu, khuyến khích nơng hộ nhận ruộng liền mảnh, tự thoả thuận chuyển đổi cho
nhau.
- Nhà nước cần nghiên cứu để xây dựng khung giá đất hợp lý, nhất là giá đất ở các
vùng đang phát triển cơng nghiệp, đơ thị, nghiên cứu mức thuế đánh vào giá trị gia
tăng của đất, từng bước phát triển thị trường ruộng đất ở nơng thơn.
- Bên cạnh chính sách hạn điền cụ thể đối với từng loại đất, từng loại cây trồng, từng
vùng, cần có chính sách và giải pháp khác nhằm ngăn chặn đầu cơ đất đai.
- Cần có chính sách sử dụng đất đai hợp lý để một mặt bảo đảm an tồn lương thực
quốc gia, mặt khác khuyến khích các hộ đa dạng hố phương thức sử dụng đất đai
theo hướng nâng cao giá trị sản lượng thu nhập trên một đơn vị canh tác.
- Cần có sự kiểm tra, kiểm sát chặt chẽ việc chấp hành luật đất đai. Những hành vi
phạm luậ, vi phạm lợi ích của người sử dụng đất, tham nhũng đất đai đặc biệt là đất
xây dựng cần phải được xử lý ngiêm minh.
1.2. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức hợp tác ở nơng thơn:

trường.
- Đổi mới và bổ sung kiến thức về kinh tế nơng nghiệp kỹ thuật nơng nghiệp cho phù
hợp với cơ chế mới và đưa vào giảng dạy rộng rãi trong các trường phổ thơng.
- Đổi mới nội dung đào tạo, cập nhật những kiến thức mới phù hợp với điều kiện
hiện nay.
- Tổ chức tốt hệ thống khuyến nơng từ trung ương đến địa phương, cơ sở, khuyến
khích các cơ sở nghiên cứu khoa học, kỹ thuật nơng nghiệp chuyển giao tiến bộ kỹ
thuật cho các nơng hộ nhằm đổi mới cơ cấu kinh tế nơng nghiệp, nâng cao trình độ
canh tác, hiện đại hố từng bước sản xuất nơng nghiệp.
2. Đẩy mạnh q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước trong đó coi
trọng q trình cơng nghiệp hố nơng thơn, hiện đại hố nơng nghiệp nhằm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn theo hướng tăng dần tỷ trọng cơng
nghiệp và dịch vụ, rút bớt lao động ra khỏi nơng nghiệp:
Chúng ta đã biết rằng nơng nghiệp chính là nơi cung cấp sức lao động, ngun
liệu, lương thực, thực phẩm cho cơng nghiệp và là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm
của cơng nghiệp. Muốn đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố thì khơng thể khơng
thực hiện hiện đại hố nơng nghiệp. Bởi vậy, cần thiết phải đẩy nhanh q trình trang bị
kỹ thuật cơ giới hố nơng nghiệp thay cho lao động thủ cơng, đưa tiến bộ cơng nghệ sinh
học và nơng nghiệp làm cho năng suất lao động, năng suất nơng nghiệp tăng nhanh.
Cùng với q trình hiện đại hố nơng nghiệp, cần nhanh chóng phát triển cơng
nghiệp, dịch vụ nơng thơn. Đối với một nước nơng nghiệp còn lạc hậu như nước ta hiện
nay, khi cơng nghiệp thành thị chưa đủ sức thu hút nhiều lao động, thì việc phát triển
cơng ngiệp nơng thơn là giải pháp thích hợp vì:
- Có lợi cho việc giải quyết việc làm cho số lao động dơi dư ở nơng thơn nhằm làm
tăng thêm thu nhập cho các nơng hộ. Kinh nghiệm xây dựng xí nghiệp hương chấn
ở Trung Quốc, với khẩu hiệu “ly nơng bất ly hương”, “rời đất, khơng rời làng” là
một kinh nghiệm q giá. Số lao động dư thừa ở nơng thơn sẽ khơng đổ ra thành
phố tạo gánh nặng cho thành phố như hiện nay.
- Có lợi cho việc phân bố sức sản xuất thực hiện cơng nghiệp hố đất nước. Trong
cơng nghiệp có một số ngành đòi hỏi phải gắn liền với các vùng ngun liệu nhằm

thơng lớn, có thể phân cấp cho các địa phương xây dựng các tuyến đường giao thơng
liên thơn, liên xã bằng huy động vốn và lao động của nơng dân, còn tuyến liên huyện,
liên tỉnh phải do Nhà nước đầu tư xây dựng quản lý. Giao thơng thuận lợi sẽlà điều kiện
cơ bản để gắn sản xuất với lưu thơng, tiêu dùng, để cho sản xuất hàng hố phát triển.
- Về điện: muốn hiện đại hố nơng nghiệp, phát triển cơng nghiệp nơng thơn, nơng
thơn phải có điện. Ngành điện cần nhanh chóng có biện pháp quản lý tốt việc cung cấp
điện cho nơng thơn, để cho giá bán điện cho nơng dân khơng q cao so với thành thị
như hiện nay.
- Ngồi ra vấn đề đầu tư cho thơng tin, liên lạc, văn hố giáo dục, y tế đều rất cần
thiết cho nơng thơn sớm thốt khỏi tình trạng lạc hậu, tiến gần đến văn minh hiện đại.
4. Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nơng nghiệp:
Nói đến sản xuất hàng hố là phải nói đến thị trường. Sản xuất có phát triển hay
khơng phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng suy cho cùng thì sản phẩm làm ra có tiêu thụ
được hay khơng là điểm cơ bản quyết định khả năng tái sản xuất của các nơng hộ. Để
giúp cho các hộ nơng dân phát triển sản xuất hàng hóa Nhà nước cần có ngay những biện
pháp hữu hiệu để mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nơng sản. Vì vậy, cần thiết phải tiến
hành đồng bộ một số giải pháp sau:
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
21
- Nhà nước cần đầu tư và hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nơng thơn, trước hết
là vào giao thơng, điện để tăng khả năng giao lưu giữa các vùng, các miền của đất
nước, tránh tình trạng hàng nơng sản thừa giả tạo ở vùng này, khan hiếm ở vùng
kia.
- Nhà nước có chính sách bảo hộ những hàng hố nơng sản chủ yếu trước hết là
lương thực và một số cây cơng nghiệp xuất khẩu quan trọng như chè, cao su, cà
phê…
- Tổ chức tốt hệ thống thơng tin thị trường giá cả trong và ngồi nước cho người sản
xuất, đặc biệt là thơng tin về chất lượng sản phẩm để kịp thời đáp ứng u cầu thị
trường.
- Để nâng cao chất lượng sản phẩm nơng sản có đủ sức cạnh tranh trên thị trường,

thơn.
7. Một số vấn đề mơi trường sinh thái cho q trình phát triển nơng nghiệp
bền vững:
Kinh tế nông hộ Gvhd : TS. Trần Văn Nhưng
22
Qua nghiên cứu mơi trường sinh thái, các nhà kinh tế học mơi trường đi đến kết
luận: sự tổn hại mơi trường sinh thái ở Việt Nam đã đến độ báo động. Tuy nhiên chưa
q gay gắt. Nhưng với sự phát triển của đơ thị hố và cơng nghiệp hố như hiện nay,
nếu khơng có những giải pháp cho bảo vệ mơi trường sinh thái thì nước ta sẽ lâm vào
tình trạng phải xử lý các tác hại cho sự ơ nhiễm cơng nghiệp, do nạn đốt phá rừng… gây
nên. Chi phí cho sự tái lập mơi trường sinh thái ở thành thị và nơng thơn khơng phải nhỏ.
Nhằm thiết lập hành lang pháp lý cho việc bảo vệ mơi trường, Nhà nước đã ban
hành Luật mơi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành luật. Tiến hành thực hiện và
giám sát chặt chẽ việc thi hành luật để q trình phát triển nơng nghiệp nước ta bền
vững. KẾT LUẬN
Với các tài liệu lịch sử, tài liệu tham khảo về nhiều vùng miền, nhiều mặt của kinh tế
hộ nơng dân. Trong khn khổ đề tài, tiểu luận đã:
1. Tổng hợp và phân tích một số vấn đề cơ sở lý luận về khái niệm hộ, kinh tế nơng
hộ và sự tồn tại khách quan của nó trong nơng nghiệp.
2. Phân tích đặc điểm phát triển kinh tế nơng hộ qua các thời kỳ lịch sử, từ đó nêu ra
một số vấn đề rút ra từ thực tiễn.
3. Tiểu luận cũng nêu được xu hướng phát triển của kinh tế nơng hộ và đưa ra một số
giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nơng hộ nước ta.
Phát triển kinh tế nơng hộ là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất nơng nghiệp cũng
như của q trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Các hộ nơng dân là những đơn vị
kinh tế đồng thời cũng là đơn vị xã hội, bởi vậy phát triển nơng hộ khơng chỉ góp phần
tăng trưởng kinh tế mà còn tạo lập sự ổn định chính trị – xã hội ở nơng thơn. Đồng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status