Thực trạng lây nhiễm lao ở bệnh viện lao và bệnh phổi thái bình, một số giải pháp can thiệp - Pdf 19

VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG - BỘ Y TẾ
NGUYỄN THỊ THU DUNG THỰC TRẠNG LÂY NHIỄM LAO Ở BỆNH VIỆN LAO VÀ
BỆNH PHỔI THÁI BÌNH, MỘT SỐ GIẢI PHÁP CAN THIỆP LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC - CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
- MÃ SỐ: 62.72.03.01 - Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. VŨ TÂN TRÀO
2. TS. NGUYỄN VĂN HƯNG

NĂM, 2012
1 Những năm gần đây, vấn đề kiểm soát lây nhiễm đã được Tổ chức Y tế
Thế giới (TCYTTG) ưu tiên quan tâm như một cấu phần cơ bản trong kiểm
soát bệnh lao nhất là lao đa kháng và siêu kháng thuốc, trong đó có vấn đề
kiểm soát và phòng ngừa lây nhiễm lao cho nhân viên y tế [05].
Kiểm soát lây nhiễm trong bệnh viện là vấn đề ưu tiên hiện nay của
Chương trình Chống lao Quốc gia. Tuy nhiên, ch
ưa có một nghiên cứu cụ thể
nào về vấn đề ô nhiễm vi khuẩn lao và nguy cơ lây nhiễm lao của nhân viên y
tế làm việc trong môi trường Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tại Việt Nam.
Đề tài luận án “Thực trạng lây nhiễm lao ở Bệnh viện Lao và Bệnh
phổi Thái Bình, một số giải pháp can thiệp ” có các mục tiêu sau:
1. Xác định thực trạng nhiễm lao của nhân viên y tế tại Bệnh viện Lao và
B
ệnh phổi Thái Bình và cộng đồng dân cư xung quanh bệnh viện trước can
thiệp (năm 2002).
2. Mô tả kết quả xét nghiệm vi khuẩn lao tại một số vị trí trong Bệnh viện
Lao và Bệnh phổi Thái Bình trước can thiệp (năm 2002).
3. Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp kiểm soát lây nhiễm lao
trong môi trường Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Bình (năm 2006 và 2011).
3 CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH BỆNH LAO HIỆN NAY
1.1.1. Tình hình bệnh lao trên thế giới
Bệnh lao là một trong những bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong hàng đầu
trên thế giới [131]. Theo số liệu ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới

bệnh nhân lao thấp (7%, 4% và 3%) [133].
81% số bệnh nhân lao nằm ở 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao trên
toàn cầu. Năm nước có số lượng bệnh nhân lao cao nhất là Ấn Độ
(2.000.000), Trung Quốc (1.300.000), Nam Phi (490.000), Nigeria (460.000)
và Indonesia (430.000). 35% số bệnh nhân lao tập trung ở Ấn Độ và Trung
Quốc. Hơn 33% số bệnh nhân lao toàn cầu tại khu vực
Đông-Nam Á [133].
Tổ chức Y tế Thế giới cũng ước tính năm trong 2008 có khoảng
440.000 bệnh nhân lao kháng thuốc, trong đó 86% thuộc 27 nước có gánh
nặng bệnh nhân lao kháng thuốc cao (bao gồm 15 nước Châu Âu). Bốn nước
ước tính có số lượng bệnh nhân lao kháng thuốc cao nhất là Trung Quốc, Ấn
Độ, Liên bang Nga và Nam Phi [133].
Đến tháng 7.2010 đã có 58 nước và vùng lãnh thổ báo cáo phát hiện
trường hợp lao kháng thuốc [133].
Năm 2009, TCYTTG ước tính có 1,7 triệu người tử vong do lao, trong
đó có 400 nghìn bệnh nhân lao/HIV và 380 nghìn phụ nữ
.
Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu đạt 86%, nhưng tỷ lệ
phát hiện chỉ đạt 63% số bệnh nhân ước tính. Như vậy, còn rất nhiều bệnh
nhân lao không được chữa trị đang tiếp tục lây bệnh cho cộng đồng, cũng
theo ước tính của TCYTTG, mỗi năm có thêm 1% dân số thế giới bị nhiễm
lao [133].
1.1.2. Tình hình bệnh lao ở Việt Nam
Ở nước ta, bệnh lao còn ph
ổ biến và ở mức độ trung bình cao. Theo
báo cáo của TCYTTG năm 2010, TCYTTG ước tính Việt Nam đứng thứ 12
trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao trên toàn cầu [133].
5
6 Tỷ lệ lao kháng đa thuốc là 2,7% trong số bệnh nhân lao mới và 19%
trong số bệnh nhân điều trị lại. Theo ước tính của CTCLQG, năm 2009 có
khoảng 3.952 (95% CI: 2.944 – 5226) bệnh nhân lao kháng đa thuốc trong
số bệnh nhân lao phổi được khám phát hiện. Trong đó, mới chỉ có 307 bệnh
nhân lao kháng đa thuốc được điều trị.
Theo kết quả điều tra tình hình nhiễm và mắc lao toàn quốc năm
2006-2007, nguy cơ nhiễm lao hàng nă
m ở Việt Nam là 1,67; tỷ lệ mắc lao
phổi AFB dương tính các thể ở Việt Nam là 145/100.000 dân và tỷ lệ hiện
mắc lao phổi AFB dương tính mới là 114/100.000 dân. Như vậy, còn một số
lượng lớn bệnh nhân lao phổi AFB dương tính trong cộng đồng vẫn chưa
được phát hiện và Chương trình chống lao cần có sự nỗ lực hơn nữa trong
công tác phát hiện, quản lý để hạn chế nguồn lây và giảm dịch t
ễ bệnh lao
trong cộng đồng.
1.1.3. Tình hình bệnh lao tại tỉnh Thái Bình.

Bảng 1.3: Tình hình phát hiện bệnh nhân lao các thể tỉnh Thái Bình
từ năm 2007 - 2011:

Năm
AFB
(+)
Mới
AFB
(+)
TP


Tỷ lệ phát hiện bệnh nhân lao các thể và lao phổi dương tính mới có
xu hướng giảm, năm 2007, tỷ lệ bệnh nhân lao phổi AFB(+)/100.000 dân là
48,4; năm 2010 tỷ lệ này là 34,7.
7 Bệnh viện Lao và Bệnh phổi của tỉnh xây dựng từ năm 1975 tại xã Vũ
Chính là 1 xã ngoại thị (cách trung tâm thành phố 3-4 km) gồm 120 giường
có nhiệm vụ phát hiện và điều trị bệnh nhân lao chung của toàn tỉnh. Trung
bình 1 năm bệnh viện khám 15.000 lượt người và tiếp nhận điều trị 800 bệnh
nhân lao chủ yếu là bệnh nhân lao phổi dương tính mới và tái phát.
Bảng 1.4: Số bệnh nhân lao phổi AFB d
ương tính và số tiêu bản đờm xét nghiệm
tại bệnh viện từ năm 1998 – 2011

Năm Tiêu bản XN
dương tính
Tiêu bản XN
âm tính
Số BN lao phổi dương
tính
1998 621 7607 349
1999 681 7340 338
2000 612 7533 299
2001 739 17245 340
2002 602 8443 280
2003 517 8736 239
2004 565 9019 264
2005 721 10504 325

Thạch cận Lebek: trực khuẩn hoàn toàn ưa khí, mọc trên bề mặt
Test Niacin hoặc test Kono = (+++)
Test khử Nitrat = (+++)
Thành phần hóa học và cấu trúc cơ bản
Thành phần hóa học: gồm nước chiếm 85,9% trọng lượng các chất
đạm, đường, mỡ và chất khoáng.
Chất đạm (protid) gồm các tuberculoprotein khác nhau (chiếm 56%
trọng lượng khô của vi khuẩn). Các tuberculoprotein được cấu tạo từ các acid
amin và là cơ sở của các kháng nguyên của vi khuẩn lao, khi đưa vào cơ th

động vật sẽ gây ra hiện tượng phản vệ.
Chất đường (glucid) chiếm khoảng 15% trọng lượng khô của vi khuẩn.
Phần lớn chúng ở dưới dạng Polysarcharid, hoặc liên kết với các protein hoặc
phophat. Các Polysarcharid không độc, ít có tính kháng nguyên, không gây
hiện tượng mẫn cảm, nhưng có hoạt tính trong các phản ứng huyết thanh như
tăng cường phản ứng liên kết.
Chất mỡ (lipid) chiếm 10 đến 40% trọ
ng lượng khô của vi khuẩn,
chúng tan trong cồn, ether và chloroform. Các chất lipid của vi khuẩn:
mycozit C, cord-factor và các chất sáp được nghiên cứu nhiều. Theo nhiều tác
giả, các lipid này của vi khuẩn có liên quan đến độc tính và khả năng gây
bệnh của chúng.
Cấu trúc hóa học cơ bản của vi khuẩn lao gồm:
Vỏ của vi khuẩn lao dầy từ 10-20 nm, gồm có 4 lớp khác nhau:
Lớp 1: Peptido-glycane
9 Lớp 2 và 3: Mycolate arabino galactane
Lớp 4: glycolipide với 3 chất: sáp D, yếu tố thừng và micoside

0
C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút ở 80
0
C.
10 Đờm của bệnh nhân lao trong phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại
và giữ được độc lực; nhưng khi đun sôi đờm trong 5 phút chúng đã bị chết.
Với cồn 90
0
vi khuẩn lao tồn tại được 3 phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn
chết ngay sau 1 phút.
Đặc điểm kháng thuốc của vi khuẩn lao[25], [70].
Vi khuẩn lao trong quá trình sinh sản có thể xuất hiện những loại đột
biến kháng thuốc. Những vi khuẩn lao kháng thuốc này là loại kháng thuốc
trong nhiễm sắc thể. Cơ chế là do chọn lọc tự nhiên, có thể từ một quần thể vi
khuẩn đa số chịu thuốc trở thành một quần thể vi khuẩn kháng thuốc hoàn
toàn kháng một hoặc nhiều loại thuốc. Các chủng vi khuẩn chưa bao giờ ti
ếp
xúc với một loại thuốc chống lao nào được gọi là “Chủng hoang dại”. Một
chủng kháng thuốc tự nhiên là một chủng hoang dại kháng với một thuốc mà
vi khuẩn chưa bao giờ tiếp xúc. Như vậy, cả vi khuẩn kháng thuốc tự nhiên và
bệnh nhân có vi khuẩn này đều chưa bao giờ tiếp xúc với thuốc chống lao.
Kháng thuốc tự nhiên xảy ra ở những nơi thuốc chống lao ch
ưa bao giờ được sử
dụng. Nguyên nhân của kháng thuốc tự nhiên là do đột biến gien. Tần xuất
những đột biến kháng thuốc tự nhiên phụ thuộc vào nguồn gốc của chủng,
loại thuốc, nồng độ thuốc và tổng số vi khuẩn. Số lượng vi khuẩn giảm sẽ
giảm đột biến kháng thuốc.

đến nay, nuôi cấy trên môi trường đặc vẫn là một phương pháp kinh điển
được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các phòng thí nghiệm lâm sàng [119].
Môi trường rắn có thể là môi trường trứng (Egg-Base Medium) Loeweinstein-
Jensen, American Trudeau Society (AST) hoặc môi trường agar (Agar-Base
Medium) như Middlebrook 7H10 và Middlebrook 7H11.
1.2.2.2. Một số kỹ thuật hiện đại.
Sử dụng Hệ Bactec
Nguyên lý: Người ta gắn cacbon phóng xạ vào acid palmitric và acid
formic trong môi tr
ường nuôi cấy vi khuẩn lao. Khi vi khuẩn chuyển hoá sẽ
lấy các acid béo này và giải phóng ra CO
2
(chứa cacbon phóng xạ) được đo
bằng máy Bactec 460 [30], [02].
12 Hệ thống đo phóng xạ BATEC ra đời cho phép phát hiện sớm quá
trình mọc của vi khuẩn trên môi trường bằng việc tự động phát hiện lượng
14
CO
2
do vi khuẩn giải phóng ra trong quá trình trao đổi chất và carboxi hoá
cơ chất có đánh dấu phóng xạ
14
C. Kỹ thuật này có ưu điểm là cho kết quả
nhanh (5 - 7 ngày) và cũng phát hiện được chủng vi khuẩn kháng thuốc. [30], [02].
Phương pháp MGIT (Mycobacteria Growth Indicator Tubes)
Người ta sử dụng biện pháp đặc biệt để kích thích vi khuẩn lao sinh sản
nhanh, vi khuẩn lao khi phát triển sẽ sử dụng oxy (O

trong nhiều lĩnh vực công nghệ sinh, y học [81]. Việc áp dụng PCR trong
chẩn đoán bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh lao đã cung cấp một công cụ
13 đầy triển vọng, đáp ứng với nhu cầu cấp thiết, đã cho ra đời một phương pháp
chẩn đoán nhanh, hiệu quả và an toàn khi mà đa số các phương pháp chẩn
đoán bệnh lao cổ điển đều còn nhiều bất cập. Kỹ thuật PCR cho phép xác
định vi khuẩn lao trực tiếp trong bệnh phẩm nhờ khả năng sao chép để
khuyếch đại về mặt số lượng
đoạn trình tự đặc hiệu trên gienom của vi khuẩn
[81], [84], [86].
Cũng giống như phương pháp soi kính, phương pháp PCR có thể cho
kết quả nhanh trong vòng 1 ngày nhưng độ nhạy và độ đặc hiệu lại cao hơn
nhiều. Trong một số nghiên cứu khi nuôi cấy được coi là tiêu chuẩn vàng, độ
nhạy của PCR đạt tới 71% đến 91%, độ đặc hiệu từ 95% - 100% [83].
Cho tới nay hầu hết các phòng thí nghiệm trên thế giới khi sử dụ
ng
phương pháp PCR trong chẩn đoán bệnh lao đều phát hiện các thường quy
riêng. Đoạn khuôn mẫu được sử dụng nhiều nhất là đoạn trình tự acid nucleic
nằm trên gien nhảy IS 6110. IS 6110 chỉ có mặt trong nhóm Mycobacterium
tuberculosis và các Mycobacteria khác thuộc nhóm M.complex và thường có
độ lặp lại cao trong hệ gien của vi khuẩn lao do vậy là một trình tự lý tưởng
để đóng vai trò đoạn ADN đích. Sự phân biệt giữa M. tuberculosis và M. Bovis

ng có thể bằng đoạn IS 6110 vì M. Bovis chỉ có một đoạn IS 6110 [123].
Người ta cũng sử dụng nhiều trình tự khác nhau như IS 986, P36 (đây
là các gien nhảy có đặc điểm tương tự như IS 6110), rARN 16S, các gien mã
hoá cho protein 65 kD và 38 Kd [82].
Ngoài ra sự khác nhau về trình tự acid nucleic đích, phương pháp tách

UNG đượ
c hoạt hoá ở 40
0
C trước khi phản ứng xảy ra phá huỷ toàn bộ các
bản sao nếu do sơ xuất bị nhiễm vào hỗn dịch phản ứng. UNG phá huỷ các
bản sao bằng cách cắt tại các vị trí Uraxin trên trình tự phân tử của nó vì vậy
chỉ loại bỏ các bản sao do chúng có chứa Uraxin trong khi trình tự ADN đích
tách chiết từ vi khuẩn thì vẫn được bảo vệ. UNG sẽ bị bất hoạt ở nhiệt độ cao

n khi quá trình nhân gien xảy ra vì vậy không ảnh hưởng đến sản phẩm của
phản ứng [87].
Ngoài ra để chống nhiễm chéo, các nguyên tắc ngặt nghèo về vô trùng
phải được tuân thủ trong suốt quá trình thực hiện. Phòng thí nghiệm phải
được sắp xếp sao cho các bước thực hiện kỹ thuật được tiến hành trong các
khu vực riêng biệt, dụng cụ, hoá chất phải tuyệt đối vô khuẩn.
15 Chất ức chế PCR:
Bên cạnh dương tính giả, PCR cũng có thể cho âm tính giả khi có sự
can thiệp của các chất ức chế hoặc kìm hãm phản ứng. Các chất này thường là
một trong những thành phần có trong bệnh phẩm có khả năng ức chế hoặc
làm giảm hoạt tính enzyme ADN polymeraza, khiến cho phản ứng khuyếch
đại gien xảy ra hoặc không xảy ra [82].
Tỷ lệ chất ức ch
ế phản ứng PCR trong một số nghiên cứu dao động từ
3% đến 52% đối với bệnh phẩm đường hô hấp [86]. Người ta đã tìm cách
phát hiện sự có mặt của chất ức chế bằng cách khuyếch đại ADN tách chiết từ
mỗi bệnh phẩm trong 2 ống phản ứng trong đó một lượng nhỏ ADN của vi
khuẩn lao được thêm vào một ống. Kết quả âm tính củ

sự có mặt của ARN chính là một dấu hiệu để đánh giá mức độ sống của vi
khuẩn. Chỉ những vi khuẩn còn sống mới được phát hiện bằng cách sử dụng
mARN làm khuôn trong phản ứng RT – PCR (Reverse transcriptase PCR).
Hầu hết các phân tử mARN đều rất dễ bị phân huỷ và có vòng đời ngắn. Do
vậy sự có mặt của mARN thường biểu thị quá trình sao chép liên tục của gien.
Patel và các c
ộng sự đã sử dụng phản ứng RT – PCR để xác định khả năng
sống sót của M. leprae bị giết bằng nhiệt và ông đã phát hiện dnaK mARN
chỉ tồn tại trong các tế bào sống. Gần đây, Hellyer và các cộng sự đã nhận
thấy rằng lượng fobB ( 85B, entigien) mARN của vi khuẩn lao giảm từ <4 và
0,01% sau 24 giờ điều trị Isoniazid và Rifampixin. Một nghiên cứu mới đây
c
ũng chỉ ra rằng mARN chỉ tồn tại trong vi khuẩn lao sống. Tương tự như
vậy, ở các vi khuẩn khác, mARN không phát hiện thấy trong các tế bào bị giết
bằng nhiệt hoặc bằng các điều trị hoá học. Do có vòng đời ngắn, nên mARN
bị phân huỷ rất nhanh trong các tế bào chết, vì vậy, nó được coi là một dấu
hiệu lý tưởng cho việc phát hiện vi khuẩn sống.
1.2.3. Phát hiện vi khuẩn lao trong môi trường
Sự lây truyền lao trong các khu vực đặc biệt như nhà dưỡng lão, nhà tù,
trung tâm cai nghiện, bệnh viện được phát tán rất nhanh. Khả năng nhiễm lao
sau khi hít phải những giọt khí dung chứa vi khuẩn lao có kích thước nhỏ hơn
5 µm do bệnh nhân lao giải phóng ra không khí trong phòng khi ho hoặc nói
chuyện [35]. Vì vậy việc kiểm soát không khí trong các khu vực kín có bệnh
17 nhân lao là cần thiết và được thực hiện với các lý do chính sau: kiểm tra mức
độ nhiễm vi khuẩn trong không khí để có biện pháp kiểm soát không khí đúng
theo quy định về an toàn, để thu thập các số liệu dịch tễ liên quan đến giới hạn
về mức độ phơi nhiễm của nhân viên y tế và cho các mục đích chung của

nghiệm, hơn nữa hệ thống thải nước tiểu và phân chuột cũng cần được thiết
kế để đảm bảo vệ sinh môi trường cho chuột [101].
Trong những năm gần đây, việc phát hiện vi khuẩn lao trong không khí
dựa trên các kỹ thuật sinh học phân tử, xác định ADN của vi khuẩn lao với
đầu dò đặc hiệu gắn với enzym tạo mầu khi phản ứng với cơ ch
ất [114]. Máy
hút được sử dụng để thu không khí nhiễm vi khuẩn lao, sử dụng các màng lọc
(polytetrafluoroethylene) PTFE và polycarbonate (PC). Năm 1999, kỹ thuật
PCR được sử dụng để phát hiện vi khuẩn lao trong hầm mỏ [88] và phòng áp
lực âm sử dụng để thu thập vi khuẩn lao trong không khí [94]. Vào năm 2004,
các nghiên cứu phát hiện vi khuẩn lao trong không khí tại các bệnh viện lao
được tiến hành, sử dụng máy hút không khí và phương pháp PCR [73], [65].
1.3. NHIỄM LAO VÀ BỆNH LAO
1.3.1. Nguồn lây
Tất cả các bệnh nhân lao đều có th
ể là nguồn lây, nhưng mức độ lây
rất khác nhau [07]. Đối với các thể lao ngoài phổi (lao màng não, màng
bụng, hạch, xương khớp…) là các thể lao ít có khả năng đào thải vi khuẩn
lao ra bên ngoài môi trường. Lao phổi là thể bệnh dễ đưa vi khuẩn ra môi
trường bên ngoài (lượng không khí lưu thông trong một chu kỳ hô hấp trung
bình là 500ml), vì vậy bệnh nhân lao phổi là nguồn lây quan trọng nhất.
Nhưng ngay đối với lao phổi thì mức độ lây cũng khác nhau. Những bệ
nh
nhân lao phổi trong đờm có nhiều vi khuẩn lao có thể phát hiện bằng phương
pháp nhuộm soi trực tiếp thì khả năng lây cho người khác gấp 2 đến 10 lần
các bệnh nhân lao phổi phải nuôi cấy mới phát hiện được vi khuẩn [07].
Như vậy, bệnh nhân lao phổi có vi khuẩn trong đờm phát hiện được
bằng phương pháp soi trực tiếp là nguồn lây nguy hiểm nhất (còn gọi là
nguồn lây chính). Trẻ em bị bệnh lao không phải là nguồn lây quan tr
ọng vì

vi khuẩn lao nhưng không tiêu diệt được chúng vì đã bị b
ất hoạt.
3. Trong giai đoạn này các hạch lao được hình thành. Vi khuẩn lao bên
trong các hạch này sẽ không nhân lên được do pH thấp và thiếu oxy
nhưng có thể sống sót trong các hạch này dài ngày (lao tiềm ẩn).
20 4. Vi khuẩn lao có thể sử dụng các đại thực bào đã bị bất hoạt để tiếp tục
nhân lên dẫn đến việc phát triển các u hạt và xâm chiếm phế quản. Từ
đây vi khuẩn lao có thể xâm nhiễm các phần khác của phổi.
5. Cùng với thời gian, phế quản sẽ bị hoại tử và vỡ ra, cho phép vi khuẩn
lao xâm nhập các vùng khác của phổi.
Trong đa số trườ
ng hợp tổn thương có thể tự khỏi (có hiện tượng lắng
đọng calci, hình thành nốt vôi) và không có biểu hiện lâm sàng. Phản ứng da
với Tuberculin bắt đầu dương tính ở tuần lễ thứ ba sau khi vi khuẩn xâm nhập
vào cơ thể , nhưng miễn dịch đầy đủ của cơ thể chống lại bệnh lao phải sau 2
– 3 tháng [02], [07].
Như vậy, nhiễm lao là giai đoạn đầu tiên khi vi khuẩn vào cơ thể gây
tổn thương đặc hiệu (thường là ở phổi). Đa số trường hợp không có biểu hiện
lâm sàng, cơ thể hình thành dị ứng và miễn dịch chống lao. Khi chưa có đại
dịch HIV/AIDS thì chỉ có khoảng 10%
Bệnh lao chỉ thực sự xảy ra khi số lượng và độc tính của trực khuẩn lao
vượt quá sức đề kháng của cơ thể. Những người bị nhiễm lao chuyển thành
bệ
nh lao. Khi nhiễm lao phối hợp với nhiễm HIV thì khả năng từ nhiễm lao
chuyển sang bệnh lao ít nhất cũng gấp 3 lần những trường hợp chỉ có nhiễm
lao [02]. Khả năng nhiễm lao trở thành bệnh lao phụ thuộc vào hai yếu tố:
mức độ nhiễm nhiều hay ít và sức đề kháng của cơ thể.

n nhận biết các kháng nguyên
được trình diện này và hoạt hóa các phản ứng viêm đặc trưng bởi sự tiết các
cytokines, quan trọng nhất là IFN-gamma, và các đặc trưng bằng hiện tượng
sưng đỏ tại chỗ tiêm [102]. Phản ứng Tuberculin chỉ có giá trị chẩn đoán với
điều kiện trước đấy được biết bệnh nhân đã được thử có kết quả âm tính.
Phản ứng Mantoux: Có nhiều kỹ thuật làm phả
n ứng Tuberculin như
rạch da, đâm nhiều mũi qua da, dán trên da….Nhưng kỹ thuật tiêm trong da
do Mantoux đề xướng vào năm 1908 đã được sử dụng hơn một thế kỷ qua ở
hầu hết các nước trên thế giới [02], [92].
22 Kỹ thuật làm phản ứng Mantoux: Dùng loại bơm tiêm chuyên dụng,
tiêm dung dịch Tuberculin vào trong da (vị trí 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng
tay) với liều lượng 1/10 ml (tương đương với 5 hoặc 10 đơn vị Tuberculin tùy
từng loại). Đọc kết quả sau 72 giờ, đo đường kính của nốt sẩn theo chiều
vuông góc với trục của cẳng tay (tính bằng mm). Khi đọc kết quả phản ứng
cần ghi kích thước cụ th
ể cho từng người.
Phản ứng Mantoux dương tính chỉ biểu hiện tình trạng nhiễm vi trùng
lao của cơ thể, song khi phản ứng âm tính cũng không thể phủ nhận bệnh
nhân đã nhiễm lao [25]. Phản ứng Mantoux âm tính thường gặp trong những
tình huống sau:
- Suy giảm miễn dịch
- Suy dinh dưỡng
- Nhiễm vi rút (sởi, cúm…)
- Dùng corticoide kéo dài
- Người già
Phản ứng Mantoux dương tính có thể giúp đị

ụ dịch, từ 20% đến 50%
những nhân viên mẫn cảm bị nhiễm lao đã trở thành bệnh nhân lao [38], [53].
Nhiễm trùng liên quan đến công việc được ghi nhận đối với nhân viên y
tế làm việc ở khoa truyền nhiễm, đặc biệt trong các phòng xét nghiệm vi
khuẩn gây bệnh [27], [28]. Một số nghiên cứu trong lĩnh vực này đã chỉ ra
rằng nguy cơ nhiễm vi khuẩn lao ở những nhân viên phòng xét nghiệm cao
hơn từ 3 đến 5 lần nhữ
ng nhân viên làm việc ở những bộ phận khác trong
cùng một cơ sở y tế [50], [54]. Đường lây truyền vi khuẩn lao đối với nhân
viên y tế là qua đường thở.
Những địa điểm có đông bệnh nhân như phòng khám, phòng bệnh,
phòng chụp X quang và xử lý bệnh phẩm như phòng xét nghiệm, phòng đọc
kết quả cũng là những nơi có nguy cơ ô nhiễm không khí cao [33].
Hít phải những giọt chứa trực khuẩn lao được tạo thành trong không
khí là cách lây truyền chủ yếu đối với nhân viên y tế. Những hạt có đường
kính nhỏ hơn 5 µm, có thể chỉ chứa 1 đến 2 trực khuẩn lao sống, có thể bay lơ
lửng trong không khí nếu không có hệ thống thông gió hoặc lọc khí [38].
24 Những giọt nhỏ này sẽ vào phổi theo đường thở và gây ra những vị trí nhiễm
tiên phát.
Do liều gây nhiễm lao rất nhỏ, chỉ một vi khuẩn lao đã có thể gây
nhiễm nên hít vào bất kỳ một giọt khí dung chứa vi khuẩn lao nào cũng sẽ gây
nhiễm vì vậy những giọt khí dung này đều có thể là nguồn lây lao mới.
Những người tiếp xúc liên tục lâu dài với nguồn lây sẽ có nguy cơ nhiễm lao,
ước tính v
ới tỷ lệ nhiễm là khoảng 22%. Sự lây truyền chỉ có thể xẩy ra khi
tiếp xúc với bệnh nhân lao tiến triển [54]. Ngoài ra còn các kiểu lây truyền
khác như lây từ tiêu bản phổi giải phẫu tử thi chứng tỏ khả năng lây nhiễm lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status