CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP
2.1 KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP
2.1.1 Khái niệm hành vi kinh doanh
- Kinh doanh là việc các chủ thể thực hiện một cách thường xuyên, liên tục một, một số
hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nhằm mục đích tìm kiêm lợi nhuận
- Có hai điểm cơ bản để phân biệt hoạt động kinh doanh với các hoạt động xã hội khác
không phải là kinh doanh, ngay cả với hoạt động quản lý nhà nước kinh tế
(i) Để tiến hành kinh doanh các chủ thể phải đầu tư về tài sản
(ii) Mục đích của các chủ thể khi tiến hành hoạt động này là lợi nhuận
2.1.2 Khái niệm, phân loại doanh nghiệp
- Định nghĩa doanh nghiệp: Doanh nghiệp được hiểu là những pháp nhân hay thể nhân
thực hiện trên thực tế những hành vi kinh doanh.
- Doanh nghiệp có những đặc điểm pháp lý sau:
+ Thứ nhất: Doanh nghiệp có tư cách chủ thể pháp lý độc lập, có năng lực để tham gia
các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh. Tính
chất chủ thể pháp lý độc lập cho phép doanh nghiệp có quyền tự chủ đồng thời phải tự
chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động. Tư cách chủ thể pháp luật của doanh
nghiệp có thể là tư cách của thể nhân hoặc pháp nhân.
i) Pháp nhân là một khái niệm được sử dụng để chỉ một loại chủ thể có tư cách
pháp lý độc lập, để phân biệt với các chủ thể là thể nhân. Pháp nhân là một thực
thể trừu tượng, được hư cấu, thể hiện tình trạng tách bạch về mặt tài sản và trách
nhiệm trả nợ của chính pháp nhân đó với tài sản còn lại và trách nhiệm trả nợ của
chủ sở hữu - người đã sáng tạo ra nó. Pháp nhân chịu trách nhiệm đối với mọi
chủ nợ bằng tất cả mọi thứ tài sản mà nó có - có nghĩa là pháp nhân được giới
hạn khả năng trả nợ trong phạm vi tài sản của nó. Chủ sở hữu - người sáng tạo ra
pháp nhân - không chịu trách nhiệm thay cho pháp nhân, họ chỉ có nghĩa vụ góp
vốn để thành lập pháp nhân. Nếu pháp nhân vỡ nợ thì họ chỉ mất số vốn đã góp
vào pháp nhân, ngoài ra họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì nữa, chủ nợ
doanh (công ty, doanh nghiệp tư nhân), iii) doanh nghiệp tập thể (HTX).
+ Căn cứ vào dấu hiệu phương thức đầu tư vốn, ta có: i) doanh nghiệp có vốn đầu tư
trong nước (DNNN, công ty, DNTN, HTX,…), ii) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài).
+ Căn cứ vào số lượng chủ sở hữu, ta có: i) doanh nghiệp một chủ, ii) doanh nghiệp
nhiều chủ.
+ Căn cứ vào sự liên kết, ta có: i) doanh nghiệp độc lập, ii) các tập đoàn, các nhóm
công ty, ii) công ty đa quốc gia.
+ Theo tiêu chí quy mô, ta có: i) doanh nghiệp lớn, ii) doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2.2 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP
2.2.1 Công ty
2.2.1.1 Khái niệm chung về công ty
Pháp luật về doanh nghiệp 22 - Công ty có thể được hiểu trên nhiều nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau. Ở góc độ
kinh tế: công ty có thể được hiểu là các tổ chức lấy việc thực hiện những hoạt động thu lợi
là hoạt động nghề nghiệp của mình. Trong khoa học pháp lý, công ty được hiểu là sự liên
kết của nhiều người để tiến hành một công việc gì đó nhằm mục đích sinh lời. Các luật gia
trên thế giới đã có rất nhiều cách định nghĩa về công ty.
+ Các luật gia Đức cho rằng "khái niệm công ty được hiểu là sự liên kết của hai hay
nhiều cá nhân hoặc pháp nhân bằng nhiều sự kiện pháp lý, nhằm tiến hành các hoạt
động để đạt được một mục tiêu chung nào đó".
+ Bộ luật dân sự Pháp định nghĩa "công ty là một hợp đồng thông qua đó hai hay
nhiều người thoả thuận với nhau sử dụng tài hay khả năng của mình vào một hoạt
động chung nhằm chia lợi nhuận thu được qua hoạt động đó".
+ Bộ luật thương mại Nhật bản định nghĩa "công ty là pháp nhân được thành lập nhằm
mục tiêu lợi nhuận theo Bộ luật thương mại, luật về công ty, có trách nhiệm hữu hạn".
- Tuy có khá nhiều cách định nghĩa về công ty dưới dạng này hay dạng khác, nhưng tựu
bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, sự hùn vốn chỉ là thứ yếu. Đối
nhân là trọng về người, công ty đối nhân là công ty của những người quen biết. Công
ty đối nhân không có tư cách pháp nhân.
+ Công ty đối vốn là là loại hình công ty mà khi thành lập không quan tâm đến nhân
thân của người góp vốn mà chỉ quan tâm tới phần vốn góp của họ. Công ty đối vốn là
một pháp nhân.
- Sự ra đời, phát triển của công ty. Như bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào khác, công ty ra đời,
tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử và xã hội nhất định. Sự ra đời của công ty có
những nguyên nhân thực tiễn phát sinh từ nhu cầu tất yếu khách quan của đời sống xã hội. Những
nguyên nhân đó là:
+ Nhu cầu mở mang kinh doanh nhu cầu về vốn phải liên kết, hùn vốn với nhau.
Trong xã hội, khi việc sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một mức độ nhất định, xuất
hiện nhu cầu cần phải mở mang kinh doanh. Từ nhu cầu mở mang qui mô kinh doanh,
xuất hiện các nhu cầu về vốn. Muốn đáp ứng được nhu cầu này, buộc các nhà kinh
doanh phải liên kết với nhau.
+ Sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Bên cạnh nhu cầu về vốn, trong một xã hội có
nền sản xuất hàng hoá phát triển thì sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường cũng là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các công ty. Thông thường, trong nền
kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có vốn đầu tư thấp thường ở vị trí bất lợi trong
quá trình cạnh tranh. Chính vì để tránh sự bất lợi đó, các nhà kinh doanh phải liên kết
nhau lại thông qua hình thức góp vốn để thành lập một doanh nghiệp nhằm tạo thế
đứng vững chắc trên thị trường.
+ Phân tán rủi ro. Việc theo đuổi lợi nhuận thường đi đôi với việc phải chịu những rủi
ro mà từng thành viên của một tổ chức kinh tế không dễ gì kham nổi. Để phân tán rủi
ro cho nhiều người, các nhà kinh doanh thường liên kết với nhau để nếu có rủi ro thì
nhiều người cùng gánh chịu. Chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty trong
phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty của họ là một chế độ nhằm phân tán, hạn
chế rủi ro ở mức thấp nhất.
- Định nghĩa luật công ty. Sự ra đời của các công ty kéo theo nhu cầu cần phải có luật lệ
riêng về công ty để điều chỉnh sự phát sinh, phát triển và chấm dứt hoạt động của công ty.
hoặc đại diện cho công ty. Thành viên có trách nhiệm vô hạn về cơ bản giống thành
viên của hợp danh vô hạn.
- Công ty hợp danh được quy định trong luật doanh nghiệp Việt nam có thể là công ty hợp
danh vô hạn hoặc công ty hợp danh hữu hạn. Điều 95 Luật doanh nghiệp định nghĩa:
"Công ty hợp danh là loại doanh nghiệp, trong đó:
a) Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh, có thể có
thành viên góp vốn
b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề
nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Pháp luật về doanh nghiệp 25 c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm
vi số vốn đã góp vào công ty"
Các đặc trưng pháp lý
Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân.
Đặc điểm về thành viên: số lượng thành viên ít, thường là những người có quen biết, có
tài năng uy tín. Việc thay đổi thành viên là rất khó đặc biệt là thành viên hợp danh.
- Thành viên hợp danh (thành viên chịu trách nhiệm vô hạn): ít nhất phải có hai người.
Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và
phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Nói
cách khác, các thành viên hợp danh sẽ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi
khoản nợ của công ty.
- Thành viên góp vốn (thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn):
+ Góp vốn: Việc góp vốn khác với thành viên hợp danh ở chỗ họ chỉ góp một số
tiền hoặc tài sản giới hạn, không được góp bằng sức lao động hoặc bằng uy tín.
+ Trách nhiệm: Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm liên đới và trực tiếp đối
với chủ nợ của công ty cùng với các thành viên khác trong phạm vi số vốn góp
của mình.
Đặc điểm về điều hành kinh doanh và đại diện cho công ty.
vụ thông thường của một thành viên góp vốn, họ không được hưởng bất kỳ một ưu đãi
nào. Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông. Cổ phần phổ thông không
được chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi.
Người sở hữu cổ phần phổ thông gọi là cổ đông phổ thông và họ sẽ có bốn
quyền cơ bản (điều 53): i) Tham dự và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền
của đại hội đồng cổ đông, mỗi cổ phần phổ thông sẽ có một phiếu bầu, ii) Được
nhận cổ tức tuỳ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, iii) Được
ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông đang
nắm giữ, iv) Được nhận phần tài sản còn lại, khi công ty giải thể, tương ứng với
tỷ lệ vốn góp.
Luật doanh nghiệp còn có quy định về cổ phần phổ thông của các cổ đông
sáng lập (điều 58): trong thời hạn ba năm, kể từ ngày công ty được cấp giấy
chúng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau nắm giữ ít
nhất 20% số cổ phần phổ thông.
+ Cổ phần ưu đãi là loại cổ phần mà người sở hữu nó sẽ được hưởng một số ưu đãi
nhất định so với người sở hữu cổ phần phổ thông. Công ty cổ phần được quyền quyết
định có phát hành cổ phần ưu đãi hay không. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành
cổ phần phổ thông.
Theo luật doanh nghiệp, có bốn loại cổ phần ưu đãi sau:
i) Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là loại cổ phần mà người sở hữu nó sẽ có số phiếu
biểu quyết lớn hơn so với cổ phần phổ thông. Cổ phần ưu đãi biểu quyết chỉ dành
cho các cổ đông sáng lập và các tổ chức được chính phủ uỷ quyền. Đối với các
cổ đông sáng lập thì sau ba năm cổ phần ưu đãi biểu quyết của họ phải chuyển
thành cổ phần phổ thông.
Pháp luật về doanh nghiệp 27 ii) Cổ phần ưu đãi cổ tức có các đặc tính sau: Về cổ tức: người sở hữu cổ phần ưu
đãi cổ tức sẽ được hưởng cổ tức theo một trong hai cách sau: một là, được nhận
một mức cổ tức cố định hàng năm không phụ thuộc vào hoạt động sản xuất kinh
Đặc trưng về thành viên. Thành viên của công ty cổ phần gọi là cổ đông, số lượng cổ
đông tối thiểu để thành lập một công ty cổ phần là ba, số lượng tối đa không hạn chế.
Pháp luật về doanh nghiệp 28 - Phân loại cổ đông. i) Căn cứ vào số vốn góp vào công ty ta có: cổ đông nhiều vốn, cổ
đông ít vốn, ii) Căn cứ vào loại cổ phần đang sở hữu ta có: cổ đông phổ thông, cổ đông nắm
giữ cổ phần ưu đãi các loại.
- Quyền và nghĩa vụ của các loại cổ đông không giống nhau, tuỳ thuộc vào loại cổ phần
đang nắm giữ.
- Vấn đề chuyển nhượng vốn góp của các cổ đông. Trong công ty cổ phần, về cơ bản các
cổ đông được tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình trừ những hạn chế và ràng buộc
được thoả thuận trong điều lệ công ty hoặc do luật định.
Đặc trưng về khả năng huy động vốn. Công ty cổ phần được phát hành chứng khoán
ra công chúng để huy động vốn theo quy định của pháp luật về thị trường chứng khoán.
Đặc trưng về tổ chức quản lý. Tổ chức quản lý trong công ty cổ phần rất chặt chẽ, thể hiện sự
dân chủ trong quản lý kinh tế. Mô hình tổ chức quản lý trong công ty cổ phần được thể hiện bằng sơ
đồ sau: Hình 2.1. Mô hình tổ chức quản lý trong công ty cổ phần
- Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của công ty gồm tất
cả các cổ đông. Cổ đông có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia đại hội đồng cổ đông. Đại
Chiến lược phát triển công ty.
Phương án đầu tư.
Giải pháp phát triển thị trường.
b) Về tài chính.
Chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được chào bán từng loại.
Huy động thêm vốn theo các hình thức khác không phải là cổ phần.
Quyết định thời hạn và thủ tục trả cổ tức hoặc xử lý các khoản lỗ phát sinh
trong quá trình kinh doanh.
Giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty.
Định giá tài sản góp vốn không phải là tiền Việt nam, ngoại tệ tự do chuyển
đổi, vàng.
Công ty mua lại không quá 10% số cổ phần đã bán của từng loại.
Trình bày báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên đại hội đồng cổ đông.
Thông qua hợp đồng mua bán, vay, cho vay và các hợp đồng khác có giá trị
bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong số kế toán của công ty, hoặc
một tỉ lệ nào đó nhỏ hơn theo quy định của bản điều lệ .
c) Về tổ chức quản lý công ty.
Bổ nhiệm, bãi nhiễm, cách chức giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng khác
của công ty, quyết định lương bổng của những người này
Cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, lập công ty con, chi nhánh,
văn phòng đại diện và việc góp vốn mua cổ phần ở các doanh nghiệp khác.
Pháp luật về doanh nghiệp 30 d) Nội bộ
Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp đại hội đồng cổ đông.
Triệu tập đại hội đồng cổ đông hoặc thực hiện các thủ tục hỏi ý kiến nghị để
đại hội đồng cổ đông.
- Ban kiểm soát. Ban này là một thành phần của cơ cấu quản lý khi công ty có trên 11 cổ
đông. Ban kiểm soát có từ ba tới năm thành viên do đại hội đồng cổ đông bổ nhiệm, trong
định lương bổng của người lao động trong công ty và cả các chức danh quản lý
thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của mình
Đặc trưng về sự điều chỉnh của pháp luật. Công ty cổ phần chịu sự điều chỉnh rất chặt
chẽ của các quy định pháp luật. Các vấn đề thành lập, tổ chức, điều hành và kiểm soát công
ty cổ phần đều được pháp luật quy định rất chặt chẽ.
- Để đảm bảo an toàn về mặt pháp lý cho những người có vốn tham gia vào công ty cổ
phần và bảo vệ lợi ích hợp pháp của tất cả các thành viên và các chủ nợ của công ty, pháp
luật đã có những quy định chặt chẽ đối với những vấn đề quan trọng trong công ty cổ phần.
Cụ thể là:
+ Có những quy định đặc biệt về quá trình thành lập công ty. Quá trình này phải được
thẩm định bởi các chuyên gia kiểm toán độc lập có chuyên môn.
+ Có quy định chặt chẽ về cơ chế điều hành công ty, về nguyên tắc hoạt động, chế độ
trách nhiệm của các cơ quan trong công ty
+ Thực hiện nghiêm ngặt chế độ kế toán thống kê, báo cáo tài chính.
+ Vấn đề huy động vốn phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của pháp luật.
2.2.1.3 Công ty TNHH
- Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại công ty trung gian giữa công ty đối nhân và công ty
đối vốn, nó vừa có những tính chất của một công ty đối nhân là các thành viên quen biết
nhau, vừa có tính chất của công ty đối vốn theo đó các thành viên chỉ chịu trách nhiệm về
mọi khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên.
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trên thế giới, thoạt tiên các công ty
trách nhiệm hữu hạn một chủ ra đời là kết quả pháp lý đặc biệt của quá trình phát triển
của các công ty trách nhiệm hữu hạn khi toàn bộ tài sản của một công ty trách nhiệm
hữu hạn nhiều chủ, vì những lý do nhất định (thành viên chết hoặc ra khỏi công ty), đã
chuyển vào tay một thành viên duy nhất. Ở Việt nam, luật doanh nghiệp cũng thừa
nhận loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn do một thành viên góp vốn thành lập. Tuy
- Cơ chế huy động vốn: không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn, chỉ được
phép phát hành trái phiếu. Để huy động vốn phải kết nạp thành viên mới hoặc buộc các
thành viên phải tăng vốn góp, hoặc dùng lợi nhuận để tăng vốn, hoặc vay ngân hàng,…
Đặc điểm về tổ chức quản lý: đơn giản hơn so với công ty cổ phần.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên
Hình 2.2. Mô hình tổ chức quản lý trong công ty TNHH có hai thành viên trở lên
+ Hội đồng thành viên: là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm tất cả các
thành viên, không phụ thuộc vào số vốn góp của từng thành viên. Thẩm quyền của hội
đồng thành viên.
Ban kiểm soát Giám đốc Chủ tich hội đồng
thành viên
Hội đồng thành viên
Pháp luật về doanh nghiệp 33 a) Về kinh doanh.
Quyết định phương hướng phát triển công ty.
Quyết định phương thức đầu tư và dự án đầu tư có giá trị lớn hơn 50% tổng
giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn quy
định tại bản điều lệ của công ty.
Thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớnhơn
50% tổng giá trih tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỷ lệ khác
Ban kiểm soát. Quyền, nghĩa vụ và chế độ làm việc của Ban kiểm soát, trưởng ban
kiểm soát do điều lệ công ty quy định
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Hình 2.3. Mô hình tổ chức quản lý trong công ty TNHH một thành viên
2.2.2 Doanh nghiệp tư nhân
Khái niệm
Điều 99 Luật doanh nghiệp định nghĩa: " Doanh nghiệp tư nhân là một doanh nghiệp
do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt
động của doanh nghiệp"
Đặc điểm
- Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh.
- Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ. Đây là điểm khác cơ bản của doanh
nghiệp tư nhân so với công ty. Doanh nghiệp tư nhân không có sự hùn vốn, không có sự liên
kết của nhiều thành viên mà tất cả tài sản của doanh nghiệp thuộc về một chủ duy nhất,
người chủ này là một cá nhân.
- Doanh nghiệp tư nhân không phải là một pháp nhân. Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm
vô hạn về các nghĩa vụ của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý đây là đặc điểm quan trọng của
doanh nghiệp tư nhân. Khi doanh nghiệp tư nhân mắc nợ thì chủ doanh nghiệp phải đem tất
cả tài sản của mình để trả cho đến khi nào hết nợ. Quan hệ nợ nần của doanh nghiệp tư nhân
là quan hệ giữa chủ doanh nghiệp với các chủ nợ (khác với công ty là quan hệ của công ty
với các chủ nợ).
2.2.3 Doanh nghiệp nhà nước
thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của luật doanh
nghiệp nhà nước. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà
nước độc lập, tổng công ty.
+ Doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty cổ phần có 2 dạng: i)
công ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty
nhà nước hoặc tổ chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt
động theo quy định của luật doanh nghiệp (không do nhà nước trực tiếp thành lập
mà do các công ty nhà nước liên kết lại). ii) công ty cổ phần có vốn chi phối của
nhà nước là công ty cổ phần trong đó nhà nước là cổ đông nắm giữ trên 50% vốn
điều lệ và giữ quyền chi phối doanh nghiệp. Loại doanh nghiệp này cũng được tổ
chức và hoạt động theo luật doanh nghiệp.
+ Doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
cũng có 2 dạng: i) Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công
ty trách nhiệm hữu hạn do một công ty nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,
được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp.
ii) Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên là công ty
trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc
Pháp luật về doanh nghiệp 36 có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước
uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quy định của luật doanh
nghiệp.
(iii) Thứ ba: Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền quản lý vốn và
tài sản do nhà nước giao.
+ Các doanh nghiệp nhà nước tồn tại dưới hình thức là công ty cổ phần hoặc
công ty trách nhiệm hữu hạn đương nhiên có tư cách pháp nhân bởi vì ở đó có sự
tách bạch tài sản giữa các doanh nghiệp này với chủ sở hữu sáng lập ra nó.
+ Ở đây, chúng ta sẽ bàn sâu hơn về công ty nhà nước. Công ty nhà nước có tư
cách pháp nhân tức là nó có tư cách để trở thành một chủ thể pháp lý độc lập, sở
viên.
+ Theo tiêu chí cơ quan quản lý, chia thành doanh nghiệp trung ương (do Chính phủ
hoặc các bộ và cơ quan ngang bộ quản lý) và doanh nghiệp địa phương (do uỷ ban
nhân dân tỉnh quản lý).
+ Tuỳ theo quy mô, ta có: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ.
+ Theo mức độ vốn sở hữu của nhà nước: doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, doanh
nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước
+ Cũng có thể chia doanh nghiệp nhà nước thành tổng công ty và các công ty nhà nước
độc lập.
2.3 THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP
2.3.1 Thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân
2.3.1.1 Điều kiện thành lập
Điều kiện về chủ thể: điều 9 LDN: Những trường hợp không được quyền thành lập và
quản lý doanh nghiệp gồm:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của nhà
nước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan mình
- Cán bộ công chức.
- Sỹ quan, hạ sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân, Công an nhân dân
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ (thành viên HĐQT, Tổng giám đốc, phó tổng giám
đốc, giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng, thành viên Ban kiểm soát, trưởng, phó các
phòng ban nghiệp vụ, trưởng chi nhánh, văn phòng đại diện) trong doanh nghiệp nhà nước.
- Người chưa thành niên, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc
bị tnoà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả,….
- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, giám đốc, thành viên HĐQT, HĐTV
của doanh nghiệp bị tuyên phá sản không được thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 3
năm.
- Tổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam.
Hình 2.4 Quy trình thành lập công ty và doanh nghiệp tư nhân
CHỦ ĐẦU TƯ
(CÔNG TY, DNTN)
Chuẩn bị hồ ĐKKD
Hồ sơ ĐKKD
Điều lệ công ty
Danh sách thành viên,
c
ổ đông
Xác nh
ận về vốn pháp
định, chứng chỉ hành
nghề (nếu có)
UBND tỉnh hoặc Toà
hành chính
Phòng ĐKKD c
ấp tỉnh
(S
ở KHĐT)
Kết thúc thành lập
2.3.2 Thành lập doanh nghiệp nhà nước
2.3.2.1 Thành lập công ty nhà nước
Hình 2.5 Quy trình thành lập công ty nhà nước
2.3.2.2 Thành lập mới CTCP nhà nước, CTTNHH nhà nước một thành
viên, CTTNHH nhà nước hai thành viên trở lên.
(khoản 1,2 điều 9)
1
1.1
1.2
1.3
Gửi
Lập hội đồng
thẩm định
Trình (2.2)
2
2.3
3
3.1
Có thành lập
Không thành lập
(giải thích bằng
văn b
ản)
3.2
Đăng ký kinh doanh
theo quy định của luật
doanh nghiệp
( 60 ngày)
4