Những thành tựu cơ bản mà đất nước ta đa đạt được trong những năm qua khi tiến
hành hội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn lao. Đất nước ta thoát ra khỏi tình trạng bị bao
vây cấm vận, cô lập, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công
việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và thương
trường thế giới. Cho đến nay Việt Nam đa ký 86 hiệp định thương mại song phương,
46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư và 40 hiệp định chống đánh thuế 2 lần
với các nước và vùng lanh thổ, có quan hệ thương mại với trên 160 nước và nền kinh
tế; thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế là thành viên của
ASEAN, ASEM , APEC Thực hiện thành công chiến lược ổn định và phát triển
kinh tế - xa hội (1991 - 2000) ; GDP tăng trưởng bình quân 8,2%/năm, trong giai
đoạn 1991 - 2000, khoảng 7% trong hai năm 2001 và 2002 , năm 2003 tăng 7,2% và
là nước có tốc độ tăng GDP thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc. Hạ tầng cơ sở
được cải thiện rõ rêt. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế một cách tích cực theo
định hướng tăng dần tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá trị
nông nghiệp trong cơ cấu thu nhập quốc dân. Cơ cấu vùng kinh tế cũng bắt đầu thay
đổi theo hướng hình thành các vùng trong điểm , các khu xuất nhập khẩu tập trung ,
các khu chế xuất, chuyển toàn bộ nền kinh tế sang môi trường cạnh tranh lấy mục
đích và hiệu quả kinh tế xa hội làm cơ sở, thay đổi thói quen trông chờ vào sự bảo hộ
của Nhà nước của các doanh nghiệp.
Mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển tạo
thêm việc làm , tăng thu ngân sách. Năm 1990 kim ngạch xuất khẩu mới đạt 2,404 tỷ
USD và nhập khẩu 2,752 tỷ USD thì năm 2001 kim ngạch xuất khẩu đa đạt 15 tỷ
USD (nếu tính cả dịch vụ thì đạt 17,6 tỷ USD), tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
năm tăng 30% (gấp 7 lần năm 1990). Năm 2003 xuất khẩu đạt 20,176 tỷ USD. Xuất
khẩu bình quân đầu người đạt 200 USD, đây là mức được thế giới công nhận là quốc
gia có nền xuất khẩu bình thường. Bên cạnh đó nước ta còn thu hút được một nguồn
lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Đến nay ta đa thu hút được trên 41,538 tỷ
USD vốn đầu tư từ 64 quốc gia và vùng lanh thổ với trên 4.370 dự án trong đó đa
thực hiện trên 24,654 tỷ USD. Nguồn đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong
nền kinh tế nước ta, chiếm gần 30% vốn đầu tư xa hội, 35% giá trị sản xuất công
việc nội bộ của nhau. Đại hội VII đa đưa ra khẩu hiệu nổi tiếng “Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì độc lập hoà bình và
phát triển”
(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, nxb sự thât, Hà Nội 1991, tr147)
Đây là bước mở đầu cho quốc tế hội nhập, quyết định sáng suốt có tính bước ngoặt về
chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
Để phát triển kinh tế , đảng ta chỉ rõ phải tận dụng tối đa ngoại lực, trên cơ sở dựa
vào sức mình là chính. Giữ vững độc lập tự chủ, đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế,
đa dạng hoá , đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào sức mình là chính , đi đôi
với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
vực và thế giới hướng mạnh vào xuất khẩu (Văn kiện đại hội đại biểu VIII, nxb Quốc
gia Hà Nội , 1996 tr84-85)
Cũng trong văn kiện đại hội VIII, đảng ta nêu rõ “Điều chỉnh cơ cấu thị trường để
vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và đối
tác, chủ động tham gia cộng đồng thương mại thế giới, các diễn đàn , các tổ chức ,
các định chế quốc tế, một cách chọn lọc, bước đi thích hợp.”
Đến đại hội IX, chính sách đối ngoại của đảng từng bước được bổ xung hoàn thiện
hơn. Đảng ta tiếp tục khẳng định “chủ động hội nhập kinh tế tranh thủ mọi thời cơ để
phát triển trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, chủ quyền
quốc gia và bản sắc văn hoá dân tộc, bình đẳng cùng có lợi, vừa có hợp tác, vừa đấu
tranh đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại, đề cao cảnh giác
trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch”.
(Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nxb : CTQG, Hà Nội 2001, tr167)
Chương III
Phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
quốc tế, chúng ta có thể khẳng định một lần nữa giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có mối quan hệ biện chứng. Chỉ có xây
dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có đầy đủ tư cách và thực lực
để chủ động hội nhập đúng hướng và có hiệu quả. Và ngược lại , chỉ có chủ động hội
7. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nxb Sự thật, Hà Nội 1991
8. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc VII, nxb QGHN 1996
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -