Hiện tượng chuyển hóa
trong Văn học - Trường hợp
huyền thoại
Hai nguyên tắc nhận thức và cũng là hai nguyên tắc cấu trúc của huyền thoại là tính
tương tự (analogy) và tính đồng nhất (identity). Chu kỳ của tự nhiên đã được đồng hoá với
chu kỳ của con người sống, chết, tái sinh. Còn sự không đồng nhất giữa thế giới con
người sống với thế giới con người thích sống đã tách thành các cõi trong huyền thoại.
Trong văn học, những nguyên tắc cấu trúc được xây dựng từ tính tương tự và tính đồng
nhất đã trở thành các nguyên tắc cấu trúc của nó. Phép so sánh và phép ẩn dụ của văn học
ra đời như vậy. Sự vận động đi lên trong những huyền thoại về mùa xuân, bình minh, sinh
nở, cưới hỏi, phục sinh đã trở thành nguyên tắc cấu trúc của hài kịch. Cũng như thế, sự
vận động đi xuống trong những huyền thoại về cái chết, sự biến hoá, sự hiến tế với cấu
trúc của bi kịch. “Vì thế mối quan hệ giữa thần thoại với văn học được thiết lập bằng
cách nghiên cứu các thể loại và qui ước của văn học”. Chính cấu trúc qui ước thể loại của
tác phẩm văn học đưa chúng ta đến huyền thoại, và từ đây chúng ta sẽ có cái nhìn đầy đủ
và đúng hơn về bản thân nó, tức cái mà ông gọi là tác phẩm chứ không phải là đường nét,
nếu là bức tranh. Có lẽ vì thế, ông cho rằng không phải cuộc sống làm nên hình dạng văn
học như các nhà hiện thực chủ nghĩa quan niệm mà hình dạng ấy chỉ đến từ truyền thống
văn học mà khởi nguồn của truyền thống đó là huyền thoại, nghĩa là nó đến từ huyền
thoại.
Trong một bước triển khai xa hơn, Northrop Frye đi đến một so sánh thú vị huyền
thoại và văn học. Nếu văn học được quan niệm như là cái tổng thể thì nó sẽ cung cấp cái
khung sườn hoặc ngữ cảnh cho từng tác phẩm văn học cũng giống như hệ huyền thoại phát
triển đầy đủ đối với những huyền thoại của nó. Hơn nữa, vì chúng chiếm lĩnh cùng một
không gian ngôn từ nên chúng ta có thể tìm thấy khung sườn và ngữ cảnh của tác phẩm văn
chương trong hệ huyền thoại nếu chúng ta nhận thức đầy đủ truyền thống văn học của nó.
Lúc bấy giờ tác phẩm văn chương sẽ có được chiều kích nghĩa vang dội rộng lớn; một ngữ
của thể loại. Nói như Bakhtine là ký ức thể loại. Còn N. Frye lần ngược lên tới huyền thoại.
Cái ký ức (thể loại) huyền thoại đó đã chi phối người sáng tác một cách vô thức. Huyền
thoại đã thâm nhập vào văn học theo cách như vậy, ngay cả đối với những thành phần nhỏ
hơn của văn học như thủ pháp so sánh, ẩn dụ… Dưới cái nhìn của N. Frye, đó không đơn
thuần là hiện tượng chuyển hoá của huyền thoại trong văn học mà là hiện tượng huyền thoại
hoá văn học. Điều này gợi ra một hình thức phê bình tổng thể mà trước hết là phê bình
huyền thoại. Những đóng góp của N. Frye là không thể phủ nhận, và một viễn cảnh phê
bình như thế theo sự đòi hỏi của N. Frye, trong bối cảnh nhất định của chúng ta hiện nay, là
cần thiết.
Trong thực tế, chúng ta không phủ nhận sự tác động của vô thức trong sáng tác
nhưng có lẽ những tác động như thế là không xuyên suốt, không thường xuyên, và không
phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả, không phải lúc nào cũng mang tính quyết định. Bằng
chứng là có tác phẩm đã phải được tác giả sửa chữa nhiều lần trước khi công bố. Trong
một chuyên luận về E. Hemingway
(*)
, chúng tôi đã bày tỏ quan điểm của chúng tôi về vấn
đề này. Sự tương ứng giữa mẫu số chung là mô hình quan niệm về thế giới của tác giả với
tử số hệ thống các yếu tố nghệ thuật bất định nhưng tương ứng cho phép những ánh chớp
của vô thức tràn vào trong quá trình sáng tạo tác phẩm. Nhưng những tác động mà chúng
tôi quan niệm bấy giờ của vô thức không phải là phá vỡ cái tổng thể tác phẩm. (Tất nhiên
lúc đó chúng tôi đứng trên một cơ sở khác để khảo sát tác phẩm của E. Hemingway).
Trong trường hợp sự thâm nhập của huyền thoại vào văn học như một hiện tượng chuyển
hoá phải được quan sát dưới cái nhìn tổng thể; nghĩa là một khi thâm nhập vào tác phẩm
văn học, huyền thoại đã chi phối cái cấu trúc tổng thể của tác phẩm. Sự chuyển hoá như
thế của huyền thoại sẽ tạo nên sự thay đổi cơ bản đối với tác phẩm. Nó kéo tác phẩm khỏi
tình trạng phản ánh đơn điệu như là kiểu bày ra nghĩa; nó đưa tác phẩm thoát khỏi tình
trạng khô cứng cùng với môi trường sống. Tóm lại, nó tạo được những độ giãy sóng mới
và còn mãi của tác phẩm đối với người đọc. Một sự chuyển hoá như thế, theo tôi, không
phải bao giờ cũng đến từ vô thức của người sáng tác, dẫu là vô thức tập thể.
Cho đến đây, chúng ta sơ bộ hình dung hiện tượng chuyển hoá của huyền thoại