tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu bệnh héo xanh vi khuẩn ralstonia solanacearum smith hại cây lạc, cây khoai tây vùng hà nội, phụ cận và biện pháp phòng trừ - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠIHỌC NÔNGNGHIỆP HÀ NỘI
*** NGUYỄN TẤT THẮNG

NGHIÊN CỨU BỆNH HÉO XANH VI KHUẨNRalstonia
solanacearum Smith HẠI CÂY LẠC,
CÂY KHOAI TÂY VÙNG HÀ NỘI, PHỤ CẬN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 62.62.10.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2012
Luận án được hoàn thành tại:

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày,
cây thực phẩm có giá trị kinh tế cao và ngày càng được trồng phổ
biến ở nhiều nước trên thế giới. Việt Nam hiện nay đứng thứ 10 thế
giới và thứ 5 tại châu Á về diện tích trồng lạc.
Cây khoai tây (Solanum tuberosum L.) là loại cây thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng. Ở Việt Nam, năm 2009 diện tích trồng khoai tây
đạt 35.000 ha, sản lượng đạt 370.000 tấn.
Tuy nhiên năng suất lạc, khoai tây của nước ta hiện nay còn thấp.
Phát triển và mở rộng diện tích các giống lạc, khoai tây mới có năng
suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh là một trong những
hướng nghiên cứu ưu tiên nhằm đẩy mạnh sản xuất lạc, khoai tây ở
nước ta. Trong sản xuất lạc, khoai tây bệnh HXVK R. solanacearum
Smith là bệnh gây hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng. Cho
đến nay, những công trình nghiên cứu về quản lý tổng hợp bệnh héo
xanh gây hại trên cây lạc, cây khoai tây áp dụng vào thực tiễn sản
xuất chưa nhiều. Xuất phát từ tình hình thực tiễn, luận án đã chọn và
thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh héo xanh vi khuẩn
Ralstonia solanacearum Smith hại cây lạc, cây khoai tây vùng Hà
Nội, phụ cận và biện pháp phòng trừ”.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Các kết quả nghiên cứu của luận án là một dẫn liệu khoa
học có giá trị về việc đánh giá được thực trạng bệnh héo xanh vi
khuẩn R. solanacearum Smith hại cây lạc, cây khoai tây một cách
tổng hợp; đồng thời nhằm hạn chế tác hại của bệnh HXVK, tăng
cao năng suất và chất lượng nông sản phẩm.
- Kết quả nghiên cứu một số đặc tính sinh học của loài R.
solanacearum Smith có ý nghĩa trong chẩn đoán, giám định và dự

của loài R. solanacearum gây bệnh HXVK. Nghiên cứu một số yếu
tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh, phát triển bệnh HXVK.

3
Xây dựng và thực hiện biện pháp phòng chống bệnh HXVK theo
hướng quản lý tổng hợp ở vùng nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là công trình khoa học đã nghiên cứu làm rõ hơn
một số vấn đề về bệnh HXVK hại cây lạc, cây khoai tây vùng Hà
Nội và phụ cận.
- Xây dựng mô hình và quy trình quản lý tổng hợp bệnh
HXVK hại cây lạc, cây khoai tây một cách đơn giản, dễ làm, dễ áp
dụng, phù hợp với điều kiện thực tiễn, đạt hiệu quả kinh tế cao và
mang tính bền vững.
- Bổ sung nguồn tư liệu có ý nghĩa về bệnh HXVK hại cây lạc,
cây khoai tây, là tài liệu tham khảo cho công tác đào tạo cán bộ kỹ
thuật và các nghiên cứu tiếp theo về bệnh này.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án chính 140 trang, gồm 5 phần: mở đầu (6 trang),
chương 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu (38 trang), chương 2.
Phương pháp nghiên cứu (25 trang), chương 3. Kết quả nghiên
cứu và thảo luận (69 trang), Kết luận và đề nghị (2 trang). Có
42 bảng biểu, 15 hình minh họa. Luận án có 2 phụ lục. Có tổng
số 149 tài liệu tham khảo; trong đó có 47 tài liệu tiếng Việt,
102 tài liệu tiếng Anh, có trên 36 tài liệu cập nhật từ năm 2000
đến nay.

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài

(Hayward, 1994 [78]; Prior et al., 1997 [126]). Bệnh gây nên những
thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, làm giảm năng suất trên nhiều cây
trồng từ 15 đến 95%, thậm chí 100% trên cây cà chua (AVRDC
report, 2000) đến 70% trên cây khoai tây (Sinha, 1986) [134] và
90% trên cây lạc (Machmud, 1986).

5
1.2.2. Những nghiên cứu về vi khuẩn gây bệnh héo xanh
R. solanacearum Smith
Bệnh HXVK do vi khuẩn R. solanacearum có hình gậy ngắn,
tròn ở hai đầu gây ra. Kích thước khoảng 1,0 - 1,5 x 0,5 - 06 μm.
Khuẩn lạc có bề mặt trơn, nhẵn, ít khi gồ ghề, hơi chảy hoặc không
chảy, có thể có màu trắng, trắng đục hoặc phớt hồng trên môi trường
TZC (Mehan et al., 1994) [111].
Vi khuẩn gây bệnh HXVK là ký sinh đa thực, gây hại trên cà
chua, lạc, thuốc lá và nhiều cây trồng, cây rừng và cỏ dại. Vi khuẩn
có thể tồn tại lâu dài trong đất, trong tàn dư cây bệnh và trên cỏ dại
(Persley, 1986).
Đã phát hiện và công bố 5 race khác nhau trên cơ sở phân biệt
về phạm vi ký chủ, phân bố địa lý và khả năng tồn tại ở những môi
trường khác nhau (He, 1986) [84].
Dựa vào khả năng sử dụng, oxy hóa 3 loại rượu là mannitol,
sorbitol, dulcitol và 3 loại đường là lactoza, maltoza cellobioza (He et
al., 1983; Hua et al., 1984 [92]) đã nghiên cứu và phân loại vi khuẩn
đến biovar (thứ sinh học). Theo các tác giả, loài R. solanacearum có
5 biovar gây bệnh HXVK.
1.2.3. Các nghiên cứu phòng chống bệnh héo xanh vi khuẩn
Áp dụng biện pháp chọn, tạo và sử dụng giống chống chịu,
biện pháp sinh học, canh tác, hóa học, quản lý tổng hợp đã bước đầu
mang lại hiệu quả.

- Điều tra, đánh giá thực trạng bệnh HXVK hại cây lạc, cây
khoai tây ở: Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định.
- Phân lập, nuôi cấy và nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính
sinh học của vi khuẩn gây BHX, lây bệnh nhân tạo, khảo sát tính
chống chịu đối với bệnh HXVK v.v: tại phòng nghiên cứu Bộ môn
Bệnh cây, khu nhà lưới Khoa Nông học - Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội.
- Thí nghiệm ngoài đồng ruộng thực hiện tại xã Tam Sơn, Từ
Sơn, Bắc Ninh; xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội.

7
2.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 6 năm 2008 đến tháng 10
năm 2011.
2.3. Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
2.3.1. Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu bệnh HXVK hại lạc, khoai tây.
- Giống lạc, giống khoai tây, đất trồng cây.
- Chế phẩm vi sinh vật đối kháng Bacillus subtilis, một số thuốc
kháng sinh, thuốc hóa học, chất kích kháng.
- Môi trường nhân tạo dùng để phân lập, nuôi cấy, xác định
biovar của các isolates vi khuẩn R. solanacearum.
2.3.2. Dụng cụ nghiên cứu
Tủ định ôn, tủ lạnh, nồi hấp, tủ cấy, tủ sấy, dao, kéo, panh, bút
lông, đĩa petri, lọ thủy tinh đựng mẫu, vv
2.4. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thực trạng bệnh HXVK hại cây lạc và cây khoai tây.
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học; xác
định các race, biovar của loài R. solanacearum gây bệnh HXVK.
- Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái kỹ thuật ảnh hưởng đến


Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng bệnh héo xanh vi khuẩn hại cây lạc, cây
khoai tây vùng Hà Nội và phụ cận
3.1.3. Đánh giá mức độ tác hại của bệnh HXVK trên cây lạc, cây
khoai tây
Trên ruộng đối chứng tỷ lệ bệnh HXVK hại lạc rất cao
(11,47%), tương ứng thiệt hại về năng suất là 13,17% so với ruộng

9
thí nghiệm. Trong khi đó ở ruộng thí nghiệm tỷ lệ bệnh HXVK ở
mức rất thấp (1,33%) và năng suất cũng đạt cao hơn so với ruộng
đối chứng là 13,17% (đạt 134,4 kg/sào 360m
2
) (Bảng 3.4).
Bảng 3.4. Mức độ tác hại của bệnh HXVK hại cây lạc
tại xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội (vụ hè thu năm 2009)
Ruộng
thí nghiệm

TLB % ở các
giai đoạn sinh trưởng
TLB
(%)
Năng
suất
trung
bình
(kg/

0,27
1,33
134,4
-
Bảng 3.5. Mức độ tác hại của bệnh HXVK hại cây khoai tây
tại xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh (vụ đông năm 2009)
Ruộng
thí nghiệm TLB % ở các
giai đoạn sinh trưởng
TLB
(%)
Năng
suất
trung
bình
(kg/sào)
Thiệt hại
năng
suất (%)
so với
ruộng
mô hình
Cây
con
Hình
thành
củ

3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học; xác
định các race, biovar của loài Ralstonia solanacearum gây bệnh
HXVK
3.2.1. Nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc tính sinh học của VKHX
hại cây lạc, cây khoai tây
Qua nghiên cứu đặc điểm hình thái cho thấy: các isolates vi
khuẩn gây bệnh héo xanh phân lập từ cây lạc, cây khoai tây trên
môi trường TZC đều có khuẩn lạc với hình dạng không đều, nhày,
rìa màu trắng, ở giữa có phớt màu hồng nhạt. Trên môi trường
Kings’B, khuẩn lạc màu trắng, nhày, không có sắc tố huỳnh quang.
Trên môi trường SPA thì các isolates vi khuẩn có đặc điểm sai khác
nhau chút ít về màu sắc khuẩn lạc: trắng kem, trắng xám, trắng sữa,
trắng trong. Loài R. solanacearum có dạng hình gậy, hai đầu hơi
tròn, có từ 1 - 3 lông roi ở một đầu, các isolates của 2 dòng vi khuẩn
đều nhuộm Gram âm.
3.2.2. Xác định biovar của các mẫu phân lập vi khuẩn

R. solanacearum trên cây lạc, cây khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận
Đa số các isolates vi khuẩn thuộc biovar 3 và một số ít isolates
(4/24 hay 19,7%) thuộc biovar 4, đó là các isolates LSS1, KTĐA2,
LTY1 và KTTY1. Trên lạc và khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận,
các isolates vi khuẩn thuộc biovar 3 là tác nhân gây hại phổ biến
nhất. Qua kết quả nghiên cứu, xác định biovar của loài R.
solanacearum gây hại cây lạc, cây khoai tây vùng Hà Nội và phụ cận,
cho thấy: các isolates vi khuẩn đều thuộc biovar 3 và 4, trong đó
biovar 3 là phổ biến (Bảng 3.7).

11
Bảng 3.7. Xác định biovar phổ biến hại trên cây lạc,
cây khoai tây vùng Hà Nội và phụ cận (2008 - 2009)

nhất đối với tất cả các isolates vi khuẩn thuộc biovar 3 và biovar 4,
TLB trung bình từ 69,02 - 73,5%. Giống Gié Nho Quan có mức

12
nhiễm bệnh nhẹ nhất (TLB trung bình là 5,79 - 6,19%), tiếp đến là
giống L14 với TLB trung bình từ 18,1 - 21,9%, giống Trạm Xuyên
có TLB trung bình là 31,58 - 33,95 và giống đỏ Bắc Giang (TLB
trung bình từ 65,85 - 70,20%) (Bảng 3.10).
Bảng 3.10. TLB trung bình (%) của một số giống lạc lây bệnh
nhân tạo với 14 isolates vi khuẩn R. solanacearum
(vụ xuân và vụ hè thu năm 2009)
Giống lạc
Tỷ lệ bệnh % HXVK trung bình
Vụ xuân Vụ hè thu
Gié Nho Quan 5,79
e
6,19
e

L14 18,10
d
21,90
d

Trạm Xuyên 31,58
c
33,95
c

Đỏ Bắc Giang

a

LSD
0.05

1.20
CV% 1.9

13
Đối với giống KT3 có tỷ lệ bệnh HXVK thấp nhất (24,53%),
tiếp đến là giống KT2 (32,74%) và cao nhất trên giống Nicola
(42,99%) (Bảng 3.12).
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố: sinh thái, kỹ thuật đến
sự phát sinh, phát triển của bệnh HXVK hại cây lạc, khoai tây
3.3.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ luân canh đến bệnh héo
xanh vi khuẩn hại cây lạc, khoai tây
3.3.1.1. Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến bệnh héo xanh hại lạc
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến bệnh HXVK
hại lạc tại xã Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội
(vụ xuân năm 2009 - 2010)
STT
Công thức luân canh
TLB % trung bình
Năm 2009 Năm 2010
1
Lạc xuân - lúa mùa - ngô đông
1,87
d

2,13

Lạc xuân - lạc hè thu - cà chua đông
4,8
a

5,07
aLSD
0,05

0,05
0,08

CV%
2,9
4,0
Ở các công thức luân canh khác nhau thì có mức độ nhiễm bệnh
HXVK cũng thể hiện sự khác nhau. Khi luân canh lạc với lúa nước
thì mức độ phát sinh phát triển của bệnh thường nhẹ hơn, TLB trung
bình là 1,87 - 2,67% ở các điểm điều tra. Ở công thức luân canh 2 vụ
lạc với 1 vụ rau màu hoặc cây cà chua tỷ lệ bệnh HXVK có cao hơn
(TLB trung bình 4,53 - 5,07%). TLB héo xanh nhẹ nhất là trên chân
đất luân canh 1 vụ lúa - 1 vụ ngô hoặc khoai lang và nặng nhất trên

14
đất luân canh 2 vụ lạc và 1 vụ cà chua (Bảng 3.13).
3.3.1.2. Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến bệnh héo xanh hại khoai tây
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của chế độ luân canh đến bệnh HXVK
hại khoai tây vụ đông tại xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh

b
4,8
b

5
Lạc xuân - cà chua hè thu -
khoai tây
đông
4,53
a
5,07
a

LSD
0,05

0,05 0,08
CV%
2,5 3,9
Ở công thức 1 có TLB thấp nhất (TLB trung bình từ 2,4 - 2,67%),
tiếp đến là công thức 2 (TLB trung bình từ 2,67 - 2,93%). Ở công thức 5
có TLB cao nhất (TLB trung bình từ 4,53 - 5,07%). Ở các công thức
trồng 2 vụ lúa (lúa xuân - lúa mùa - khoai tây vụ đông) có tỷ lệ bệnh
HXVK thấp hơn (TLB trung bình từ 2,4 - 2,93%) so với các công thức
không trồng lúa (TLB trung bình từ 2,67 - 5,07%). Ở các công thức (lúa
- lúa - khoai tây) đã làm giảm đáng kể mật độ vi khuẩn trong đất dẫn đến
tỷ lệ bệnh HXVK trên các ruộng khoai tây đã giảm đáng kể (Bảng 3.15).
3.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chân đất đến bệnh héo xanh vi
khuẩn hại lạc, khoai tây
3.3.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của chân đất đến bệnh HXVK hại lạc

0.05

0,52 0,57
CV%
7,3 7,6
3.3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của chân đất đến bệnh HXVK hại
khoai tây

Bảng 3.21. Ảnh hưởng của chân đất đến bệnh HXVK
hại khoai tây vụ đông vùng Hà Nội và phụ cận (2008 - 2010)
Loại đất
TLB % trung bình
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Chân đất vàn thấp 1,87
c
2,13
c
2,4
c
Chân đất vàn 2,67
b
3,2
b
3,2
b
Chân đất vàn cao
4,8
a
5,33
a

21
ngày
28
ngày
1 Sen Nghệ An 40,0 35,5
f
36,6 33,3
f
S
2 Đỏ Bắc Giang 44,4 41,1
e
40,0 37,7
e
S
3 Sen lai 75/23 57,7
50,0
d
55,5 47,7
d
S
4 Trạm Xuyên 67,7
58,8
c
65,5 56,6
c
MS
5 L08 70,0
61,1
c
67,7 56,6

a
HR

LSD
0,054,09

3,82 CV%

3,8

3,6 Ghi chú: + Kháng cao (HR): > 90% số cây sống sót
+ Kháng (R): 70 - 90% số cây sống sót
+ Nhiễm trung bình (MS): 50 - 70% số cây sống sót
+ Nhiễm nặng (HS): 10 - 49% số cây sống sót. (Theo Tan và cs, 1995).
Giống thể hiện tính kháng bệnh HXVK cao (HR) là hai giống

17
MD7 và Gié Nho Quan có tỷ lệ cây sống sót sau lây nhiễm rất cao
(91,1 - 93,3%). Ở mức kháng (R) có 1 giống: L14 (tỷ lệ cây sống sót
là: 85,5 - 88,8%). Ở mức giống nhiễm trung bình (MS) có 4 giống là:
Trạm Xuyên, L08, MD9, L18 (tỷ lệ cây sống sót lần lượt là: 56,6 -

3
Roberta
73,3
68,8
de

MS
4
KT2
76,6
71,1
cd

MS
5
Nicola
77,7
71,1
cd

MS
6
Diamant
78,8
73,3
bc

MS
7
Marabel


4,38 CV%

3,5

Giống khoai tây Thường Tín thuộc giống nhiễm với bệnh HXVK (tỷ
lệ cây sống sót sau 28 ngày lây nhiễm là 54,0 %).
Tiếp đến là các giống nhiễm bệnh HXVK trung bình gồm có 6

18
giống (Solara, Roberta, KT2, Nicola, Diamant, Marabel) có tỷ lệ cây
sống sót từ 66,6 - 75,5% sau lây nhiễm 28 ngày. Trong đó giống
Marabel có tỷ lệ cây sống sót cao hơn là 75,5%, tiếp đến là giống
khoai tây Diamant (73,3%) và thấp nhất là giống Solara (66,6%).
Các giống chống chịu với bệnh HXVK có tỷ lệ cây sống sót >70%
gồm có 3 giống là KT3, VT2 và Mariella. Trong nhóm giống này thì
giống Mariella có tỷ lệ cây sống sót cao nhất sau 28 ngày lây nhiễm (tỷ
lệ cây sống sót 84,4%), tiếp đến là giống VT2 có tỷ lệ cây sống sót là
83,3% và thấp hơn là giống KT3 có tỷ lệ cây sống sót là 82,2% (Bảng
3.25).
3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trừ bệnh HXVK hại cây lạc, cây
khoai tây vùng Hà Nội và phụ cận
3.4.4. Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh HXVK hại lạc, khoai tây
bằng chế phẩm VSV đối kháng, thuốc kháng sinh, thuốc hóa học,
chất kích kháng trong điều kiện SX ngoài đồng ruộng
3.4.4.1. Khảo sát khả năng phòng trừ bệnh HXVK hại lạc bằng chế
phẩm VSV đối kháng, thuốc kháng sinh, thuốc hóa học và chất kích

50SP 0,2% (HLPT đạt 59,1%) và thuốc Sansai 200WP 0,1% có hiệu
lực thấp nhất (HLPT chỉ đạt 45,5%) sau 14 ngày xử lý thuốc.
Trong các loại chất kích kháng thì Chitosan 0,15% có HLPT
cao nhất sau 14 ngày xử lý (HLPT đạt 68,2%), tiếp đến là thuốc Exin
0,15% (HLPT là 40,9%) và thấp nhất là thuốc Bion 0,15% (HLPT
chỉ đạt 31,8%).
3.4.5. Thực nghiệm mô hình phòng trừ bệnh HXVK hại cây khoai tây
vụ đông năm 2009, năm 2010 ở Xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh
3.4.5.1. Thực nghiệm mô hình phòng trừ bệnh HXVK hại cây khoai tây
vụ đông năm 2009, năm 2010 ở Xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh
Ở ruộng đối chứng không xử lý chế phẩm VSV đối kháng B.
subtillis và chất kích kháng thì TLB héo xanh khá cao từ 4,8 - 5,33%.
Trong khi đó ở ruộng mô hình (xử lý giống trước khi trồng và đất
bằng chế phẩm VSV đối kháng B. subtillis 5%, phun chất kích kháng
Chitosan 0,15%) thì TLB ở mức thấp hơn rất nhiều so với đối chứng

20
(1,06 - 1,33%) sau 49 ngày xử lý. Như vậy, khi kết hợp sử dụng chế
phẩm VSV đối kháng B. subtillis (nồng độ 5%) để ngâm củ khoai tây
trong 30 phút, dịch chế phẩm còn lại sau khi ngâm dùng để tưới vào
đất sau khi trồng khoai tây với phun chất kích kháng Chitosan 0,15%
đã có tác dụng hạn chế đáng kể khả năng xâm nhiễm, phát sinh gây
hại của bệnh HXVK trên đồng ruộng.
Ở ruộng mô hình (xử lý chế phẩm VSV đối kháng B. subtilis 5%
kết hợp với phun Chitosan 0,15%) đã cho hiệu quả phòng trừ bệnh
HXVK cao và ổn định trong 2 vụ (TLB héo xanh sau 49 ngày theo dõi ở
mức 1,06 - 1,33%) (Bảng 3.41).
Bảng 3.41. Kết quả thực nghiệm mô hình quản lý tổng hợp
bệnh HXVK hại khoai tây tại xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh
(vụ đông năm 2009 - 2010) 6.4 2010
Đối
chứng
0,27 0,53 1,6 2,3 2,67

3,73

5,33
a
13,3 -
Thực
nghiệm
0,27 0,27 0,53 0,8 1,06

1,06

1,33
b
16,2 17,90
LSD
0,05
0.21
CV% 3.4

2
O + 540 kg vôi bột/ ha.
+ Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng + lân + vôi + 70%
lượng kali. Bón thúc toàn bộ lượng urê và kali còn lại khi vun xới lần 2.
* Biện pháp canh tác
Luân canh cây trồng: không phải là ký chủ của R. solanacearum,
đặc biệt với cây lúa nước, ngô, khoai lang, đậu tương, rau cải bắp,

22
su hào được coi là biện pháp có ý nghĩa kinh tế và đem lại hiệu
quả cao nhất trong việc giảm mật độ vi khuẩn trong đất cũng như
giúp hạn chế tối đa nguồn bệnh từ vụ trước.
* Biện pháp sinh học
Sử dụng chế phẩm VSV đối kháng B. subtilis (nồng độ
5%) bằng cách xử lý củ khoai tây giống trước khi trồng và xử lý
đất nhằm hạn chế và giảm tác hại của bệnh héo xanh vi khuẩn trên
đồng ruộng. Lượng chế phẩm VSV đối kháng B. subtilis sử dụng
là 6kg/ ha. Pha 500 g chế phẩm/ 10 lít nước để ngâm 10kg khoai
tây giống.
* Biện pháp sử dụng chất kích kháng
Phun chất kích kháng Chitosan (nồng độ 0,15%) để phòng trừ
bệnh HXVK trong quá trình cây khoai tây sinh trưởng phát triển.
Liều lượng sử dụng: pha 18g/ bình 12 lít. Lượng thuốc sử dụng:
750g/ ha. Lượng nước phun: 500 lít/ ha.
- Phun lần 1: sau trồng 25 ngày
- Phun lần 2: sau lần 1 là 10 ngày
Áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp bệnh HXVK hại cây
khoai tây theo quy trình đã làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh HXVK trên
đồng ruộng, góp phần mở rộng diện tích trồng cây khoai tây; tăng giá
trị sản xuất nông nghiệp, tăng thêm thu nhập cho bà con nông dân,

tác dụng làm giảm đáng kể sự phát sinh gây hại của bệnh HXVK hại
cây lạc và cây khoai tây. Đối với cây lạc bón: 10,8 tấn phân chuồng
hoai mục + 540 kg vôi + 43,5 kg N + 92,6 kg P
2
O
5
+ 75,6 kg K
2
O/ ha
và với cây khoai tây bón: 16,2 tấn phân chuồng hoai mục + 136,6 kg
N + 92,6 kg P
2
O
5
+ 90,7 kg K
2
O/ ha.
5, Hai giống lạc MD7 và Gié Nho Quan thể hiện tính kháng
cao (HR) với bệnh HXVK, còn hai giống L02 và L14 thể hiện tính
kháng (R). Các giống khoai tây thể hiện tính chống chịu với bệnh
HXVK gồm KT3, VT2, Mariella. Có thể sử dụng các giống lạc,
giống khoai tây có khả năng chống chịu với bệnh HXVK để đưa vào
trồng trong sản xuất ở những vùng có áp lực bệnh HXVK cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status