Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương VI.
MỘT SỐ BỆNH KÍ SINH TRÙNG
Nội dung chính của chương:
Trong chương này bao gồm những nội dung chính sau:
- Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các loài giun sán gây nên
-Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các loài nguyên sinh động vật gây
nên
-Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do ngành chân đốt sán gây nên
-Nắm rõ vòng đời phát triển của từng loại bệnh (kí chủ cuối cùng, ký chủ trung gian,
ký chủ bổ sung).
-Con đường lây truyền bệnh
-Các triệu chứng của bệnh
-Biện pháp phòng trị bệnh
I. CÁC BỆNH VỀ SÁN LÁ
BỆNH SÁN LÁ GAN - FASCIOLOSIS
Bệnh sán lá gan là một bệnh ký sinh trùng thường gặp ở loài nhai lại, do Fasciola hepatica và
Fasciola gigantica thuộc họ Fasciolidae gây ra. Đây là bệnh phổ biến thường gặp ở dê cừu,
trâu bò, thỉnh thoảng gặp ở lợn, ngựa hươu, nai, đôi khi còn gặp ở người.
Sán lá trưởng thành ký sinh ở trong gan trong ống dẫn mật, đôi khi còn gặp ở phổi, tim. Sán
trưởng thành đẻ trứng, xuống ruột theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi như nhiệt độ
ánh sáng, trứng nở thành ấu trùng (Miracidium), sau 40 giờ bơi lội trong nước, gặp ký chủ
trung gian (ốc nước ngọt). Vào cơ thể ốc chúng phát triển thành mao ấu (Sporocis), sau 35 -
40 ngày mao ấu phát triển thành lôi ấu (Redia), rồi phát triển thành cercaria. Cercaria thành
thục ra khỏi miệng ốc ra ngoài, bơi lội bám vào cây cỏ thủy sinh, đứt đuôi và tiết ra một chất
dịch tạo màng cứng phát triển thành Adolescaria. Hoàn thành vòng đời từ trứng tới
Adolescaria mất khoảng thời gian từ 35 - 36 ngày.
Chẩn đoán:
Dựa vào triệu chứng lâm sàng không được chính xác. Mà cần chẩn đoán theo phương pháp
của bệnh ký sinh trùng. Theo dõi phân gia súc tìm trứng sán, bằng phương pháp gạn rữa
nhiều lần.
Điều trị và phòng bệnh:
Từ trước tới nay bệnh sán lá gan đã được điều trị bằng nhiều loại thuốc, như
tetracloruacacbon, Dectil-B, Fasciolin filixan, Hextol Hiện nay nhiều công ty thuốc thú y
đã cho sản xuất nhiều loại thuốc tẩy sán lá gan với nhiều tên thương phẩm khác nhau, nhưng
chúng đều có kết quả tốt. Đối với gia súc gầy yếu thì dùng thuốc chia làm hai lần của một
liều. Gia súc mang thai tẩy sán lá gan thường có những biến chứng bất lợi. Trong công tác
tẩy sán lá gan cần bổ sung vitamin, tăng cường thức ăn.
Phòng ngừa:
Định kỳ tẩy sán là biện pháp phòng ngừa thích hợp nhất. Nó nhằm ngăn chặn sự xuất hiện
các triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan, giảm mức độ cảm nhiễm sán, giảm số lượng
trứng sán ra môi trường bên ngoài.
Các biện pháp phòng bệnh cần được tiến hành như sau:
- Ủ phân theo phương pháp sinh học
- Xử lý các cơ quan nội tạng có nhiễm sán.
- Diệt ốc ký chủ trung gian.
- Phương pháp vật lý là đấu tranh có hiệu quả là cải tạo đất ở, nơi nước trủng và bãi cỏ, tháo
nước cho ốc chết.
- Biện pháp sinh vật học - nhiều cơ sở người ta dùng ngan, vịt ngỗng để diệt ốc. Hiện nay
nhiều tác giả còn đề nghị dùng côn trùng để diệt ốc.
Giữ cho gia súc không bị nhiễm bởi nang ấu. Vấn đề này người ta khuyến cáo nên cho gia
súc uống nước sạch sẽ, khi chăn thả không nên chăn ở những nơi ẩm thấp. Cắt cỏ ở những
nơi có nước nên cắt cao, và phơi khô trước khi cho gia súc ăn.
Đặc điểm dịch tễ.
Bệnh sán lá phân bố rộng rãi khắp nước ta, tỷ lệ
nhiễm sán ở vùng núi thấp hơn đồng bằng. Ở
những nơi cho lợn ăn rong bèo ở dưới nước,
không áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để phòng bệnh thì tỷ lệ nhiễm lên tới 95%.
Sán lá ruột
Bệnh sán lá ruột lợn tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi lợn. Lợn con chưa cai sữa thì không
cảm nhiễm bệnh. Lợn ngoại tỷ lệ cảm nhiễm cao hơn so với giống lợn nội.
Cơ chế bệnh và triệu chứng bệnh
Tác dụng gây bệnh của sán lá ruột lợn đối với gia súc yếu hơn so với người.
Tác dụng chủ yếu là sán dùng giác bám bám vào thành ruột, gây viêm loét, rối loạn tiêu hóa.
Mặt khác sán tiết ra chất độc làm cho lợn gầy ốm yếu, sức đề kháng giảm.
Khi lợn mắc bệnh thường thấy ăn uống kém, chậm lớn xù lông, nhọn đít, ỉa chảy
Chẩn đoán bệnh:
Dựa vào dịch tễ, nhưng tốt nhất là sử dụng phương pháp soi phân tìm trứng (bằng phương
pháp dội rữa nhiều lần).
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
94
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Điều trị và phòng bệnh
Dùng các thuốc tẩy sán.
Biện pháp phòng bệnh cho lợn là hiệu quả nhất. Ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học,
diệt ký chủ trung gian bằng mọi cách.
triển thành mao ấu rồi lôi ấu và cuối cùng trở thành vĩ ấu.
Vĩ ấu rời khỏi ốc và vào ấu trùng của chuồn chuồnphát triển thành nang ấu, chúng cư trú ở
đó. Một khi gà vịt ăn phải ấu trùng chuồn chuồn. Vào cơ thể xâm nhập vào máu, di hành khi
tới ống dẫn trứng và tử cung phát triển thành sán trưởng thành. Hoàn thành vòng đời của nó
khoảng 40-45 ngày.
Cơ chế sinh bệnh và triệu chứng lâm sàng
Sán lá trưởng thành kí sinh ở đường sinh dục gà, bám vào niêm mạc, là xơ niêm mạc gây
xuất huyết, rối loạn quá trình tạo trứng của gà. Gây nên hiện tượng gà đẻ không đều trứng dị
dạng không có võ, hoặc không có lòng đỏ.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
95
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Phòng và trị
+Cần định kỳ tẩy giun sán cho gà vịt
+Tránh không cho gà uống nước bẩn
+Không nên xây chuồng gà gần ao, hồ
+Không nên thả gà vào lúc sáng sớm hay trời mưa.
II. MỘT SỐ BỆNH GIUN TRÒN
BỆNH GIUN ĐŨA CỦA GIA SÚC (BÊ NGHÉ, LỢN, GÀ)
Ascaris - Giun đũa lợn
Parascaris equirirum - giun đũa ngựa
Neoascaris vitulorum - giun đũa bê nghé
Ascaris galli - giun đũa gà
Toxocaris cannis - giun đũa chó
Bệnh giun đũa của các loại vật nuôi là do loài giun tròn thuộc bộ phụ Ascaridata gây ra. Nó
là loại giun tròn to, con đực nhỏ hơn con cái. Giun đũa thường ký sinh ở ruột non các loại vật