vấn đề anh ninh năng lượng và một số giải pháp công nghệ năng lượng sạch có thể thực hiện được ở việt nam - Pdf 19



VẤN ĐỀ AN NINH NĂNG LƢỢNG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ NĂNG LƢỢNG SẠCH
CÓ THỂ THỰC HIỆN ĐƢỢC Ở VIỆT NAM 1
LỜI NÓI ĐẦU
Năng lượng, đã từ lâu, cho đến nay và cho mai sau luôn là động lực cho phát triển
của xã hội nhân loại. “Lửa” đã đưa con người tiến lên từ thời kỳ đồ đá đến kỷ nguyên
vũ trụ. Chính nó cũng là những nguyên nhân gây ra tranh giành quyền lực của các thế
lực trong xã hội loài người.Trữ lượng năng lượng truyền thống ngày càng cạn kiệt, nhu
cầu về nó càng cao, nên vấn đề an ninh năng lượng càng trở nên cấp bách. Các cuộc
khủng hoảng chính trị đã đẩy giá dầu lên cao, ảnh hưởng nặng nề đến phát triển kinh tế
thế giới, đồng thời kéo theo những mối quan hệ căng thẳng giữa các nước sản xuất dầu
mỏ với các nước nhập dầu mỏ, giữa các nước nhập dầu mỏ chính với nhau, đã sinh ra
những cuộc xung đột vũ trang mất an ninh khu vực và dễ bùng nổ hiểm hoạ lan rộng
trên toàn thế giới. Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào thế giới hiện đại, nền

2
I. AN NINH NĂNG LƢỢNG:

1.1. Vấn đề an ninh năng lƣợng trên thế giới
Nguồn "vàng đen" thế giới đang ngày càng cạn kiệt, trong khi đó nhu cầu tiêu thụ
năng lượng trên thế giới chưa có dấu hiệu giảm bớt, ngược lại gia tăng hơn khi mức
sống người dân của nhiều nước được cải thiện. Người ta ước tính rằng khi thu nhập
quốc dân tăng lên 1% thì nhu cầu điện năng sẽ tăng lên khoảng 2,1-2,3%. Nguồn điện
cung cấp cho thế giới hiện nay chủ yếu vẫn được sản xuất từ những lọai nguyên liệu
đào dưới lòng đất lên như dầu lửa, than đá và khí đốt. Nguồn nhiên liệu ấy không phải
là vô tận, với mức độ khai thác như hiện nay thì dầu mỏ sẽ hết sau 40-50 năm, khí đốt
60 năm, than đá nhiều hơn một chút là trên 200 năm, cho nên việc bảo toàn chỉ có thể
kéo dài giờ phút cạn kiệt cho đến khi không còn gì nữa để bảo toàn. Martin Hoeffert,
Giáo sư Vật lý ở Đại học New York, ước tính rằng, trong thế kỷ 21, con người sẽ sử
dụng gấp ba lần lượng điện hiện thời. Không có nguồn nhiên liệu mới nào đủ dồi dào
để thay thế dầu lửa, than đá và khí đốt cho đến thời điểm này. Những nguồn nhiên liệu
không đào khoan từ lòng đất thì vẫn đang ngập ngừng những bước đi dò dẫm, đầy
chông gai sóng gió.
Trong những năm gần đây, các mối lo ngại trên phạm vi toàn cầu liên quan đến
nguồn cung năng lượng được đánh giá là rất nghiêm trọng.Về mức độ chung toàn cầu,
an ninh năng lượng liên quan chủ yếu và chặt chẽ đến an ninh dầu mỏ, trong đó giá
dầu mỏ là nguồn gốc của sự mất an ninh năng lượng. Điều này không chỉ liên quan
đến lượng dầu xuất khẩu của khu vực Trung Đông đầy bất ổn, mà còn cả tới năng lực
của toàn bộ hệ thống sản xuất, lọc dầu và vận chuyển dầu khí trên thế giới. Tiếng
chuông cảnh báo ngày càng được các chuyên gia gióng lên tới các nhà lãnh đạo chính
trị. Trong Báo cáo 2 năm một lần xuất bản ngày 7/11/05, với tiêu đề "Triển vọng năng
lượng thế giới 2004-2030", Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) đã nhấn mạnh đến nguy
cơ an ninh năng lượng có thể kịch phát trong thời gian ngắn và khả năng nguồn cung
gián đoạn sẽ gia tăng.
Được xem như một giải pháp chính để thay thế dầu lửa, nguồn khí tự nhiên cũng

kiểm soát năng lượng.
Toàn cảnh ngành dầu khí thế giới đã có sự thay đổi sâu sắc trong 3 năm qua. Cuộc
xâm lược của Mỹ vào Irắc năm 2003 đã đẩy nước thành viên quan trọng của Tổ chức
các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) này vào tình trạng bị bất ổn liên miên, sản lượng
dầu giảm mạnh từ 2,5 triệu xuống còn 1,5 triệu thùng/ngày, đẩy giá trung bình rổ dầu
thô của OPEC tăng vọt từ 24,36 USD/thùng năm 2002 lên 50,58 USD/thùng năm 2005
và năm nay giá dầu đang tiến dần tới ngưỡng cửa 80 USD/thùng.
Trữ lượng năng lượng thế giới giờ đây còn rất hạn chế. Mặc dù đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu tìm các nguồn nằng lượng khác, nhưng các loại nhiên liệu hoá thạch vẫn
còn cung cấp tới 80% nhu cầu năng lượng thế giới. Các dạng năng lượng lại không
phân bố đồng đều trên thế giới, nhất là dầu mỏ; Vùng Trung Đông có trữ lượng 65,4%,
nhưng nhu cầu chỉ 6%, trong khi đó ở các nước phát triển nhu cầu là 62%, nhưng trữ
lượng chỉ có 9,7%. Ở các nước phát triển phần lớn đều chỉ có trữ lượng than đá là lớn.
Than gây ô nhiễm, nhưng do giá xăng dầu, khí đốt cao, mặc dầu phải trả tiền phạt 20
euro/1 tấn khí thải CO
2
(theo Nghị định thư Kyoto), nhưng vẫn có lợi nhuận vì chi phí
chỉ 40 Euro/Mwh, so với 56 Euro/Mwh sử dụng nhiên liệu khí đốt. Do vậy, tại các
nước phát triển, vẫn đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ nhiệt điện từ nguồn năng lượng
này.
Ở mức độ chung toàn cầu hiện nay, an ninh năng lượng chủ yếu gắn chặt chẽ với an
ninh dầu mỏ, giá dầu mỏ là nguồn gốc của sự mất an ninh năng lượng. Ngược với cú
sốc dầu lửa vào các năm 1973-1974 và 1979-1980, sự tăng giá dầu không mong đợi
cùng với mối lo ngại liên quan đến an ninh năng lượng hiện nay không phải là kết quả
của một lệnh cấm vận, của việc giảm lượng dầu xuất khẩu, hay việc sử dụng dầu lửa
như một thứ vũ khí của các nước sản xuất. Nó chịu ảnh hưởng của hai loại nhân tố:
- Loại thứ nhất liên quan đến địa-chính trị, nhất là các vụ tấn công và sự bất ổn định
chính trị ở Trung Đông và Nigiêria, căng thẳng hạt nhân giữa Iran với Mỹ và EU.

4

nước trong khối EU gia tăng. Theo Tờ Thời báo tài chính (Anh) cho rằng châu Âu và
Mỹ ngày càng phụ thuộc vào dầu lửa của Trung Đông và sẽ trở thành nơi xuất khẩu
sản phẩm dầu đã tinh lọc lớn nhất trong mười năm tới. Cơ quan năng lượng quốc tế
(IEA) ước tính từ năm 2004 đến năm 2030, các nước ở Trung Đông sẽ chi 89 tỷ USD
cho ngành công nghiệp lọc dầu. Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), nơi
chiếm 40% tổng khối lượng dầu mỏ cung ứng cho toàn thế giới, dự định sẽ tăng khả
năng lọc dầu thêm khoảng 6 triệu thùng/ngày trong 7 năm tới. Các thành viên của
OPEC, chủ yếu là các nước Trung Đông, hiện chiếm 3/4 trữ lượng dầu mỏ thế giới,
không những dự định xây các nhà máy lọc dầu trong nước, mà còn muốn xây dựng các
nhà máy lọc dầu ở nước ngoài, đặc biệt là ở châu Á. Trong bối cảnh đó, vai trò của các
nước Trung Đông sẽ ngày càng quan trọng hơn, khi họ nắm phần lớn nguồn dầu lửa

5
của thế giới và sở hữu nền công nghiệp lọc dầu hiện đại. Tuy nhiên, khu vực Trung
Đông nhiều dầu mỏ cũng đang và ngày càng trở thành điểm nóng của thế giới về chính
trị. Đây đã, đang và sẽ là nơi các nước lớn tranh giành ảnh hưởng quyết liệt hơn, và
các cơ sở dầu mỏ luôn là mục tiêu tấn công của bọn khủng bố. Những thay đổi chế độ
ở Trung Đông đều dẫn tới sự thay đổi trong chính sách dầu mỏ quốc gia. Chính các
nhân tố đó khiến ngành công nghiệp dầu lửa ở khu vực này phát triển mạnh, nhưng
không bền vững. Các chuyên gia của Mỹ cho rằng, chừng nào chưa có nguồn năng
lượng thay thế dầu mỏ, thế giới chưa thể chấm dứt sự lệ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu
và một Trung Đông đầy biến động thì chúng ta còn phải chung sống với thực trạng bất
an vì mất an ninh năng lượng.
Trong bối cảnh nhu cầu dầu lửa ngày càng lớn và nguồn tài nguyên này ngày càng
hạn chế, mối nguy hiểm chính đe dọa đến an ninh cung ứng năng lượng lại nằm ở chỗ
mất cân đối giữa cung và cầu, trong sự cạnh tranh và nguy cơ xung đột giữa các nước
tiêu thụ chính. Sự cạnh tranh này giải thích lý do của cuộc chạy đua giữa Mỹ, EU,
Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ nhằm có quan hệ hợp tác với các nước sản xuất dầu và
tìm cách kiểm soát các con đường vận chuyển dầu giữa các trung tâm sản xuất và
trung tâm tiêu thụ lớn.

dầu thô nhưng nhập xăng và dầu hoả, hàng năm nhập hàng chục triệu tấn, tới năm
2013 -2015 vẫn phải nhập loại năng lượng này. Theo tính toán của các chuyên gia về
năng lượng với tốc độ tăng trưởng trung bình 7,1-7,2%/năm (2001- 2020) nhu cầu điện
201 tỷ kWh (năm 2020) sẽ lên tới 327 tỷ kWh (năm 2030), trong khi đó ta huy động
sản xuất năng lượng nội địa tối đa tương ứng cũng chỉ được 165 tỷ kWh và 208 tỷ
kWh, như vậy, đến năm 2020 theo phương án cơ sở, nước ta thiếu tới 36 tỷ kWh và
đến năm 2030 thiếu gần 119 tỷ kWh, xu hướng gia tăng sự thiếu hụt nguồn điện trong
nước sẽ ngày càng gay gắt hơn và tiếp tục kéo dài trong những giai đoạn sau. Chính vì
những lý do đó, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã chỉ đạo: “Điện như lương thực cho
sự phát triển kinh tế-xã hội, nếu thiếu điện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển đất
nước” và “ngành điện phải đi trước một bước”. Ngành năng lượng Việt Nam đã, đang
và sẽ luôn là nền tảng đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế. Những ngành quan trọng
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là công nghiệp sản xuất, thương
mại và dịch vụ, phụ thuộc rất lớn vào ngành điện. Chất lượng điện đóng vai trò quan
trọng, đảm bảo ngành công nghiệp nhẹ duy trì được sức cạnh tranh với hàng hóa các
nước, nhất là trong thời gian tới khi chúng ta gia nhập WTO. Xuất khẩu dầu thô và
than hàng năm chiếm gần 25% thu nhập ngoại tệ. Tiêu dùng năng lượng trong nước
tăng nhanh hơn GDP 30% và có chiều hướng gia tăng hơn nữa trong những năm tới.
Tài nguyên và tài chính nước ta còn nhiều hạn chế, nên ta vẫn chưa thể khai thác và sử
dụng năng lượng theo nhu cầu của xã hội và kinh tế đòi hỏi.
Dầu mỏ và khí đốt nước ta phần lớn khai thác ở ngoài khơi, nên đầu tư khai thác
cho năng lượng ở nước ta gấp đôi các nước ở khu vực. Trong công nghiệp hoá dầu do
buông lỏng quản lý nên ta chưa thu hút được một cách hiệu quả đầu tư nước ngoài,
vẫn phụ thuộc nhiều về giá xăng và dầu hoả thị trường thế giới, số tiền thu được từ
xuất dầu thô chỉ để trang trải cho nhập loại năng lượng tinh này. Khủng khoảng năng
lượng đang gần kề, mà chúng ta đang phải theo đuổi mục tiêu thiên niên kỷ đã từ lâu là
giải quyết mối liên hệ giữa nghèo đói-môi trường-năng lượng đó là việc quyết định sự
thành bại trong quá trình đuổi kịp và hội nhập vào nền kinh tế tiên tiến của các nước
khu vực và trên thế giới.
Tình hình an ninh năng lượng của chúng ta nặng nề hơn các nước khu vực vì ở

trong sản xuất và tiêu dùng… Nghiên cứu sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm năng lượng
là một chính sách của bất kể quốc gia nào, kể cả trong lúc không có hay có khủng
hoảng về năng lượng. Nước ta là nước có mức sử dụng năng lượng thấp nhất, nhưng
trong quá trình sản xuất năng lượng và sử dụng năng lượng đều có tổn thất năng
lượng cao và hiệu quả sử dụng thấp, lãng phí năng lượng còn nhiều. Do đó, chương
trình sử dụng năng lượng có hiệu quả và tiết kiệm phải là quốc sách, có cơ chế thích
hợp để thực hiện chương trình này.
Trước tình hình bất ổn về năng lượng trên thế giới, ta phải có dự trữ chiến lược bao
gồm dự trữ than, điện, dầu khí Ngay từ thời chiến tranh, nước ta đã đặt ra các kho dự
trữ, nay lại càng cần hơn nhiều vì nền kinh tế đang có nhu cầu rất lớn về việc cung cấp
liên tục, an toàn của các kho năng lượng. Việc xây dựng các kho là rất tốn kém song
dù thế nào cũng phải luôn có dự trữ và nên học hỏi thêm kinh nghiệm của các nước
tiến tiến tận dụng các mỏ đã khai thác hết để làm kho dự trữ, ít nhất cũng phải dự trữ
được 30 ngày theo khuyến cáo của các nhà chiến lược. Mỗi ngành trong lĩnh vực năng
lượng cần có chương trình an ninh riêng trong từng ngành của mình.

II. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ SỬ DỤNG NĂNG LỰƠNG TRÊN THẾ GIỚI
VÀ VIỆT NAM

2.1. Tình hình phát triển năng lƣợng ở thế giới trong thời gian gần đây:
Năng luợng hiện nay đang là mối quan tâm sống còn ở nhiều nước trên thế giới.
Trong cơ cấu tiêu dùng năng lượng, tỷ lệ dầu mỏ chiếm tới 47% (1973), cũng có chiều

8
hướng giảm chút ít 38% do giá dầu mỏ tăng, thế giới đã và đang tìm các nguồn năng
luợng khác, than và khí đốt chiếm 40%, còn 20% - cho các dạng phi hydrocacbon. Sản
lượng dầu mỏ khối OPEC chiếm 40%, OECD - 25%. Sản lượng lớn nhất cho đến
tháng 11/2004: Arập Xêút - 9,5 triệu thùng/ngày (11,5%), Nga - 9,2 triệu thùng/ngày
(10,9%), Mỹ (9%), Iran (4,67%), Mehico (4,5%). Khối ngoài OECD và OPEC: Khối
các nước cộng hoà liên bang xã hội chủ nghĩa Liên Xô cũ (41,6%), các nước châu Mỹ

nguyên tử quốc tế (IAEA) cho đến năm 2003 đã có 441 nhà máy điện hạt nhân tại 32
quốc gia và vùng lãnh thổ, cung cấp 16,1 % sản luợng điện toàn cầu. Năng lượng hạt
nhân là giải pháp năng lượng tương lai và chủ yếu ở châu Âu, nhưng cho đến nay cũng
chỉ mới chiếm 35% ở các nước trong khối liên minh châu Âu, có 3 nước châu Âu quan
tâm nhất là Pháp, Phần Lan, Rumania. Hà Lan kéo dài thời gian hoạt động 1 nhà máy

9
điện hạt nhân, Bungaria đang đóng cửa dần nhà máy điện nguyên tử hiện có, ngừng
xây dựng nhà máy điện hạt nhân đang xây dở. Đức có 16 nhà máy điện nguyên tử, từ
nay đến 2020 sẽ chấm dứt hoạt động của nhà máy điện nguyên tử cuối cùng. Thụy
Điển cũng làm tương tự như vậy, và Italia cũng quyết định sẽ làm như thế. Hiện nay,
chỉ có 30 nước sản xuất điện nguyên tử, còn 170 nước là không. Tình trạng trì trệ ở
các nước châu Âu về năng lượng hạt nhân do tâm lý vẫn còn hoảng loạn vì vụ nổ nhà
máy điện nguyên tử Chernobyl (Ucraina), vì sự phản đối của các phong trào bảo vệ
môi trường. Ngoài ra giá Uranium liên tục tăng trong những năm gần đây. Trong 2
năm qua giá tăng gấp 3 lần từ 10 USD/lb (1 lb = 0,454 Kg) năm 2003 lên 35,5
USD/lb, dự đoán sẽ tăng 40 USD/lb (2006 và 2007), nguồn cung tiếp tục không bắt
kịp với nhu cầu trước năm 2009, do Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc liên tục xây lò
phản ứng mới; Trung Quốc xây thêm 40 lò trong vòng 15 năm tới để thay thế 9 nhà
máy điện hạt nhân cũ, tạo thêm 40 GW. Nhật có 55 lò phản ứng hạt nhân (cung cấp 30
% nhu cầu năng lượng) và phấn đấu trong vòng 25 năm nữa tỷ lệ này lên 40%, ở Hoa
Kỳ 20%, phấn đấu thêm 50% công suất điện hạt nhân (50 GW - 2020), Pháp - 80%.
Hiện nay Uranium mới chỉ đáp ứng được 60% nhu cầu 65.000 tấn/năm, hiện đang
phấn đấu mỗi năm tăng 1000 đến 2000 tấn để đến năm 2020 đạt được trên 100.000
tấn. Nguồn Uranium có trữ lượng lớn ở Australia chiếm 40% trữ lượng thế giới,
Cazacstan-17 %. Trung Quốc có trữ lượng 70.000 tấn.
Ngoài năng lượng hạt nhân ở một số vùng đơn lẻ có phát triển năng lượng mặt trời
như Mỹ, Đức, Tây Ban Nha…; Năng lượng từ gió - Đức, Tây Ban Nha, Mỹ, Đan
Mạch… Năng lượng từ thủy triều - Anh; Năng lượng sinh học - Braxin, Italia,
Bungaria, Đức… Tại Bon (Cộng hoà Liên bang Đức), các nước trong khối EU đã

lượng 2,3 tỷ tấn, khí có trữ lượng khoảng 1,207- 1,507 tỷ m
3
, tiềm năng thủy điện về
mặt lý thuyết là 300 tỷ, trữ lượng Uranium trên 218.000 tấn tính theo U
3
O
8
, ngoài ra
chúng ta có tiềm năng để phát triển điện mặt trời, thuỷ triều của biển, gió, địa nhiệt,
khí sinh học,… Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới trong thời gian gần đây, cạnh
tranh nhau để khai thác tài nguyên năng lượng của ta. Nga đang dùng con bài năng
lượng hạt nhân để tạo lợi thế giành lối vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt
Nam. Liên doanh dầu-khí Nga-Việt “Vietsovpetro”, hiện là cột mốc lớn của ngành
năng lượng Việt Nam, sẽ kết thúc vào khoảng 2017-2020. Giữa tháng 5/2006, Công ty
Atomstroiexport của Nga - Công ty hạt nhân duy nhất trên thế giới, xây dựng tổ phát
điện cho các nhà máy điện hạt nhân ở Trung Quốc, Ấn Độ và Iran- đã có các cuộc hội
đàm với các cơ quan hữu quan Việt Nam như Bộ Công nghiệp, Bộ Khoa học và Công
nghệ, Uỷ ban Năng lượng nguyên tử và Viện Năng lượng, với hy vọng giành được hợp
đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên đặt ở miền Nam Trung bộ Việt Nam.
Công ty sản xuất than chủ chốt của Nga, Russky Ugol, đã mở văn phòng nước ngoài
đầu tiên ở Hà Nội ngày 5/5. Công ty dự kiến 1-2 năm tới sẽ mở một số nhà máy ở Việt
Nam - nơi có trữ lượng than khoảng 20 tỷ tấn. Nga hiện quản lý khoảng 50% các dự
án năng lượng hoặc có liên quan đến năng lượng ở Việt Nam. Ngoài than, Công ty độc
quyền khí đốt Nga Gazprom cũng đã lập một liên doanh với Việt Nam để khai thác mỏ
khí ngoài khơi ở lô 112 có khả năng đạt sản lượng 1.000 tỷ mét khối/năm. Công ty
nhôm khổng lồ RusAl đang nghiên cứu khả năng xây dựng một cơ sở sản xuất nhôm
và điện với tổng chi phí khoảng 1 tỷ USD. Nga có lợi thế trong cuộc chạy đua vào các
lĩnh vực năng lượng và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam nhờ có mối quan hệ
“đồng chí” gắn bó thời chiến tranh. Nhưng giờ đây Việt Nam đang mở cửa kinh tế,
các công ty Nga sẽ sớm vấp phải sự cạnh tranh của các đối thủ đáng gờm khác. Đối

2007 sẽ có thêm nhà máy Turbine khí Cà Mau 1 - 500 MW. Đã lập trình xây dựng nhà
máy điện hạt nhân có công suất từ 2000-4000 MW (chiếm 5-9% tổng công suất phát
điện-2020), lập kế hoạch xây dựng các nhà máy hạt nhân đảm bảo đến năm 2025
chiếm 11% và đến năm 2040-2050 điện hạt nhân chiếm tỷ lệ 25-30% tổng sản lượng
điện quốc gia. Hiện nay, sản lượng điện cung cấp cho nền kinh tế quốc dân Việt Nam
phân bổ như sau: cho công nghiệp, xây dựng chiếm 45,91%; quản lý tiêu dùng dân cư
43,81%.
Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời, nên hiện nay đang hợp tác với
Hãng Solari của Pháp xây dựng Trung tâm năng lượng mặt trời hữu nghị Việt-Pháp tại
Tp. Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam có rất nhiều nguồn năng lượng có thể khai thác được,
các nguồn địa nhiệt của Việt Nam thường có nhiệt độ thấp, tiềm năng không lớn, có
thể đạt 200-400 MW vào năm 2020. Tiềm năng gió của Việt Nam vào loại khá ở Đông
Nam Á, nhưng vẫn còn thuộc loại thấp trên thế giới. Việt Nam có tới 8,6% diện tích
lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ tốt đến rất tốt để xây dựng các trạm phong điện
cỡ lớn, diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9% và ở Thái Lan cũng chỉ là
0,2%. Tổng tiềm năng phong điện của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn
200 lần công suất của Thuỷ điện Sơn La và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của
ngành điện vào năm 2020. Việt Nam đã xây dựng xong và vận hành một cột gió phát
điện công suất 850 kWh ở Bạch Long Vĩ. Ngoài ra, Trung tâm năng lượng tái tạo và
thiết bị nhiệt (RECTARE), Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh đã lắp đặt trên 800 cột
gió ở hơn 40 tỉnh thành, tập trung nhiều nhất ở Nha Trang (135 cột đang hoạt động).
Nha Trang cũng là nơi có một trong hai làng gió duy nhất ở Việt Nam. Việc xây dựng
các cột gió này do Bộ Khoa học và Công nghệ cùng với Hiệp hội Việt Nam-Thụy Sĩ
tài trợ. Ngôi làng gió thứ hai nằm ở Cần Giờ, nơi 50 cột gió đã được lắp đặt thông qua

12
sự hỗ trợ của Pháp. Tuy nhiên, đa số các cột gió nói trên có công suất thấp. Trung tâm
nghiên cứu Năng lượng mới (Đại học Bách khoa Hà Nội) cũng là đơn vị trục tiếp lắp
đặt rất nhiều trạm phong điện. Đến nay, Trung tâm đã lắp đặt dược 46 công trình ở
nhiều địa phương khác nhau. Tới năm 2020 ta cũng chỉ hy vọng đạt khoảng 400M W.

327.000 GWh. Trong khi đó ngay cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống
thì sản lượng điện nội địa của chúng ta, cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh
(năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu
hụt điện một cách nghiêm trọng và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm.
Tổn thất điện của ta có giảm trong những năm vừa qua, nhưng vẫn còn khá lớn so
với các nước khu vực. Năm 1999 thất thoát 25,4%, năm 2002 giảm xuống còn
13,41%, ta đang cố gắng phấn đấu để trong năm 2006 giảm xuống còn 11%, hướng tới

13
năm 2010 tỷ lệ này chỉ còn là 9%. Trong khi đó trong giai đoạn từ năm 1990-2002
hàng năm. Trung Quốc thất thoát 7%, Hàn Quốc - 5-6%. Dự báo, trong điều kiện chưa
áp dụng các giải pháp cấp bách chống thiếu điện, thì nhu cầu tiêu dùng điện cả nước
trong năm 2006 sẽ là 61,4 tỷ kWh; lượng điện trong nước sản xuất là 60,06 tỷ kWh;
nhập khẩu điện sẽ là 1,097 tỷ kWh và sẽ thiếu là 586 triệu kWh. Năm 2007 nhu cầu
điện sẽ là 71,012 tỷ kWh; lượng điện trong nước sản xuất và nhập khẩu sẽ là 68,62 tỷ
kWh và sẽ thiếu là 1,38 tỷ kWh. Mức thiếu hụt của cân bằng cung-cầu điện năm 2008
sẽ giảm xuống còn 759 triệu kWh, bởi đây là thời điểm các nhà máy đang được xây
dựng sẽ đồng loạt đi vào hoạt động.

2.4. Tình hình quản lý năng lƣợng và các giải pháp tạo tính ổn định, an toàn
trong năng lƣợng trên thế giới và ở Việt Nam:
Tiết kiệm năng lượng hiện đang trở thành vấn đề nóng bỏng, nó là chìa khoá của
vấn đề an ninh năng lượng. Hội nghị năng lượng toàn cầu (IEF) lần thứ 10 tại Đôha
(Cata) đã kết thúc ngày 24/4 bằng tuyên bố nhấn mạnh đến sự cần thiết phải tiết kiệm
năng lượng, tăng cường đầu tư vào các cơ sở sản xuất và lọc dầu, phát triển các công
nghệ nhiên liệu hóa thạch sạch và các nguồn năng lượng thay thế - Hội nghị có 70
nước tham gia (OPEC, IAEA, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ). Châu Á-là một trong những
khu vực tăng trưởng kinh tế năng động nhất thế giới cũng đã đặt ra vấn đề tăng cường
hiệu quả sử dụng năng lượng. Chính phủ các nước này đang siết chặt các tiêu chuẩn
đối với ô tô, thiết bị và các công trình mới xây, đồng thời đưa ra những điều kiện ưu

tạo cho người sử dụng nước ta có thói quen tiết kiệm điện. Ở các nước tiên tiến, người
dân từ trẻ con đến người già - điện cho ánh sáng, cho các thiết bị gia dụng họ chỉ sử
dụng ở mức cần đủ, không có người - thì tắt hết điện, hạn chế sử dụng điều hoà nhiệt
độ, mùa đông tận dụng tối đa giữ nhiệt độ trong phòng để giảm năng lượng cho lò
sưởi. Họ có ý thức trong mọi nơi, nhà riêng đến công sở, trường học… Điện ngoài
đường có chế độ tự bật sáng khi tối, tắt khi sáng, chỗ không cần thiết không cần bật
đèn, đèn trang trí quảng cáo bật vào thời điểm có nhiều người đi lại, vào các dịp ngày
lễ, hết ngày lễ lập tức họ dỡ bỏ ngay. Ở nước ta, nhất là ở các nơi công cộng đèn chiếu
sáng thoải mái, cho dù trời sáng bạch, các công sở bật điều hoà nhiệt độ mà cửa phòng
vẫn mở “cho thoáng”, nhiều người còn tranh thủ sài điện cơ quan để chuẩn bị cho bữa
ăn, cho là lượt quần áo… Các chuyên gia của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN)
cũng cho rằng, nếu giảm được 50% lượng điện mà hệ thống chiếu sáng công cộng tiêu
thụ thông qua việc bật muộn (từ 19h) và tắt sớm (4
h
30) thì tổng lượng điện chiếu sáng
công cộng của cả nước năm 2005 là 340 triệu kWh, tiết kiệm được 50MW. Ngoài ra,
nếu tiết kiệm 10% điện năng sử dụng tại các cơ quan hành chính, sự nghiệp thì cũng
tiết kiệm được 128 triệu kWh điện mỗi năm. Ở cơ quan các công chức “hào phóng” sử
dụng điện, nhưng khi trở về nhà thì họ cũng khá “tiết kiệm điện” bằng các máy phụ
trợ “tiết kiệm điện”, hoặc có kỹ năng hơn một chút là ăn cắp điện, trước đây câu trộm
trực tiếp từ điện kế…, nay nâng cấp trình độ “số hoá”, như sử dụng máy tạo dòng và
điều khiển remote, đảo pha dùng điện ngoài… Thất thoát đó, ngành điện biết, nhưng
khó phát hiện, chưa có những biện pháp kiên quyết ngăn chặn, coi trừng phạt đó như
là một hình thức tội phạm kinh tế, nhất là đối với các hộ sản xuất kinh doanh, mà theo
các quan chức của EVN thì số thiệt hại này là hàng chục tỷ đồng. Tỷ lệ sử phạt đối với
những trường hợp ăn cắp điện đã hợp lý chưa? phạt 5% (đối với hộ sinh hoạt), 12%
(hộ kinh doanh) trên tổng số truy thu, nhưng chỉ được tính trong 1 năm (cho đến khi
phát hiện được thì không biết họ đã ăn cắp bao nhiêu lâu rồi!!!) - có những công nghệ
chống ăn cắp điện không? Chúng ta biết là có! nhưng phải cải tạo lại hệ thống truyển
tải và thêm các thiết bị phụ trợ, chúng ta thà bỏ ra số tiền cải tạo lại hệ thống truyền tải

điện ta phải tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ vì sao phải tăng giá điện, để tiết kiệm
điện ta phải làm gì và có những quy chế thưởng phạt trong việc tiết kiệm điện, lãng phí
điện, ăn cắp điện. Giá điện phải công bằng, hiệu quả là công cụ hữu hiệu cho việc
điều tiết sử dụng và sản xuất điện. Ta cũng cần biết rằng tăng giá điện không có nghĩa
là giảm nhu cầu về điện năng vì rằng theo tính toán của Ngân hàng Thế giới giá điện
tăng 1% thì nhu cầu điện năng chỉ giảm từ khoảng 0,25-0,43%.
So với các nước trong khu vực tiết kiệm năng lượng của Việt Nam hiện tại đang tỏ
ra yếu kém trên mọi phương diện. Sự kém cỏi đó nằm trong hệ thống quản lý sản xuất,
xã hội, dịch vụ, ý thức sinh hoạt của cộng đồng người dân và những ngành nghề có
quy trình sản xuất lạc hậu, sản phẩm vừa ít, chi phí năng lượng cao ở cả chế tạo lẫn sử
dụng, so sánh trên cùng một đơn vị sản phẩm doanh nghiệp Việt Nam tiêu tốn gấp 1,7
lần năng lượng. Theo tính toán của UNDP, việc sử dụng năng lượng hiệu quả trong
cộng đồng doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiết kiệm 136 nghìn tấn dầu và giảm mức
độ thải 962 nghìn tấn khí CO
2
/năm vào tầng khí quyển trong giai đoạn 2006 - 2010.
Điều đó chứng tỏ rằng vấn đề tiết kiệm năng lượng và hiệu quả có thể thực hiện được
phụ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ quan của chúng ta. Theo Bộ Công nghiệp, nếu
tính mức sử dụng năng lượng trong công nghiệp chiếm khoảng 40% so với tổng nhu
cầu năng lượng thương mại hiện nay (khoảng 19 triệu tấn dầu quy đổi), số tiền tiết

16
kiệm mỗi năm có thể tới 13,5 nghìn tỷ đồng. Là dạng năng lượng rất quan trọng phục
vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, do đó, tiết kiệm điện năng là
vấn đề cấp thiết hiện nay. Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khoá IX tại Đại hội lần thứ X đã khẳng định chúng ta cần "Phát triển công nghiệp
năng lượng đi đôi với công nghệ tiết kiệm năng lượng". Thủ tướng Chính phủ gần đây
nhất đã quyết định phải Quản lý và giám sát mức tiêu thụ điện năng trong sản xuất và
kinh doanh của các cơ sở sản xuất công nghiệp, khuyến khích tiến tới bắt buộc áp
dụng các định mức tiêu hao năng lượng tiên tiến trên một đơn vị sản phẩm đối với một

quyển, nước và không khí nóng không đều nhau. Một nửa bề mặt của Trái đất, mặt ban
đêm, bị che khuất không nhận được bức xạ của Mặt trời và thêm vào đó là bức xạ Mặt
trời ở các vùng gần xích đạo nhiều hơn là ở các cực, do đó có sự khác nhau về nhiệt độ

17
và vì thế là khác nhau về áp suất mà không khí giữa xích đạo và 2 cực cũng như không
khí giữa mặt ban ngày và mặt ban đêm của Trái đất di động tạo thành gió. Trái đất
xoay tròn cũng góp phần vào việc làm xoáy không khí và vì trục quay của Trái đất
nghiêng đi (so với mặt phẳng do quỹ đạo Trái đất tạo thành khi quay quanh Mặt trời)
nên cũng tạo thành các dòng không khí theo mùa. Ngoài các yếu tố có tính toàn cầu
trên gió cũng bị ảnh hưởng bởi địa hình tại từng địa phương. Do nước và đất có nhiệt
dung khác nhau nên ban ngày, đất nóng lên nhanh hơn nước, tạo nên khác biệt về áp
suất và vì thế có gió thổi từ biển hay hồ vào đất liền. Vào ban đêm, đất liền nguội đi
nhanh hơn nước và hiệu ứng này xảy ra theo chiều ngược lại. Sản xuất phong điện sẽ
mang lại rất nhiều lợi ích. Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi
trường và ít gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Ngoài ra, với đặc trưng phân tán và
nằm sát khu dân cư, Năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Phong điện bắt
đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó
mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió
tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn
năng lượng hiện có (Hình 1). Những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá đã giúp giảm giá thành phong điện
xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả và độ tin cậy của các trạm phong
điện. Cụ thể là nếu như vào năm 1990, công suất trung bình của một trạm phong điện
ở Đan Mạch và Đức chỉ vào khoảng 200 kW, thì đến năm 2002 đã lên tới 1,5 MW và

nửa số dân lục địa này, có thể sử dụng điện bằng sức gió. Ở Việt Nam động cơ gió
phát điện đã được nghiên cứu, ứng dụng từ đầu những năm 80, nhưng mới chế tạo
được các động cơ gió phát điện công suất nhỏ chủ yếu phục vụ cho các hộ gia đình ở
hải đảo.

3.2. Năng lƣợng Mặt trời:
Năng lượng Mặt trời là một nguồn năng lượng quan trọng điều khiển các quá trình
khí tượng học và duy trì sự sống trên Trái đất. Ngay ngoài khí quyển Trái đất, cứ mỗi
một mét vuông diện tích vuông góc với ánh nắng Mặt trời, chúng ta thu được dòng
năng lượng khoảng 1.400 Jule trong một giây. Như vậy mỗi giây, Mặt trời ”trao tặng”
bề mặt Trái đất một số lượng năng lượng tương ứng với 5 triệu tấn than. Đây là nguồn
năng lượng dồi dào, miễn phí, lại không phải vận chuyển, làm ô nhiễm môi trường.
Đối với cuộc sống của loài người, năng lượng Mặt trời là một nguồn năng lượng tái
tạo quý báu. Có thể trực tiếp thu lấy năng lượng này thông qua hiệu ứng quang điện,
chuyển năng lượng các photon của Mặt trời thành điện năng, như trong pin Mặt trời.
Năng lượng của các photon cũng có thể được hấp thụ để làm nóng các vật thể, tức là
chuyển thành nhiệt năng, sử dụng cho bình đun nước Mặt trời, hoặc làm sôi nước

19
trong các máy nhiệt điện của tháp Mặt trời, hoặc vận động các hệ thống nhiệt như máy
điều hòa Mặt trời. Đây là loại điện sạch, không cháy, không khói, nhưng tương đối đắt
tiền do phải có chất silicon, vật liệu chính của ngành năng lượng Mặt trời và cũng là
vật liệu được sử dụng phổ biến trong ngành các thiết bị điện tử hiện nay - đã tăng vọt,
tạo nên đám mây đen che phủ triển vọng tăng trưởng của ngành năng lượng tái sinh
này. Mặc dù bản thân silicon rất sẵn và là chất nhiều thứ hai trên bề mặt trái đất, nhưng
chỉ có một vài công ty chế tạo trên thế giới (5 C«ng ty) mới có thể sản xuất xilicôn đa
tinh thể hay còn được còn được gọi là pôlixilicôn. Lisa Frantzis, Giám đốc phụ trách
Phân loại Năng lượng Tái sinh thuộc Công ty quản lý tư vấn Navigant Consulting, cho
biết ngành năng lượng mặt trời trị giá 11 tỷ USD/năm hiện ngốn khoảng 40% nguồn
cung pôlixilicôn trên toàn cầu và ước tính sẽ tăng lên 50% vào năm 2010. Nhu cầu

trời có thể lên khoảng 43,9 tỷ tấn năng lượng năm. Việt Nam hiện có trên 100 trạm
quan trắc toàn quốc để theo dõi dữ liệu về năng lượng mặt trời. Tính trung bình toàn

20
quốc thì năng lượng bức xạ mặt trời là 4-5 kWh/m
2
mỗi ngày. Tiềm năng điện mặt trời
là tốt nhất ở các vùng từ Thừa Thiên Huế trở vào miền Nam và vùng Tây Bắc. Vùng
Đông Bắc, trong đó có Đồng bằng sông Hồng có tiềm năng kém nhất. Do giá thành
còn cao (60 cent hay 8000 đồng cho 1kWh), nên điện mặt trời chưa được dùng rộng
rãi. Hiện mới chỉ có 5 hệ thống điện mặt trời lớn, trong đó có Hệ thống ở Gia Lai, với
tổng công suất 100 kWp (công suất cực đại khi có độ nắng cực đại). Chính phủ cũng
đã đầu tư để xây dựng 100 hệ thống điện mặt trời gia đinh và 200 hệ thống điện mặt
trời cộng đồng cho cư dân ở các vùng đảo Đông Bắc với tổng công suất là 25kWp. 400
hệ thống pin mặt trời gia đình nữa do Mỹ tài trợ đã được xây dựng cho các cộng đồng
ở Tiền Giang và Trà Vinh với tổng công suất 14kWp. Nước Việt Nam ta năng lượng
mặt trời chủ yếu ứng dụng để làm dàn đun nước nóng do ta sản xuất hoặc nhập ở
nước ngoài dùng cho một số bệnh viện, nhà trẻ, trung tâm điều dưỡng, khách sạn…;
làm thiết bị sấy nông sản, dược liệu, hải sản… hiện tồn tại hai loại sấy năng lượng mặt
trời sấy công nghiệp (có bộ thu bức xạ mặt trời được phủ kín, với diện tích từ 40 - 200
m
2
và nối với hệ thống sấy-giá thành cao, hiệu quả kinh tế thấp); sấy đơn giản (giá
thành thấp, kết cấu đơn giản, diện tích chiếm ít, hiệu suất thấp, tuổi thọ thấp); chưng
cất nước ngọt; gần đây đẩy mạnh triển khai hệ thống pin mặt trời chủ yếu cho các
vùng núi, hải đảo, bưu chính viễn thông và ngành hàng hải.

3.3. Nhiên liệu sinh học:
Đó là loại nhiên liệu được hình thành từ các hợp chất có nguồn gốc động thực vật
(sinh học). Ví dụ như nhiên liệu chế xuất từ chất béo của động thực vật (mỡ động vật,

Bên cạnh đó, nước này cũng đang lên kế hoạch xây dựng 24 nhà máy khác với công
suất 1 tỷ lít. Chuyên gia Bettadapura thuộc Frost & Sullivan ước tính sản lượng dầu
điêzen sinh học ở châu Âu có thể tăng 10% trong năm nay so với mức 3 triệu tấn năm
2005. Trong khi đó, Pascal Cogels, Chủ tịch Liên đoàn sản xuất và chế biến dầu ăn
châu Âu, cho rằng công suất sản xuất dầu điêzen sinh học của Liên minh châu Âu
(EU) sẽ tăng 50% lên 6 triệu tấn vào cuối năm 2007, so với mức ước khoảng 4-4,5
triệu tấn vào cuối năm nay. Ngay từ 8/5 Hội đồng năng lượng châu Âu đã ra quyết
định No 2003/30 đặt cho mỗi thành viên của khối cộng đồng chung châu Âu cho đến
tháng 12 năm 2005 nhiên liệu sinh học dùng trong vận tải phải chiếm tỷ trọng ít nhất
2% và 5,75% đến năm 2010. Song song với vấn đề đó, có ra quyết định giải phóng
một phần hoặc hoàn toàn thuế đối với loại nhiên liệu sinh học này. Đến cuối thập kỷ
này, khối Cộng đồng chung châu Âu cần phải sản xuất ra lượng nhiên liệu sinh học
tương đương với trên 18,6 triệu tấn dầu mỏ, để thay thế 24,2 triệu tấn dầu thô. Chi phí
sản xuất nhiên liệu sinh học ở mức độ hiện nay ở EC là 700 - 900 Eur/tấn. Nhà phân
tích Bettadapura cho biết việc sử dụng dầu cọ thô để sản xuất dầu điêzen sinh học vẫn
ở mức tối thiểu và chỉ chiếm 1% trong tổng số nhiên liệu sinh học này được sản xuất
trên toàn thế giới trong năm ngoái. Nhưng ông Bettadapura tin rằng mọi thứ đang thay
đổi nhanh chóng. Theo Oil World - ấn phẩm nghiên cứu ngành có cơ sở ở Hamburg,
khoảng 95% tốc độ tăng nhu cầu hiện nay là xuất phát từ việc tăng sử dụng dầu và chất
béo phục vụ sản xuất dầu điêzen sinh học. Malaixia, nước sản xuất và xuất khẩu dầu
cọ lớn nhất thế giới cũng đã bắt đầu xây dựng các nhà máy và trong năm tới sẽ cung
cấp nhiên liệu sinh học có chiếm tới 95% dầu điêzen và 5% dầu cọ. Công ty Kulim
Bhd. của Malaixia cũng đã hợp tác với CremerOleo GmbH & Co. của Đức để xây
dựng 2 nhà máy nhiên liệu sinh học với một nhà máy ở Malaixia và một nhà máy ở
Singapo. Trong khi đó, Inđônêxia cho đến nay vẫn chưa thực sự phát triển nhiên liệu
điêden sinh học ở trong nước, mặc dù nước này đang có kế hoạch vươn từ vị trí sản
xuất dầu cọ đứng thứ 2 trên thế giới lên vị trí dẫn đầu. Hạn chế lớn nhất của loại điện
sinh học này là diện tích canh tác để gieo trồng. Diện tích cho cung cấp năng lượng
này ít chiếm diện tích, hiệu suất cao còn lớn hơn cả diện tích để xây lắp năng lượng
mặt trời. Do đó các nhà khoa học cần tìm kiếm loại thục vật nào thay thế mía, ngô, dầu

trọng ở một số vùng nào đó. Một phần ba dân số thế giới chưa được dùng điện, một
phần ba nữa chỉ được dùng một cách hạn chế.
Trong cuộc vật lộn đáp ứng nhu cầu năng lượng của mình, một số nước đang phát
triển đông dân có thể làm tăng chất thải CO
2
ỏ tầm toàn cầu. Năng lượng hạt nhân là
một công nghệ sạch, có khả năng mở rộng trên quy mô lớn dể cung cấp nguồn điện ổn
định liên tục. Điện hạt nhân là nguồn điện cần ít nhiên liệu, có khả năng vận chuyển và
dự trữ, giá thành sản xuất thấp tỷ trọng giá nhiên liệu Uranium trong giá thành sản
xuất điện thấp hơn than, dầu, khí trong các nhà máy nhiệt điện (thông thường tỷ trọng
giá nhiên liệu trong giá thành nhiệt điện than là 40%, khí trong nhiệt điện khí là 60%,
uranium trong điện hạt nhân là 30%), không thải khí CO
2
trong quá trình vận hành và
lượng khí CO
2
sinh ra gián tiếp trong quá trình xây dựng có rất ít. Hiện tại, trên thế
giới có 3 loại công nghệ nhà máy điện hạt nhân chủ yếu, đó là công nghệ lò nước áp
lực – PWR (chiếm 59,5%), công nghệ lò nước sôi – BWR (chiếm 20,8%) và công
nghệ lò nước nặng – PHWR (chiếm 7,7%). Với tổng thời gian vận hành của tất cả các
lò năng lượng trên thế giới khoảng 11.000 năm, ngành công nghiệp điện hạt nhân đã
tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý giá. Cũng như bất kỳ một công nghệ nào, công
nghệ nhà máy điện hạt nhân trên thế giới liên tục được đầu tư nghiên cứu cải tiến với

23
tổng kinh phí hàng năm khoảng 2 tỷ USD. Hiện nay, các lò đang vận hành trên thế
giới chủ yếu thuộc loại thế hệ thứ 2, một số nước đã xây dựng hoặc đang có kế hoạch
thay thế các lò hết hạn sử dụng bằng loại thế hệ thứ 3 và đang tập trung nghiên cứu để
cho ra đời loại lò thế hệ thứ 4 với nhiều ưu việt. Với năng lượng hạt nhân có thể sản
xuất hydro trên quy mô lớn, đây là nguồn nhiên liệu vận tải sạch cho môi trường. ở

230.000 tấn U
3
O
8
. Vùng Nông Sơn (Quảng Nam) có triển vọng là mỏ Uranium công
nghiệp với tài nguyên dự báo 100.000 tấn U
3
O
8
. Ngoài ra, khu vực Tây Bắc và Kon
Tum có dấu hiệu chứa những mỏ Uranium với giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên liệu nước
ta đã đầy đủ điều kiện để phát triển năng lượng hạt nhân chưa? Ở đây phải tính cả
những mặt yếu của đầu tư năng lượng này. Thứ nhất là, đến đây trên thế giới đang mắc
mứu về vấn đề xử lý rác thải nguyên tử, chi phí khá lớn và nó phải lưu giữ hàng trăm,

24
nghìn năm. Thứ hai, trên thế giới này, tất cả các nước có nhà máy điện nguyên tử đều
không có bảo hiểm. Bởi không có một doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân nào lại sẵn sàng
bảo hiểm hoàn toàn cho điện nguyên tử. Vì vậy, người bảo lãnh là nhà nước. Nghĩa là,
khi có sự cố thì cả xã hội phải nai lưng ra mà đền. Có thể nói sự suy sụp kinh tế của
Liên Xô bắt đầu từ tai nạn tại Nhà máy điện nguyên tử Chernobyl. Không ai có thể
đảm bảo rằng, sẽ không có những thảm họa tương tự nữa. Một vấn đề khác là nhu cầu
nước cho các nhà máy điện nguyên tử để làm lạnh các lò phản ứng là cực kỳ lớn. Điều
đó có nghĩa là, nếu lấy nước ở một nơi thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ thiếu ở nơi
khác.

3.5. Thủy điện tích năng:
Một vấn đề trọng tâm cần giải quyết là, chênh lệch nhu cầu sử dụng điện trung bình
trên toàn quốc giữa giờ thấp điểm và cao điểm trong ngày lên đến 50%. Ở miền Bắc
con số này là 60% và miền Nam là 40%. Nghĩa là, ta vẫn chưa có cách điều phối và sử

Trích đoạn Khái quát hoạt động của các hệ thống bơm nhiệt: Lịch sử phát triển công nghệ Hệ thống bơm nhiệt trên thế giới và khả năng phát triển hệ thống này ở Việt Nam: NHẬN XÉT CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status