BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM DŨ
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC
VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ CỦA HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM THẾ DÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2007
Lời cảm ơn
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN THPT Trung học phổ thông
SGK Sách giáo khoa
PPGD Phương pháp giảng dạy
TB Trung bình
Gv Giáo viên
Hs Học sinh
DĐXC Dòng điện xoay chiều
DĐĐH Dao động điều hòa
Cđdđ Cường độ dòng điện
Hđt Hiệu điện thế
Các hoạt động tự học của học sinh như: tự tìm
hiểu kiến thức, tự thao tác thực hành, tự phát
hiện và giải quyết vấn đề không được giáo viên chú trọng. Do đó tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức không được phát huy.
- Giảng dạy thiên về lý thuyết. Nội dung giảng dạy gò bó theo sách giáo khoa. Điều kiện
để học sinh mở rộng kiến thức, ứng dụng kiến thức không được quan tâm
. Mối liên hệ giữa
kiến thức vật lý được học ở nhà trường và những ứng dụng của các kiến thức đó trong đời sống,
vì vậy, chỉ hình thành một cách mờ nhạt.
- Cách đánh giá kết quả học tập vẫn được thực hiện theo phương pháp giảng dạy truyền
thống, chủ yếu dựa vào kết quả các bài kiểm t
ra viết mà không dựa trên những sáng kiến, sáng
tạo của học sinh. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học và liên
hệ thực tế của học sinh trong dạy học chương dòng điện xoay chiều” làm đề tài nghiên cứu
luận văn.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng năng lực tự học và liên hệ thực tế của học sinh trong
dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của
học sinh, đồng thời hiện thực hóa phương châm “Học đi đôi với hành”, tạo mối liên kết giữa
kiến thức được học và vận dụng kiến thức trong đời sống.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
1. Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 12 THPT trong quá trình học chương “Dòng
điện xoay chiều”.
2. Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động học của học sinh nhằm bồi dưỡng năng lực tự học
và liên hệ thực tế trong quá trình dạy và học chương “Dòng điện xoay chiều”.
chất lượng dạy và học chương “Dòng điện xoay chiều”.
VII. PHƯƠNG PHÁP NGHI
ÊN CỨU:
1. Nghiên cứu lý luận:
- Đọc và tìm hiểu lý luận từ sách, báo, tạp chí, văn bản, nghị quyết để làm sáng tỏ quan
điểm đề tài hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề trong dạy học vật lý nói chung,
trong chương “Dòng điện xoay chiều” nói riêng.
- Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách giáo viên và các tài liệu liên quan, xác
định nội dung các kiến thức mà học sinh cần phải nắm vững từ những kiến thức đã học, để học
sinh có thể tự tìm
hiểu và có thể ứng dụng vào những lĩnh vực sâu rộng hơn.
2. Điều tra khảo sát:
Tìm hiểu việc dạy và học thông qua dự giờ, trao đổi với giáo viên và học sinh ở trường
THPT. Lập phiếu điều tra khảo sát, phân tích kết quả khảo sát nhằm đánh giá sơ bộ tình hình
dạy học phần dao động điện nói chung và chương “Dòng điện xoay chiều” nói riêng.
3. Thực nghiệm sư phạm:
Tiến hành giảng dạy ở trường THPT theo phương án đã soạn thảo, nhằm k
hẳng định tính
khả thi của việc lựa chọn phương pháp dạy học, các biện pháp sư phạm đã sử dụng với mục
đích bồi dưỡng năng lực tự học và liên hệ thực tế của học sinh.
So sánh, phân tích kết quả học tập và hoạt động học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng (Lớp không giảng dạy theo phương án đã soạn) để đánh giá thực nghiệm sư phạm, từ đó
rút ra kết luận của đề tài. CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC
VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ CỦA HỌC SINH
Năng lực tự học tiềm ẩn trong mọi người và là cơ sở để con người có thể học trên nhiều
lĩnh vực và học suốt đời. UNESCO đã nhấn mạnh trong
báo cáo của mình: “Để thích ứng được với những biến chuyển nhanh chóng của xã hội hiện đại, mọi người đều cần phải học tập suốt
đời. Học tập suốt đời được hiểu là quá trình học tập xuyên suốt cả đời người, ở nhà trường, gia
đình và xã hội, cả chương trình giáo dục chính quy lẫn chương trình giáo dục không chính quy,
trong đó mỗi cá nhân thu nhận và tích lũy được tri thức, kỹ năng, thái độ và trải nghiệm tr
ong
cuộc sống của mình. Nhân tố quyết định để có thể học tập suốt đời là năng lực tự học, năng lực
tư duy và năng lực hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề”[23, tr.10].
Có thể nói quá trình tự học là quá trình đòi hỏi học sinh hoạt động nhiều nhất cả trí óc lẫn
tay chân, đặc biệt là hoạt động trí óc. Việc động não nhiều sẽ tập cho học sinh quen dần với tác
phong làm việc độc lập và việc tự m
ình phải đưa ra được câu trả lời cho vấn đề đang tìm hiểu
sẽ giúp các em hai điều: một là ghi nhớ kiến thức lâu dài mà không phải mất nhiều thời gian
đọc đi, đọc lại để thuộc lòng; hai là hình thành trong ý thức các mối liên hệ giữa vấn đề đang
tìm hiểu với những vấn đề khác đã biết, nhờ đó có t
hể vận dụng nó vào thực tiễn một cách hiệu
quả.
Sự tự hỏi mình trong quá trình tự học cũng có thể mất nhiều thời giờ, và cho dù không
đạt kết quả, vẫn rất bổ ích vì đó là một quá trình rèn luyện tư duy và nhân cách, đồng thời cũng
là một quá trình mà kiến thức hay vấn đề dù chưa tìm ra câu trả lời, nhưng cũng chớm hình
thành trong đầu óc những khái niệm ban đầu, giúp học sinh nhanh chóng tiếp thu khi được thầy
giải đáp. Vì có sự chuẩn bị tốt, học sinh sẽ đặt được nhiều câu hỏi có giá trị với người dạy, sẽ
không có những câu hỏi ngây ngô hoặc không biết hỏi gì, tạo một không khí học tập sinh động
trong giờ lên lớp.
Người học tự học, tự nghiên cứu, hợp tác với các bạn dưới sự hướng dẫn của thầy để tự
m
Muốn giải quyết hiệu quả một vấn đề vật lý đôi khi đòi hỏi người tham gia giải quyết
phải đúc kết từ những kinh nghiệm bản thân, phải phối hợp nhiều kỹ năng cá nhân đã được rèn
luyện. Người tham
gia giải quyết vấn đề vật lý hay người học vật lý không thể trông đợi hoàn
toàn vào kinh nghiệm và kỹ năng của người khác, vì nếu thế thì bản thân người học sẽ không
thể hiện được vai trò hữu ích gì trong cộng đồng và sẽ không có được những kinh nghiệm và kỹ
năng gì cho bản thân để sau này có thể tiếp tục thực hiện công việc khác. Những kinh nghiệm
và kỹ năng của người khác chỉ m
ang tính chất tham khảo và hỗ trợ.
Việc nắm vững kiến thức vật lý còn đòi hỏi học sinh phải biết tư duy, và để tư duy thì
cần phải có thời gian. Đối với học sinh giỏi, thời gian để tư duy có thể ngắn, các em có thể tiếp
thu kiến thức ngay tại lớp, nhưng đối với học sinh trung bì
nh-khá, mà học sinh dạng này lại
chiếm đa số, thì thời gian cần lâu hơn, các em hầu như không tiếp thu một cách trọn vẹn kiến
thức tại lớp. Một tiết học vật lý ở trường phổ thông hiện nay là 45 phút cho một bài học. Nếu
trừ ra thời gian chuẩn bị tiết học của giáo viên, trừ ra thời gian kiểm tra kiến thức cũ thì thời
gian cho một bài học mới chỉ còn khoảng từ 37 đến 38 phút. Trong khoảng thời gi
an ngắn như
vậy, để hình thành một khái niệm vật lý mới trong nhận thức của các em từ chưa biết đến biết là điều hết sức khó khăn. Nên chăng cần có sự chuẩn bị trước, nghĩa là học sinh phải tự mình tìm
hiểu vấn đề ở nhà trước khi đến lớp. Sự chuẩn bị trước, ít hay nhiều cũng tạo ra được một nền
tảng cơ bản của khái niệm trong nhận thức, có như vậy thì việc tiếp thu kiến thức mới sẽ diễn ra
nhanh chóng hơn, phù hợp với thời gian tiết học hơn.
Từ các phân tích trên chúng ta thấy rằng để học tốt môn vật lý, học sinh phải biết tự học,
tự tìm hiểu vấn đề trước khi nhận được sự giúp đỡ và hướng dẫn của thầy.
Như vậy, tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người
trong qua trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời. Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật
một biển kiến thức mênh mông và hiển nhiên là mới lạ và khó hiểu đối với học sinh. Do mục
tiêu học và thời gian học của một khóa học hay một cấp, bậc học mà người học không thể thu
nhận hết tất cả các kiến thức hoặc đi sâu tìm hiểu một kiến thức nào đó, nghĩa là phải có sự
chọn lọc, vấn đề nào đang cần và vấn đề nào chưa cần.
Nắm bắt kiến thức: Để thâm
nhập vào một vấn đề vật lý nào đó cần có sự gợi ý ban
đầu của giáo viên, nghĩa là cần có sự hỗ trợ nhất định từ người thầy. Bản thân học sinh, nhất là
các em không phải là học sinh giỏi, thường không thể tự tìm hiểu sâu nội dung vấn đề bằng
hình thức tự đọc các tài liệu hay sách giáo khoa. Mức độ nhận thức ý nghĩa một câu nói, một
câu phát biểu còn tùy thuộc vào năng lực trí tuệ của các em. Khi đọc qua một định nghĩa vật lý,
một khái niệm vật lý hay một định luật vật lý, học sinh có thể gặp phải một trong những khó
khăn sau:
- Không nắm được câu phát biểu hàm chứa bao nhiêu ý và ý nào là ý c
hính, ý nào là ý
phụ.
- Không hiểu được ngữ nghĩa của những từ và cụm từ mang tính chuyên môn như: pha
dao động, tác dụng tương hỗ, cộng hưởng, ….
- Không hình dung được hiện tượng vì chưa từng thấy những biểu hiện của hiện tượng
trong thực tế như: hiện tượng giao thoa sóng.
Khi đó, người dạy sẽ bằng những câu hỏi dẫn dắt giúp người học khám phá vấn đề và
nắm bắt n
ó.
Tạo niềm tin khoa học: Cho dù trên cơ sở suy luận, người học có thể nhận thức được
sự đúng đắn của một vấn đề vật lý, tuy nhiên vẫn cần có sự củng cố niềm tin. Những yếu tố
giúp người học củng cố niềm tin bao gồm: sự trùng khớp với suy luận của bạn bè, kết quả từ thí
nghiệm v
à sự khẳng định của người dạy. Chỉ khi có niềm tin thì người học mới thực sự làm chủ
kiến thức.
Định hướng hoạt động: Muốn việc tự học đạt hiệu quả cao thì người học cần có một
điểm trên là người học khi bước vào thực tế, áp dụng các kiến t
hức đã học sẽ không lúng túng
khi tự mình phải giải quyết một vấn đề phức tạp.
Nhược điểm của tự học hoàn toàn là người học sẽ mất nhiều thời gian hơn để tìm lấy
kiến thức so với những người tự học có sự hướng dẫn của thầy. Trong tự học hoàn toàn cũng
thiếu tính cạnh tranh, người học dễ tự mãn với những gì đạt được do không có một đối tượng
nào khác để so sánh. Một nhược điểm lớn nhất trong tự học hoàn toàn là người học có thể hiểu
lệch một vấn đề, hoặc nắm một vấn đề chưa thật toàn diện với những khí
a cạnh và tính chất vốn
có của nó.
Vì những nhược điểm trên, trong luận văn này chúng tôi chủ trương không khuyến khích
tự học hoàn toàn mà chỉ đi sâu vào phương pháp tự học có sự hướng dẫn của thầy. 1.1.2.3 Điều kiện cho hoạt động tự học của học sinh.
Hoạt động tự học là một hoạt động đòi hỏi nhiều nỗ lực, sự chuyên cần, sự ham thích của
chủ thể. Đáp ứng được những điều này, đối với học sinh phổ thông, cần phải có những điều
kiện thiết yếu như: phải nhận thức đúng tầm
quan trọng của tự học, phải có động lực tự học và
phải có tài liệu để tự học.
Nhận thức về tầm quan trọng của tự học.
Chúng ta thường không thiết tha tham gia công việc hoặc nếu có tham gia cũng không
làm đến nơi đến chốn khi không xác định được tầm quan trọng của công việc. Do đó, điều kiện
đầu tiên cho hoạt động tự học chính là nhận thức đúng tầm q
uan trọng của tự học. Nhận thức
đúng dẫn đến hành động đúng. Hành động là kết quả của nhận thức. Người học chỉ có thể tiến
hành tự học một cách tự giác khi hiểu được tầm quan trọng của tự học.
Để nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của tự học, giáo viên phải là
người thường xuyên giáo dục cho các em hiểu mục đích của tự học qua các hoạt động:
truyền t
hống. Giáo viên không chỉ căn cứ vào điểm số của các bài kiểm tra viết để đánh giá mà
còn phải căn cứ vào hoạt động cụ thể của các em trong giờ học.
Theo cách đánh giá do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo quy định đối với chương trình vật lý 12
THPT, trong một học kỳ, mỗi học sinh có 4 cột điểm hệ số 1 và 2 cột điểm hệ số 2. Chúng tôi
đề nghị, thay vì các cột điểm hệ số 1 được xét dưới hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết,
sẽ thay bằng hình thức đánh giá kết quả công việc được giao, số lần trả lời đúng, số lần phát
biểu đúng hoặc có những câu hỏi hay. Các cột điểm hệ số 2 vẫn được xét dưới hình thức kiểm
tra viết như hiện nay.
Tài liệu.
Tài
liệu là vấn đề then chốt trong quá trình tự học của học sinh vì nó đóng vai trò như
một người thầy khi không có mặt thầy. Tài liệu phải bao gồm sách giáo khoa, sách tham khảo,
các địa chỉ truy cập Internet và các địa chỉ tham quan. Tên sách tham khảo và những địa chỉ
trên mạng do giáo viên cung cấp, và đây là phần mà giáo viên phải chuẩn bị kỹ, giáo viên càng
chuẩn bị kỹ phần này thì hiệu quả của việc tự học qua tài liệu càng cao, học sinh sẽ không mất
nhiều thời gian tìm kiếm n
hưng lại có nhiều thông tin cần thiết.
Một tài liệu chuẩn cần phải thỏa mãn những yêu cầu sau:
- Xác thực với nội dung, vấn đề đang tìm hiểu.
- Phù hợp với đối tượng nghiên cứu.
- Có tính cập nhật.
1.1.3 Hoạt động dạy vật lý nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của hs
1.1.3.1 Nhiệm vụ của giáo viê
n. Trong hoạt động dạy vật lý nhằm bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh, người giáo
viên ngoài vai trò là người truyền đạt tri thức còn là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn và
tất cả các thành viên trong lớp đều phải thực hiện như nhau, cụ thể là học sinh tìm hiểu nội
dung bài học mới theo sự hướng dẫn của giáo viên trước khi đến lớp. Nhiệm vụ tập thể là nhiệm vụ của một nhóm, như tìm hiểu một số vấn đề ngoài sách giáo khoa nhằm mở rộng kiến
thức và liên hệ thực tế.
Trong dạy học truyền thống, thông thường người giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện
việc tự học bằng cách học thuộc lòng bài cũ ở nhà, và trước khi vào bài mới, giáo viên sẽ kiểm
tra lại các kiến thức này. Cách dạy này không tạo ra được tính sáng tạo cho học sinh vì hoạt
động nhận thức của học sinh chủ yếu là ghi nhớ cái đã có, đã chấp nhận, không có sự tìm
tòi cái
mới và không đòi hỏi suy nghĩ.
Trong phương pháp mới do chúng tôi đề xuất nhằm hướng dẫn học sinh tự học có hiệu
quả cũng yêu cầu học sinh tự học ở nhà, nhưng không phải ghi nhớ bài cũ mà tìm hiểu bài mới
thông qua hệ thống câu hỏi do giáo viên biên soạn sẵn. Hệ thống câu hỏi và các b
ài tập áp dụng
có thể được in sẵn theo từng đơn vị bài học và phát cho học sinh vào cuối tiết học, hoặc được in
sẵn cho cả học kỳ và được phát cho học sinh vào đầu học kỳ. Nó là cơ sở định hướng cho việc
đọc và nghiên cứu bài học mới của học sinh. Hệ thống câu hỏi và bài tập phải đảm bảo hướng
dẫn học sinh nắm được các khái niệm, k
iến thức cơ bản; giúp học sinh vừa thấy được mối quan
hệ giữa các phần, các đơn vị kiến thức của bài học vừa thấy được ý nghĩa của bài học với
những ứng dụng của nó trong thực tế. Hệ thống câu hỏi và bài tập được thiết kế theo hướng
chương trình hóa để giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng, thực hành
một cách vững chắc, đồng thời cũng rèn cho học sinh phương pháp tư duy logic theo một hệ
thống cấu trúc hợp lí
. Đáp ứng những yêu cầu này, hệ thống câu hỏi định hướng cho học sinh
chuẩn bị bài trước khi lên lớp gồm sáu dạng sau:
Câu hỏi gợi mở. Đây là dạng câu hỏi cơ bản nhất mà học sinh có thể trả lời thông qua
việc đọc s
ôi trường, bạn bè xung quanh, học sinh có thể xao nhãng
việc học tập, nhất là khi không có thầy bên cạnh. Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, các em chưa
chín chắn về ý thức học tập nên luôn cần có sự quan tâm, chỉ bảo của người lớn. Sự ý thức về
nhiệm vụ học tập của các em chỉ có thể hình thành trong một khuôn khổ kỷ luật. Do đó, giáo
viên phải thường xuyên theo dõi hoạt động tự học của học sinh, vừa ràng buộc các em v
ào nề
nếp vừa sẵn sàng hỗ trợ, chia sẻ những khó khăn và động viên khuyến khích các em hoàn thành
công việc.
Để theo dõi, kiểm tra sát sao việc tự học của học sinh, vào đầu giờ học giáo viên có thể
yêu cầu học sinh thực hiện những việc sau:
Trình cho giáo viên phiếu trả lời hoặc vở ghi chép các câ
u trả lời.
Việc kiểm tra vở ghi chép của học sinh không chỉ để giáo viên kiểm tra tính chuyên cần
của các em mà còn để thu thập những thông tin phản hồi đối với phương pháp giảng dạy đang
áp dụng. Trên cơ sở số câu trả lời đúng trong vở của học sinh, giáo viên nắm được một vài
thông tin cần thiết như: các em thực hiện được bao nhiêu phần trăm công việc, những câu hỏi nào quá khó, những câu hỏi nào không đi theo mục tiêu định hướng. Qua đó, giáo viên chuẩn bị
trước các bước thực hiện điều chỉnh kịp thời để uốn nắn suy nghĩ của các em.
Trả lời câu hỏi của gv bằng hình thức trắc nghiệm khách quan.
Giáo viên đưa ra câu hỏi trắc nghiệm nhằm sơ bộ đánh giá tính tự lực, mức độ hiểu bài,
khả năng tư duy của học sinh trong quá
trình tự tìm hiểu, đồng thời tạo tình huống ban đầu
trước khi vào bài mới.
Công đoạn tổ chức thảo luận đề tài.
Mỗi đơn vị bài học vật lý có thể xem như một đề tài khoa học hay một đề tài nghiên cứu,
và những người tham gia nghiên cứu là học sinh. Do đó, hoạt động chính trên lớp là các hoạt
động của học sinh, bao gồm:
diện nhóm trình bày, và kết quả sẽ được đánh giá chung cho cả nhóm.
Công đoạn tổng kết, kết luận.
Cuối mỗi đơn vị bài học, giáo viên tổng kết lại toàn bài và cho nhận xét về tiết học, bao
gồm các công việc cụ thể sau:
- Giải đáp thắc mắc.
- Hiệu chỉnh những sai lệch, nhầm lẫn trong suy nghĩ của học sinh.
-
Khẳng định lại các quan điểm đúng đắn bằng những dẫn chứng cụ thể.
- Cho nhận xét tiết học, đánh giá mức độ tích cực hoạt động của các cá nhân.
1.1.4 Kết luận về hoạt động dạy và học vật lý theo hướng tự học của hs.
Trong mục 1.1.3.2 chúng tôi đã trình bày bốn công đoạn tổ chức hoạt động tự học của
học sinh. Nếu kết hợp bốn công đoạn này với quá trình chuẩn bị bài của học sinh trước giờ lên
lớp, chúng ta sẽ có một chu trình các hoạt động dạy và học theo hướng tự học như sau:
Như vậy, so sánh với phương pháp dạy học truyền thống t
hì phương pháp dạy học nhằm
bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh có mấy điểm khác biệt sau:
Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học nhằm bồi
dưỡng năng lực tự học
- Học sinh học thuộc lòng bài cũ ở nhà
trước khi lên lớp.
- Học sinh tìm hiểu bài mới ở nhà trước
khi lên lớp.
- Giáo viên kiểm tra bài cũ vào đầu giờ - Giáo viên kiểm tra việc chuẩn bị bài
Giáo viên giao
1.2 DẠY HỌC VẬT LÝ LIÊN HỆ THỰC TẾ.
1.2.1 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học vật lý liên hệ thực tế.
Vật lý là một môn khoa học tự nhiên gắn liền với kỹ thuật. Bản chất của nghiên cứu vật
lý học là nhằm giải đáp mọi hiện tượng tự nhiên, phát hiện những nguyên lý và định luật vật lý.
Từ những nguyên lý và định luật vật lý đó, con người đã phát m
inh, sáng chế ra những công cụ
mới, những sản phẩm mới phục vụ cho lợi ích của chính con người. Những ứng dụng của vật lý
trong đời sống là hết sức to lớn, hầu như ở mọi nơi và trong mọi lĩnh vực đều có sự ứng dụng
của các thành tựu vật lý. Vì vậy, các kiến thức vật lý được giảng dạy ở nhà trường cần phải có
sự liên hệ với những vấn đề trong thực tế để đảm bảo cho học sinh hiểu được ý nghĩa nội dung
bài học, hiểu được các định lý, định l
uật vật lý mà các em đang học đã giải đáp được những gì
về qui luật của tự nhiên và đã được ứng dụng trong đời sống và trong khoa học kỹ thuật như thế
nào.
Khả năng kích thích hứng thú học tập của học sinh phụ thuộc rất nhiều vào ý nghĩa của
bài học hay nói khác đi là phụ th
uộc rất nhiều vào giá trị kiến thức mà các em cần nắm bắt. Giá
trị kiến thức càng lớn sẽ càng tạo nhiều hứng thú nơi người học. Người học sẽ cảm nhận được
sự quan trọng và sự cần thiết của vấn đề m
ình đang được học, hiểu được vì sao các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu nó và việc nghiên cứu nó đã mang lại lợi ích gì cho xã hội loài
người.
Trong phương pháp giảng dạy truyền thống, không chỉ riêng kiến thức môn vật lý mà rất
nhiều kiến thức ở các môn học khác, sau khi học xong, học sinh thường hay tự hỏi: Vấn đề này
học để làm gì ? Nó có ích gì trong cuộc sống ?
Vì sao các em lại tự hỏi như vậy ? Bởi vì giáo viên chỉ giảng dạy theo nội dung gò bó của
chương trình, không mở rộng vấn đề, không nêu đư
Chúng tôi đã tìm hiểu vấn đề dạy học vật lý liên hệ thực tế qua việc khảo sát 50 học sinh
ở trường PTTH Dưỡng Điềm, 50 học sinh trường PTTH Nguyễn Đình Chiểu, và 50 học sinh
trường PTTH Đốc Binh Kiều thuộc tỉnh Tiền Giang, với phiếu điều tra như sau:
PHIẾU ĐIỀU TRA
Các em hãy chọn một đáp án đúng trong các câu sau bằng cách đánh dấu trong ô
vuông mà các em chọn.
Câu 1:
Trong các mạch điện, ký hiệu có nghĩa là gì ?
A. Tượng trưng cho một linh kiện điện trong các máy điện.
B. Tượng trưng cho các vật tiêu thụ điện.
C. Tượng trưng cho các vật cách điện.
D. Là một thiết bị điện có tên gọi là điện trở.
Câu 2:
Trong các động cơ điện một pha, tụ điện có nhiệm vụ:
A. Trữ điện.
B. Làm giảm hệ số công suất.
C. Làm giảm hao phí điện năng.
D. Làm lệch pha dòng điện.
Câu 3:
Trong mạch điện dân dụng, để tăng hệ số công suất người ta đã thực hiện điều nào sau
đây ?
A. Mắc tụ điện nối tiếp với mạch.
B. Mắc tụ điện song song với mạch.
C. Mắc cuộn cảm nối tiếp với mạch.
D. Mắc cuộn cảm song song với mạch.
Câu 4:
Dòng điện hiện đang được sử dụng trong các hộ gia đình là:
A. Dòng một chiều có hiệu điện thế 220V
B. Dòng xoay chiều một pha có hiệu điện thế 220V
Câu 8:
Những vật dụng nào sau đây có sử dụng động cơ điện ?
A. Bàn là.
B. Xe máy.
C. Máy điều hòa.
D. Máy thu hình.
Câu 9:
Trong thiết bị điện nào sau đây có máy biến thế ?
A. Nồi cơm điện.
B. Bàn là.
C. Máy thu hình.
D. Quạt máy. Câu 10:
Trong cùng một khoảng thời gian sử dụng, các vật dụng nào sau đây tiêu thụ nhiều
điện năng nhất ?
A. Bàn là.
B. Đèn huỳnh quang.
C. Máy thu hình.
D. Tủ lạnh.
Kết quả khảo sát chúng tôi nhận được cho trong bảng sau:
Bảng 1.1: Kết quả khảo sát về khả năng liên hệ thực tế kiến thức đã học của học sinh
theo từng câu.
Đáp án
Câu
A B C D
Tỉ lệ % hs trả
lời đúng
1
16 32,67%
9
25 33
72
20 48,00%
10 51
4 2 93 34,00%
Bảng 1.2: Kết quả khảo sát về khả năng liên hệ thực tế kiến thức đã học của học sinh
theo số câu trả lời đúng.
Số câu trả lời đúng Số phiếu (Số hs) Tỉ lệ %
1 16 10,67%
2 15 10,00%
3 27 18,00%
4 29 19,33% 5 28 18,67%
6 20 13,33%
7 10 6,67%
8 4 2,67%
9 1 0,67%
10 0 0,00%
Trên đây chúng tôi chỉ khảo sát dạy học liên hệ thực tế của chương “Dòng điện xoay
chiều” Vật lý 12, bằng những câu hỏi đơn giản, không gắn với những kiến thức đòi hỏi nhiều tư
duy, chủ yếu tìm hiểu xem học sinh có hiểu các ký hiệu về điện không, biết những thiết bị mà
các em đã học ứng dụng trong thực tế ra sao, nắm được các nguyên lý và thông số thực tế như
thế nào. Các câu hỏi cũng không đi sâu về mặt kỹ thuật để tránh trùng lắp với chương trình Kỹ
thuật Công nghiệp 12.