Vị thế của văn học trên
sân chơi văn hóa trong
tiến trình lịch sử 1. Dẫn nhập. Một trong những chức năng quan trọng bậc nhất của lí luận văn học là
nghiên cứu, khám phá lô gíc nội tại của tiến trình văn học. Với ý nghĩa như thế, lí luận văn học
chính là lịch sử văn học được trừu tượng hoá và bàn về lí luận văn học thật ra là bàn về sáng tác
văn chương trong xu hướng vận động lịch sử của nó. Cái khó của người làm lí luận bây giờ là
ở chỗ, hơn nửa thế kỉ qua, văn học đã trải qua nhiều thay đổi vô cùng lớn lao. Sự biến đổi của
văn học khiến nhiều nhà chuyên môn lắm lúc không còn đủ tự tin để cắt nghĩa một cuốn tiểu
thuyết hoặc một bài thơ đang làm xôn xao dư luận. Đúng là văn học ngày càng trở nên xa lạ
với các quan niệm lí thuyết mà ta vẫn quen xem như những chân lí bất di bất dịch. Cho nên,
nếu chưa phân tích thấu đáo bối cảnh văn học hiện nay mà vẫn cứ bạo gan bàn về con đường
phát triển của lí luận văn học hoặc về những vấn đề trọng đại ví như bản chất hay chức năng
của văn chương, tôi dám chắc, chúng ta chỉ có thể vòng vo với những câu chữ sáo rỗng hoặc
nói những chuyện giời ơi đất hỡi ở tận đẩu đầu đâu.
Có thể hình dung bối cảnh văn học của một thời đại qua hai bình diện sau đây. Thứ
nhất: vị thế của văn học như một tiếng nói quyền lực trên sân chơi văn hoá. Thứ hai: văn học
như một thực tế diễn ngôn. Tiểu luận này chỉ tập trung vào bình diện thứ nhất: vị thế của văn
học trên sân chơi văn hoá. Thiết nghĩ, dẫu không đi sâu nghiên cứu, nhưng nếu nhìn thẳng vào
sự thật, các nhà văn, nhà thơ, các nhà lí luận, phê bình đều có thể nhận ra trên sân chơi văn
hoá, văn học đang bị đẩy ra khu vực ngoại vi. Dĩ nhiên, hiện trạng ấy là kết quả của cả một quá
trình dài lâu, rất khó chấp nhận với những ai chỉ quen xem xét văn chương như một bản thể
trừu tượng, hoặc chỉ quen khái quát lí thuyết trên nền tảng của văn học trung đại hay văn học
hiện đại của một số dân tộc ở các nước phương Đông. Bởi vậy, tôi sẽ trình bày về vị thế của
văn học trên sân chơi văn hoá dọc theo trục lịch sử, từ cổ - trung đại, qua hiện đại đến
liên tưởng phong phú.
Bản chất hai mặt được tạo thành bởi sự thống nhất giữa các đối cực tưởng như loại trừ
nhau (tạo hình - ý niệm) đã biến hình tượng ngôn từ thành hình thức biểu đạt và kiểu tư duy
tổng hợp độc đáo mà ta chỉ có thể tìm thấy trong văn học nghệ thuật. Tư duy văn học vừa là
kiểu tư duy của vô thức tập thể (giống như trong huyền thoại, tôn giáo, văn hoá dân gian, hoặc
âm nhạc và nghệ thuật sân khấu trong hoạt động chuyên nghiệp), của tình cảm mãnh liệt và
những xúc động trực tiếp trước hiện thực (giống như trong các hoạt động văn nghệ - thẩm mĩ),
lại vừa là kiểu tư duy đầy thông tuệ của lí trí con người (giống như trong các công trình nghiên
cứu khoa học). Chính kiểu tư duy trác tuyệt, độc đáo ấy đã mở đường cho văn học tiến vào
chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá - xã hội.
Vị trí trung tâm của văn học trong cấu trúc của các nền văn hoá thể hiện ngay ở mối
quan hệ giữa nó với tiếng nói của các nghệ thuật khác. Văn học là nhịp cầu nối các loại
hình nghệ thuật không gian với nghệ thuật thời gian, nghệ thuật tạo hình với nghệ thuật biểu
hiện (“Thi trung hữu nhạc”, “Thi trung hữu hoạ”). Truyện có thể đọc, cũng có thể kể. Thơ có
thể đọc mà cũng có thể ngâm. Có kịch bản để diễn, nhưng cũng có kịch bản để đọc. Văn học là
nơi gặp gỡ giữa nghệ thuật thị giác và nghệ thuật thính giác, giữa nghệ thuật viết - đọc trầm
ngâm trong nội thất, với nghệ thuật công diễn náo nhiệt ngoài quảng trường. Với ý nghĩa như
thế, V.G. Belinski gọi “thi ca” (tức văn học) là “vòng nguyệt quế lấp lánh trên vầng trán nghệ
thuật”.
Vị trí của văn học trong đời sống văn hoá - xã hội còn thể hiện qua mối quan hệ giữa nó
với các tiếng nói của lĩnh vực hoạt động nhận thức chân lí, khám phá bản chất, quy luật của thế
giới khách quan. Có cơ sở để gọi văn học là “cuốn sách giáo khoa về đời sống”. Suốt mấy
nghìn năm tồn tại, có nhiều trào lưu văn học gần như hoá thành một kiểu hoạt động trí óc, hoặc
một dạng đặc thù của nghiên cứu lí thuyết. Các trào lưu văn học ấy khi thì xích lại gần tôn giáo,
triết học, lúc lại xích về phía lịch sử học, ngữ văn học, xã hội học, thậm chí có những khuynh
hướng sáng tác tiến hẳn về phía khoa học tự nhiên. Ngay cả khi không xích lại với các lĩnh vực
khoa học một cách có ý thức, văn học nghệ thuật vẫn là hoạt động nhận thức thế giới, khám
phá chân lí. Chỉ cần đọc lại các ý kiến của F. Engels về giá trị nhận thức của bộ Tấn trò đời của
Balzac, ta sẽ hiểu văn học gần gũi với khoa học biết chừng nào.
Trong sáng tác văn học, ngôn từ không chỉ là chất liệu nghệ thuật. Mỗi từ, mỗi câu được
mê tín, dị đoan… để nói với người đọc những điều không thể nói bên ngoài sáng tác văn học.
Từ góc độ này, có thể thấy, văn học là hàn thử biểu ghi nhận chính xác cả truyền thống dân tộc,
lẫn các chuẩn mực lịch sử mang tính cụ thể của một nền văn hoá ở từng giai đoạn hình thành
và phát triển của nó.