Vị thế của văn học trên
sân chơi văn hóa trong
tiến trình lịch sử
Trên sân chơi văn hoá ở các nước Âu - Mĩ cũng diễn ra sự đảo ngược trong tương quan
quyền lực giữa văn học và phê bình. Từ đầu thế kỉ XX đổ về trước, tiến trình văn hoá - lịch sử
ở các nước Âu - Mĩ được ghi dấu chủ yếu bằng sự xuất hiện tuần tự của các trào lưu, trường
phái nghệ thuật: Phục hưng - barroco - chủ nghĩa cổ điển - chủ nghĩa tình cảm - chủ nghĩa
lãng mạn - chủ nghĩa tượng trưng - chủ nghĩa hiện thực - chủ nghĩa tự nhiên… Nhưng từ
những năm 20 của thế kỉ XX đổ về sau, lịch sử tiếp nhận văn học ngày càng có xu hướng lấn
lướt lịch sử sáng tác văn học. Cho nên, nổi trên bề mặt của tiến trình văn hoá - lịch sử là sự xuất
hiện đông đúc, náo nhiệt của rất nhiều trào lưu, trường phái nghiên cứu văn học: Trường phái
hình thức - Phê bình mới - Phân tâm học - Mĩ học phân tích - Hiện tượng luận - Kí hiệu học -
Cấu trúc luận - Thông diễn luận - Mĩ học tiếp nhận - Trần thuật học, Xã hội học văn học - Giải
cấu trúc thực hành… Dĩ nhiên, vẫn có khác biệt lớn giữa phương Đông và phương Tây. Phê
bình phương Đông thường biến tác phẩm nghệ thuật thành đối tượng thẩm bình và định giá. Sự
đảo ngược tương quan quyền lực ở đây phản ánh tương quan quyền lực kiểu mới giữa lời nghệ
thuật và lời tư tưởng hệ. Phê bình phương Tây thường chỉ xem tác phẩm là cơ sở “khảo cổ tri
thức”. Cho nên, ở phương Tây, sự đảo ngược quyền lực giữa văn học và phê bình chủ yếu
phản ánh tương quan kiểu mới giữa khoa học và văn học.
Cũng cần phải nói thêm. tuy đầy quyền uy, nhưng sức sống của lời nói xã hội, nhất là lời
tư tưởng hệ tỏ ra không dẻo dai, mãnh liệt bằng sức sống của lời nghệ thuật. Cho nên suốt hai
thế kỉ XIX và XX, văn học Âu - Mĩ vẫn phát triển rực rỡ. Chẳng những thế, ở một số vùng
miền, quốc gia, ví như Việt Nam, Trung Quốc, nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa trước
kia, nhất là ở Nga, người ta còn chứng kiến sự hồi sinh của xu hướng văn hoá hoá văn học.
Không phải ngẫu nhiên mà nền văn hoá Nga đã trở thành nơi khai sinh của khái niệm “văn học
trung tâm luận”
(9)
văn, làm thơ, nên nghe đâu cũng thấy “Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”, nhìn đâu cũng gặp cảnh
“Đất nước hoá thành văn”.
Cũng còn có một nguyên nhân khác dẫn tới xu hướng “văn hoá hoá văn học”. Nói tới
nước Nga, người ta thường nghĩ tới một dân tộc vĩ đại nhưng không mấy khi được biết tới vị
ngọt của tự do và dân chủ. Trong Thư gửi Gogol (1847), V. G.Belinski viết: “Chỉ độc trong
văn học, dù bị kiểm duyệt vô cùng hà khắc, là còn thấy có cuộc sống, thấy có sự vận động tiến
về phía trước <…> Công chúng hoàn toàn có lí: họ xem các nhà văn Nga là những lãnh tụ, là
người bảo vệ, là những vị cứu tinh duy nhất của họ trước nền quân chủ chuyên chế Nga…”
(14)
.
A.I.Ghersen (1812 - 1870) cũng nói: “Ở một dân tộc mà tự do xã hội bị tước đoạt, văn học sẽ là
diễn đàn duy nhất để từ đó dân tộc ấy buộc người ta phải lắng nghe tiếng gào thét của sự phẫn
nộ và của lương tri”
(15)
. Dĩ nhiên, khi “tự do xã hội bị tước đoạt”, muốn cất lên tiếng “gào thét
của lương tri và sự phẫn nộ”, văn học phải tìm được hình thức biểu đạt phù hợp. Trong một
công trình về kí hiệu học văn hoá viết ở giai đoạn cuối đời, Iu. Lotman đã trao cho độc giả chìa
khoá giải mã để đọc văn học Nga. Ông viết: “Vai trò xã hội của văn học Nga được đặt trên hai
cột móng. Cột móng thứ nhất thuộc bản thân văn học, nó đòi hỏi nhà văn phải có thiên tài nghệ
thuật <…> Cột móng thứ hai chẳng cần phải xem là cái gì đó có nghĩa lí, không xứng được gọi
là giá trị nghệ thuật, nhưng đặt vào giới hạn của văn hoá Nga, nó được đánh giá rất cao. Đó là
cái mà Saltykov-Sedrin gọi là “ngôn ngữ nô lệ” - là khả năng vượt qua mọi rào cản để mang
đến cho người đọc những tư tưởng và những chủ đề bị kiểm duyệt cấm đoán. Bên ngoài giới
hạn của những cấm kị kiểm duyệt, giá trị của những lời bóng gió ám chỉ ấy hoàn toàn biến
mất”
(16)
. Hoá ra hai cột móng của văn học Nga vẫn là hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ định hướng
văn hoá, và ngôn ngữ định hướng xã hội. Hai cột móng ấy xác định mối quan hệ mật thiết giữa
văn học và ngữ cảnh mà văn học hoạt động như một văn bản nghệ thuật, hoặc một văn bản xã
hội. Qua diễn ngôn văn học, ngữ cảnh văn hoá xã hội có thể biến thành một loại “văn bản” có
số liệu đưa ra vào năm 2005 của “NOP World” (một tập đoàn lớn chuyên nghiên cứu thị
trường sách) cũng chỉ là như sau: 1. Ấn Độ: 10,7 giờ/tuần, 2. Thái Lan: 9,4 giờ/tuần, 3. Trung
Quốc: 8,0 giờ/tuần, 4. Philippin: 7,6 giờ/tuần, 5. Ai Cập: 7,5 giờ/tuần, 6. Cộng hoà
Séc: 7,4 giờ/tuần, 7. Liên bang Nga: 7,1 giờ/tuần, 8. Thuỵ Điển: 6,9 giờ/tuần, 9.
Pháp: 6,9 giờ/tuần, 10. Hunggari: 6,8 giờ/tuần
(18)
.
Sau khi số liệu trên được công bố, nhiều tờ báo của nước Nga cùng chạy hàng
“titre”: “Nga không còn là đất nước đọc nhiều nhất thế giới”. Thậm chí, có tờ báo tuyên
bố: Người Nga hầu như không đọc sách nữa!
(19)
. Trong hai ngày 22 và 23/3/2008, Trung tâm
nghiên cứu dư luận xã hội toàn Nga đã tiến hành phỏng vấn 1600 người ở 46 tỉnh thành, tất cả
những người tham gia đều trả lời rằng họ rất thích xem tivi, nhưng không có hứng thú đọc
sách
(20)
. Theo nguồn tin của tờ “Rianovosti”, từ ngày 11 đến 15/6/2008, tại Moscow, người ta
tổ chức cuộc Liên hoan sách quốc tế (MMOKF) với hai hoạt động nổi bật: 1. trưng bày sách
của tất cả các loại hình nghệ thuật có quan hệ với văn học, 2. hội thảo tìm nguyên nhân và giải
pháp trước tình trạng hứng thú đọc ngày càng suy giảm ở các quốc gia Nga, Anh, Mĩ và nhiều
nước khác. Một vài số liệu điều tra công bố ở đây cho thấy: thời Liên Xô, người Nga đọc 20
phút/tuần, nay họ chỉ đọc 6 phút/tuần
(21)
.
Vị thế của văn hoá đọc ở Việt Nam chắc chắn không nằm ngoài quy luật vận động của
văn hoá thế giới. GS. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường
cho rằng, thói quen đọc sách của người Việt Nam mới được hình thành chưa lâu, “từ năm 1975
đến nay, văn hoá đọc của nhiều thế hệ liên tiếp vẫn chưa được hoàn chỉnh” và “điều đáng buồn
và lo ngại hơn nữa là ngày nay có hai đối tượng cần phải đọc nhất là học sinh - sinh viên và
những người lãnh đạo (ở mọi cấp, mọi lĩnh vực) lại là những người ít đọc sách nhất”