Nghiên cứu thẩm định quy trình phân tích các chỉ tiêu hóa học trong vacxin cúm AH1N109 - Pdf 19

1

LỜI CẢM ƠN

Từ lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin dành trang đầu tiên của khóa luận
để bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến:
Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Phòng Đào tạo, Ban giám đốc
Viện Công nghệ Sinh học và Môi trường cùng toàn thể quý thầy cô đã giảng dạy tận
tình và giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường.
Tiến sỹ Lê Văn Bé – Viện trưởng Viện Vacxin và Sinh phẩm Y tế Nha
Trang, người thầy đã luôn quan tâm hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong quá trình thực tập tại Viện.
Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Phương – trưởng phòng Kiểm Định, ThS. Vũ Thị
Thu Hương, CN. Tô Thị Hồng Vân, Nguyễn Thị Hồng Nhiên đã trực tiếp hướng
dẫn, chỉ bảo nhiệt tình, chu đáo và luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp em hoàn
thành luận văn này.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS. Lê Phương Chung đã
nhiệt tình giúp đỡ, góp ý và động viên em trong thời gian thực tập và hoàn thành
luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Viện Vacxin Nha Trang đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em thực tập tại Viện.
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, tất cả bạn bè, anh chị và các em đã
quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ, động viên em trong suốt thời gian qua.

Nha Trang, tháng 7 năm 2011
Sinh viên

Nguyễn Thị Tình.

của phương pháp phân tích. 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 38
3.1.Kết quả thẩm định phương pháp xác định Lowry cải tiến. 38
3

3.1.1.Độ đúng 38
3.1.2.Độ chính xác. 38
3.1.3.Khoảng tuyến tính. 41
3.1.4.Độ đặc hiệu: 44
3.2.Kết quả thẩm định phương pháp xác định hàm lượng formaldehyde. 45
3.2.1.Độ đúng: 45
3.2.2.Độ chính xác. 45
3.2.3.Khoảng tuyến tính. 48
3.2.4.Dải đo. 51
3.2.5.Độ đặc hiệu 51
3.3.Kết quả thẩm định phương pháp sắc ký lớp mỏng. 52
3.4.Kết quả kiểm định hóa học vacxin cúm A/H1N1. 55
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
4.1.KẾT LUẬN. 57
4.2.KIẾN NGHỊ. 57


IVAC : Institute of Vaccines and medical biological
(Viện Vacxin và Sinh phẩm y tế)
LAL : Limulus Amoebocyte Lysate (Thử nghiệm tìm nội độc tố)
NIBSC : National Institute for Biological Standards and Control
(Viện Quốc gia về tiêu chuẩn và Kiểm dịch Sinh học)
GLP : Good Laboratory Practice (Thực hành tốt phòng thí nghiệm)
GMP : Good Manufacturing Practices (Quy phạm thực hành sản xuất tốt)
GTLT : Giá trị lý thuyết
OD : Optical density (Mật độ quang)
PBS : Photphat Buffer Saline (Dung dịch đệm của muối photphat)
5

Ph Eur : The European Pharmacopoeia
SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
SDS : Sodium Dodecyl Sulphate
SRID : Single Radial Immunodifution
(Phản ứng khuếch tán miễn dịch vòng đơn)
TCA : Trichloroacetic Acid
TCYTTG : Tổ chức Y tế Thế giới
TH : Tiến hành
TLC : Thin Layer Chromatography (Sắc ký lớp mỏng)
TSB : Tryptic Soy Broth
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)


Bảng 3.2: Kết quả xác định độ lặp lại của phương pháp xác định hàm lượng
protein bằng phương pháp Lowry cải tiến. 39
Bảng 3.3: Tổ hợp các điều kiện thử nghiệm phương pháp Lowry cải tiến. 39
Bảng 3.4: Kết quả xác định độ chính xác trung gian của phương pháp Lowry
cải tiến. 40
Bảng 3.5: Phương trình đường chuẩn protein (750nm) 41
Bảng 3.6: Bảng kết quả kiểm tra độ đặc hiệu 44
Bảng 3.7: Kết quả xác định độ chính xác và độ đúng của phương pháp xác
định hàm lượng formol tự do bằng thuốc thử acetylaceton. 45
Bảng 3.8: Kết quả xác định độ lặp lại của phương pháp xác định hàm lượng
formol tự do bằng thuốc thử acetylaceton. 46
Bảng 3.9: Tổ hợp các điều kiện thử nghiệm phương pháp đo quang bằng thuốc
thử acetylaceton. 46
Bảng 3.10: Kết quả xác định độ chính xác trung gian của phương pháp xác
định hàm lượng formol tự do bằng thuốc thử acetylaceton. 47
Bảng 3.11: Phương trình đường chuẩn formol (420nm) 48
Bảng 3.12: Kết quả kiểm tra độ đặc hiệu. 51
Bảng 3.13: Kết quả kiểm định hóa học vacxin cúm A/H1N1 55 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Quy trình sản xuất và kiểm định vacxin cúm. 12
Hình 3.1. Đồ thị đường chuẩn protein 1 41
Hình 3.2. Đồ thị đường chuẩn protein 2 42


8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đại dịch cúm 2009 còn gọi là Dịch cúm A/H1N1 (2009), "cúm lợn" (hay
"cúm heo") là dịch cúm do một loại virus thuộc chủng H1N1 lần đầu tiên được các
cơ quan y tế phát hiện vào tháng 3 năm 2009. Cho đến nay, virus cúm gây ra đại
dịch H1N1 2009 đã lan tràn tại hầu hết quốc gia trên toàn thế giới. Trước tình hình
đó, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) đã phát triển mở rộng chương trình cúm toàn
cầu nhằm tìm ra các biện pháp kiểm soát và phòng ngừa nguy cơ bùng phát lan
rộng, trong đó việc phát triển một vacxin có hiệu quả được xem là nền tảng quan
trọng để bảo vệ cộng đồng. Ngày 06/08/2009, Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO)
đã ra thông báo về quá trình sản xuất vacxin cúm đại dịch H1N1 2009.
Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo các nước nên tự nghiên cứu sản xuất
vacxin cúm A/H1N1 để có thể chủ động trong công tác phòng chống dịch, bảo vệ
sức khỏe cộng đồng [9]. Cùng với việc tạo ra các chủng sản xuất vacxin cúm
A/H1N1 thích hợp bằng kỹ thuật di truyền ngược, các trung tâm nghiên cứu bệnh
cúm quốc tế cũng đưa ra những hướng sản xuất vacxin cúm khác nhau (sản xuất
trên trứng gà có phôi, tế bào động vật…). Trên cơ sở đó, tùy thuộc vào điều kiện
của từng quốc gia mà lựa chọn con đường sản xuất cho phù hợp nhưng phải đảm
bảo tính an toàn và hiệu quả cao.
Tại Việt Nam, Viện Vacxin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang đã nghiên sản
xuất vacxin cúm A/H1N1 cho người bằng phương pháp nuôi cấy trên trứng gà có
phôi. Và cho đến nay Viện đã sản xuất 20 lô vacxin thành công. Trước khi đưa vào
sử dụng, vacxin cúm phải đạt được các tiêu chuẩn an toàn, miễn dịch cần thiết theo
quy định của Bộ Y tế Việt Nam và TCYTTG. Một trong số các tiêu chuẩn đó là
hàm lượng protein tổng số, formaldehyde và sucrose (đây là các tạp chất trong
vacxin thành phẩm có thể gây dị ứng, ung thư…). Với điều kiện trang thiết bị hiện
có, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thẩm định quy trình phân tích

10

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình bệnh cúm A/H1N1 và nghiên cứu sản xuất vacxin cúm
A/H1N1.
Dịch cúm A/H1N1 mới bùng phát lần đầu tiên tại Mehico vào cuối tháng
3/2009, đến tháng 4 lan nhanh sang Mỹ và các quốc gia lân cận. Theo dòng người
di chuyển, dịch cúm lan nhanh ra toàn thế giới. Tính đến ngày 7/3/2010, dịch cúm
A/H1N1 mới lan ra 213 nước và vùng lãnh thổ ở tất cả các châu lục, với 339.620
người mắc và 16713 người chết, hai nước có số người chết nhiều nhất là Mehico:
108 người và Mỹ: 44 người [11]. Như vậy sau 41 năm (đại dịch năm 1957 giết chết
2 triệu người), thế giới lại có một đại dịch cúm mới A/H1N1. Trước tình hình đó
TCYTTG (ngày 11/6/2009) đã nâng mức báo động dịch lên mức cao nhất 6/6 [11].
Vacxin phòng đại dịch cúm có công hiệu bảo vệ mạnh khi được tiêm trước
hoặc gần thời điểm dịch bùng phát. Vì vậy, cần chế tạo và sản xuất vacxin đặc hiệu
dành cho virus cúm A/H1N1/09 càng sớm càng tốt cũng như có những chiến dịch
tiêm phòng đúng lúc đúng chỗ khi đại dịch cúm xảy ra. Để đối phó hiệu quả với đại
dịch, WHO thúc đẩy việc sản xuất vacxin cúm ở các nước đang phát triển bằng
hàng loạt giải pháp: Chuyển giao công nghệ, cấp kinh phí trợ cấp xây dựng cơ sở
sản xuất và đào tạo cán bộ, tổ chức các hội nghị bàn về việc thúc đẩy năng lực sản
xuất vacxin trên toàn thế giới [10]. Ngày 17/6/2009, Viện Vacxin và Sinh phẩm Y
tế (IVAC) đăng ký đề tài độc lập cấp nhà nước Nghiên cứu ứng dụng quy trình nuôi
cấy trên trứng gà có phôi để sản xuất vacxin cúm A/H1N1 mới. Trong năm 2010
Viện Vacxin và Sinh phẩm Y tế đã triển khai và hoàn thiện dây chuyền sản xuất
vacxin cúm tại trại Chăn nuôi Suối Dầu và sản xuất thử để ổn định quy trình 12 lô
vacxin cúm ở các quy mô khác nhau, trong đó có 5 lô hoàn thiện đến giai đoạn bán 12

Quy trình sản xuất Quy trình kiểm định Gây nhiễm

tr

Thu gặt Tinh sạch cô đặc
Ly tâm phân đoạn sucrose
Bất hoạt, lọc vô trùng
Thử trên trứng gà có
phôi
Phôi sống ≥ 80%, HA âm tính
5 Nhận dạng SRID
Dương tính với kháng huyết thanh
đặc hiệu.
6 Hàm lượng HA SRID
≥ 30

g/ml
7 Protein tổng số Lowry
≤ 200

g/ml
8
Hàm lượng
endotoxin
LAL ≤ 200EU/ml
9
Hàm lượng
ovalbumin
ELISA – Serazyme kit
≤ 2g/ml
10
Hàm lượng
formaldehyde tồn
dư.
Đo quang với thuốc thử
acetyl acetone
≤ 0,02%

phẩm. Vì những lý do này việc sản xuất vacxin và sinh phẩm phải thực hiện theo
nguyên tắc của GMP và tôn trọng một cách triệt để [3].
Công việc thẩm định là một phần quan trọng của GMP và phải được tiến
hành theo thường quy quy định. Phải báo cáo tổng kết các kết quả thu được, đưa ra
các kết luận và lưu trữ tất cả hồ sơ. Các quy định và thủ tục được thiết lập trên cơ sở
nghiên cứu thẩm định, tái thẩm định định kỳ nhằm đảm bảo rằng các quy trình và
thủ tục này vẫn đáp ứng được yêu cầu [3].
Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 1570/2000/QĐ – BYT ngày
22/05/2000 về việc triển khai áp dụng nguyên tắc “Thực hành tốt phòng kiểm
nghiệm thuốc” ở tất cả các đơn vị kiểm nghiệm thuốc. Thực hành tốt phòng thí
nghiệm (GLP) là tất cả các hoạt động có hệ thống được hoạch định sẵn và áp dụng
theo hệ thống chất lượng, thể hiện những yếu tố thích hợp nhằm đảm bảo độ tin cậy
cần thiết đáp ứng được các yêu cầu chất lượng [15]. Việc thực hành tốt các nguyên
tắc kiểm nghiệm thuốc nhằm nâng cao tính hiệu quả của hệ thống các phòng kiểm
15

nghiệm thuốc trên cả hai mặt quản lý nghiệp vụ và quản lý kỹ thuật, kể cả khu quản
lý nhà nước và doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực và chính
xác trong việc đánh giá chất lượng thuốc [3].
1.4. Thẩm định quy trình phân tích.
Trong công tác tiêu chuẩn, việc xây dựng các quy trình phân tích (Analytical
Procederes) hay còn gọi là quy trình thử nghiệm (Test Procedures) nhằm giúp cho
việc thực hiện kiểm tra chất lượng của tiêu chuẩn đó. Quy trình phân tích là quy
trình thử nghiệm, mô tả chi tiết các bước cần thiết để thực hiện một thử nghiệm.
Quy trình phân tích được chia thành 3 loại: Thử định tính, thử tinh khiết và thử định
lượng [7].
Thẩm định quy trình phân tích là một quá trình tiến hành thiết lập bằng thực
nghiệm các thông số đặc trưng của phương pháp để chứng minh rằng phương pháp
đáp ứng yêu cầu phân tích dự kiến. Nói cách khác, việc thẩm định một quy trình
phân tích yêu cầu chúng ta phải chứng minh một cách khoa học rằng khi tiến hành

các thành phần khác có thể có trong mẫu thử. Việc xác định tính đặc hiệu cần thiết
được tiến hành trong khi thẩm định các phép thử định tính, xác định tạp chất và
định lượng. Thông thường các thành phần gồm các tạp chất, sản phẩm phân hủy,
chất nền…Quy trình dùng để xác định tính đặc hiệu phụ thuộc vào mục tiêu đã định
của phương pháp phân tích. Một phương pháp phân tích kém đặc hiệu có thể được
bổ trợ bằng một hoặc nhiều phương pháp phân tích khác [5].
 Độ chính xác (Precision).
Độ chính xác của một phương pháp phân tích diễn tả sự thống nhất (mức độ
phân tán) kết quả giữa một loạt phép đo từ nhiều lần lấy mẫu trên cùng một mẫu thử
đồng nhất dưới những điều kiện mô tả. Độ chính xác có thể chia thành ba cấp: Độ
lặp lại, độ chính xác trung gian và độ tái lặp. Độ chính xác nên được thử trên một
mẫu thử thực, đồng nhất. Tuy nhiên, nếu không có mẫu đồng nhất thì có thể dùng
mẫu tự tạo hoặc một dung dịch mẫu thử. Độ chính xác thường được biểu thị dưới
dạng độ dao động, độ lệch chuẩn hoặc hệ số dao động của một loạt phép đo [5]. 17

+ Độ lặp lại (Repeatability).
Độ lặp lại diễn tả độ chính xác của một phương pháp phân tích trong cùng
điều kiện thí nghiệm trong khoảng thời gian ngắn. Độ lặp lại còn được gọi là độ
chính xác trong cùng điều kiện định lượng. Độ lặp lại có thể được đánh giá trên kết
quả của: Tối thiểu 9 lần định lượng trong khoảng nồng độ đã được xác định của quy
trình (ví dụ 3 nồng độ, mỗi nồng độ được tiến hành 3 lần) hoặc tối thiểu 6 lần định
lượng ở nồng độ thử 100% [5].
+ Độ chính xác trung gian (Intermediate Precision).
Độ chính xác trung gian diễn tả mức dao động của kết quả trong cùng một
phòng thí nghiệm được thực hiện ở các ngày khác nhau, kiểm định viên khác nhau
và thiết bị khác nhau. Việc xác định độ chính xác trung gian phụ thuộc vào tình
hình cụ thể đối với từng phương pháp phân tích được áp dụng. Cơ sở đăng ký cần

quan (correlatiso coeffient) được tính toán để đánh giá khả năng tuyến tính giữa các
nồng độ của mẫu và kết quả đo được [5].
 Khoảng xác định (Range).
Khoảng xác định của một phương pháp phân tích là khoảng cách giữa nồng
độ trên và dưới của chất phân tích trong mẫu thử (bao gồm cả các nồng độ này),
trong khoảng nồng độ này, phương pháp phân tích đã được chứng minh đáp ứng độ
chính xác, độ đúng và tính tuyến tính. Khoảng xác định thường được lấy từ những
nghiên cứu tính tuyến tính và phụ thuộc vào việc ứng dụng dự định của quy trình.
Khoảng xác định được thiết lập bởi việc khẳng định phương pháp phân tích đã xây
dựng có tính tuyến tính, độ đúng và độ chính xác chấp nhận được khi áp dụng để
định lượng mẫu thử chứa chất phân tích với hàm lượng nằm trong khoảng hoặc ở
hai cực (cực đại và cực tiểu) của khoảng xác định của phương pháp phân tích [5].
 Giới hạn phát hiện (Detection Limit).
Giới hạn phát hiện của một phương pháp phân tích là lượng nhỏ nhất của
chất phân tích trong mẫu thử có thể phát hiện được nhưng không nhất thiết để có
thể định lượng được. Phương pháp xác định giới hạn phát hiện tùy thuộc vào
phương pháp phân tích là phương pháp phân tích dụng cụ hay không dụng cụ. Các
phương pháp phát hiện gồm có: Dựa vào quan sát, dựa vào tỷ lệ đáp ứng so với
19

nhiễu, dựa vào độ lệch chuẩn của đáp ứng và độ dốc, dựa vào độ lệch chuẩn của
mẫu trắng, dựa vào đường chuẩn…
Các dữ liệu cần có: Cần đưa ra giới hạn phát hiện và cách xác định giới hạn
phát hiện. Nếu giới hạn phát hiện được xác định dựa vào quan sát hoặc dựa vào tỷ
lệ đáp ứng trên nhiễu thì cần đưa ra các sắc ký đồ có liên quan. Trong trường hợp
ước tính giá trị giới hạn phát hiện bằng tính toán hoặc bằng ngoại suy thì sau đó
những ước tính này cần được đánh giá bằng cách phân tích độc lập một số lượng
mẫu thích hợp có nồng độ đã biết gần với giới hạn phát hiện hoặc bằng với giới hạn
phát hiện [5].
 Giới hạn định lượng (Quantitation Limit).

Xác định tạp
chất
Định lượng:
-Độ hòa tan.
-Hàm lượng/
hoạt lực.
Định
lượng
Thử
giới
hạn
Độ đúng - + - +
Độ chính xác:
- Độ lặp lại - + - +
- Độ chính xác trung gian - + (1) - + (1)
Tính đặc hiệu (2) + + + +
Giới hạn phát hiện (LOD) - - (3) + -
Giới hạn định lượng (LOQ) - + - -
Tính tuyến tính - + - +
Khoảng xác định - + - +
Dấu – nhằm chỉ các chỉ tiêu này thông thường không cần phải đánh giá.
Dấu + nhằm chỉ các chỉ tiêu này cần phải đánh giá.
(1)trong trường hợp đã tiến hành kiểm tra độ tái lặp thì độ chính xác trung gian
không cần phải xem xét.
(2)một phương pháp phân tích kém đặc hiệu có thể bổ trợ bằng một hay nhiều
phương pháp phân tích hỗ trợ khác.
(3)có thể cần trong một số trường hợp [5].

thể nên để đảm an toàn đối với người và động vật, bắt buộc phải kiểm tra thành
phần này trong vacxin thành phẩm.
22

b. Các phương pháp định lượng protein tổng số trong vacxin.
Protein có trong vacxin được xác định theo nhiều phương pháp khác nhau,
tùy theo từng loại vacxin.
 Phương pháp biuret: Dựa vào sự tương tác của ion Cu
2+

với protein trong dung
dịch alkalin, sản phẩm thu được có độ hấp thụ cực đại ở bước sóng 545nm [8].
 Phương pháp Bradford: Dựa trên sự kết hợp giữa thuốc nhuộm Coomasie với
protein trong môi trường acid [8].
 Phương pháp đồng/bicinchoninic acid: Dựa vào sự khử ion Cu
2+
thành Cu
+
do
protein, dùng acid bicinchoninic (BCA) để xác định Cu
+
[8].
 Phương pháp Micro Kjeldahl: Protein được vô cơ hóa bằng axit sulfuric đậm
đặc chuyển thành dạng ion amoni NH
4
+
rồi chuẩn độ định lượng hoặc đo quang
với thuốc thử Nessler (Phương pháp Nessler hay semi – Kjeldahl) [8].
 Phương pháp Lowry cải tiến: Protein có trong mẫu vacxin thử bị tủa với acid
tricloracetic. Xác định lượng tủa để tính ra lượng protein có trong vacxin bằng

vacxin (vacxin sử dụng một loại độc tố virus không hoạt động để tạo ra miễn dịch).
Nó cũng được dùng để tiêu diệt virus và vi khuẩn không mong muốn có thể bị
nhiễm trong quá trình sản xuất vacxin [18]. Vì vậy việc kiểm tra hàm lượng
formaldehyde của các lô vacxin cúm là một yêu cầu bắt buộc. Theo TCYTTG thì
hàm lượng formaldehyde ≤ 0,02%.
b. Các phương pháp định lượng formaldehyde trong vacxin
 Xác định hàm lượng formaldehyde tự do bằng phương pháp đo quang với
thuốc thử fuchsin.
Đây là phương pháp định lượng formaldehyde bằng cách so màu của chinol
ở bước sóng 400nm. Phản ứng tạo chất màu chinol dưới tác dụng của thuốc thử
fuchsin và aldehyd hòa tan trong nước [8].
Phương pháp này phức tạp và khó thực hiện, kết quả không chính xác ở các
nồng độ rất thấp.
 Xác định hàm lượng formaldehyde tự do bằng phương pháp đo quang với
thuốc thử acetylaceton.
Đây là phương pháp định định lượng formaldehyde bằng cách so màu của
3,5 – diacetyl – 1,4 – dihydrolutidin ở bước sóng 410nm. Phức hợp tạo thành có
24

màu vàng chanh do phản ứng của formaldehyde tự do trong mẫu thử với
acetylaceton và amoni trong môi trường acid nhẹ [8].
Phương pháp này dễ thực hiện, tốn ít thời gian và cho kết quả chính xác hơn.
1.5.3. Sucrose và các phương pháp bán định lượng sucrose.
a. Sucrose.
Sucrose có trọng lượng phân tử là 342,3 đvC. Sucrose ở dạng bột kết tinh
màu trắng hay tinh thể trắng hoặc không màu, khô, bóng. Rất dễ tan trong nước,
khó tan trong ethanol 96%, thực tế không tan trong ethanol tuyệt đối. Sucrose có
công thức hóa học là  - D – fructofuranosyl  - D – glucopy – ranosid [8]. Sucrose
được sử dụng ở nồng độ cao trong quá trình tinh chế vacxin cúm (tách phân đoạn
bằng siêu ly tâm theo nguyên lý gradien nồng độ) [19]. Căn cứ vào tiêu chuẩn của

S
2
O
3
= Na
2
S
4
O
6
+ 2NaI
Tuy nhiên phương pháp này chỉ xác định hàm lượng sucrose khi trong mẫu
chứa lượng đường lớn.
 Bán định lượng sucrose bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng.
Sắc ký lớp mỏng (Thin Layer Chromatography – TLC) là kỹ thuật tách
sucrose từ một hỗn hợp các chất. TLC được tiến hành trên bản có tráng một lớp
mỏng chất hấp phụ (pha tĩnh) trên đó chấm hỗn hợp các chất cần tách. Dung môi
(pha động) di chuyển lên phía trên bản mỏng theo cơ chế mao dẫn. Sucrose được
tách ra do đặc tính khác nhau của các thành phần mẫu. Trên sắc ký đồ, cường độ vệt
mẫu hình thành trên bản mỏng tương ứng với nồng độ sucrose [8].
25

Phương pháp này có tính ổn định và độ nhạy cao, phát hiện được hàm lượng
sucrose nhỏ. Tuy nhiên hóa chất sử dụng trong phương pháp này đa số là các dung
môi hữu cơ rất độc hại cho người thao tác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status