Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi - Pdf 19


Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y h nội
[\
Mai thị tâm THựC TRạNG NUÔI CON BằNG SữA Mẹ V ĂN Bổ SUNG
CủA CáC B Mẹ Có CON DƯớI 2 TUổI

LUN VN THC S Y HC
h nội 2009
Bộ giáo dục v đo tạo Bộ y tế
Trờng đại học y h nội
[\


tạo mọi điều kiện thuận lợi và có nhiều đóng góp quý báu cho bản luận văn này.
- PGS Đào Ngọc Diễn – người thầy đã giúp đỡ và luôn động viên, khích
lệ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
- PGS.TS Nguyễn Thị Lâm – Phó viện trưởng viện Dinh Dưỡng, TS Đỗ
Thị Hòa – Phó chủ nhiệm B
ộ môn dinh dưỡng khoa Y tế công cộng – Trường
Đại học Y Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận
văn này.
- Các thầy, cô trong hội đồng đã dành cho tôi những ý kiến quý báu để
tôi hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn:
- Đảng Ủy, Ban Giám Hiệu, Bộ môn Nhi, khoa Sau Đại học, các phòng
ban, các thầy, cô trong trường Đại Học Y Hà Nội.
- Ban lãnh đạo Bệnh viện Nhi Trung Ương cùng toàn thể các khoa
phòng, cán bộ
công nhân viên trong bệnh viện.
- Ban giám hiệu trường Cao đẳng y tế Điện Biên.
- Tập thể lớp chuyên khoa I Nhi khóa 12.
- Các bà mẹ và các em bé đã tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu này.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ tình cảm yêu quý và biết ơn tới gia đình, bạn bè,
người thân đã luôn giúp đỡ, ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Hà Nội, tháng 9 năm 2009
Mai Thị Tâm LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài "Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ
sung của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi" là đề tài do tự bản thân tôi thực hiện.

PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ABS : Ăn bổ sung
BMHT : Bú mẹ hoàn toàn
BVNTW : Bệnh viện Nhi Trung Ương
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ
KT và TH : Kiến thức và thực hành
SDD : Suy dinh dưỡng
TCYTTG : Tổ chức Y tế thế giới.
TĐHV : Trình độ học vấn
TTDD : Tình trạng dinh dưỡng
WHO : Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)
UNICEF : Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
Bảng 3.25: Liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với NCBSM 41
Bảng 3.26: Liên quan giữa nghề nghiệp của mẹ với ăn bổ sung 42 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ các loại thức ăn, nước uống được các bà mẹ sử dụng cho
trẻ trước lần bú đầu tiên
29
Biểu đồ 3.2: Lý do các bà mẹ cho con ăn các loại thức ăn, nước uống khác
trước khi bú lần đầu
30
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn và ăn bổ sung tính theo thời điểm 31
Biểu đồ 3.4: Cách để có nhiều sữa của các bà mẹ 33
Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ trẻ 6 - 9 tháng được ABS hợp lý 35
Biểu đồ 4.1: So sánh tỉ lệ cho con bú sớm sau sinh của các bà mẹ trong
nghiên cứu với các tài liệu tham khảo gần đây.
45
Biểu đồ 4.2: So sánh tỉ lệ cho ABS sớm so với một số nghiên cứu khác gần
đây ở một số tỉnh trong nước
53
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, nhờ những tiến bộ về kinh tế, xã hội và các can
thiệp về y tế và dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) ở trẻ em dưới 5 tuổi
ở nước ta có xu hướng giảm, nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước
có tỷ lệ trẻ em SDD dưới 5 tuổi cao nhất trong khu vực. Theo báo cáo của

này trẻ cần được ăn thêm các thức ăn bổ sung từ dạng lỏng như sữa rồi
chuyển sang bột loãng, bột đặc rồi cháo và cơm [18],[19]. Các thiếu sót
trong nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ ở thời kỳ bú mẹ, ăn sam, cai sữa đều có
thể gây SDD cho trẻ.
Những nghiên cứu về NCBSM trên cộng đồng trong thời gian gần đây
cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sữa m
ẹ đúng cách và được ăn bổ sung hợp lý còn
rất thấp. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Phú, Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự
cho thấy chỉ có 2/816 trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng
đầu, có 14,5% trẻ được ăn bổ sung đúng thời điểm [31]. Kết quả nghiên cứu
của Từ Ngữ, Huỳnh Nam Phương và cộng sự cho thấy chỉ có 4,6% trẻ được
bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, hết tháng thứ
2 đã có 40,7% trẻ được cho
ABS, tỷ lệ này ở trẻ hết tháng tuổi thứ 3 là 73,7% [26]. Theo báo cáo của
Viện Dinh Dưỡng năm 2006, tỉ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của
toàn quốc mới chỉ đạt 12,2 % [40]. Từ những nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ
trẻ được bú sữa mẹ đúng cách và được ăn bổ sung hợp lý còn chưa cao, điều
này có lẽ do nhiều nguyên nhân tác động lại. Nhằm đ
ánh giá lại thực trạng và
tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nuôi dưỡng trẻ em dưới 2 tuổi của các bà
mẹ trong thời gian gần đây, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng
nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung của các bà mẹ có con dưới 2 tuổi, nhằm
mục tiêu:
1- Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung của các bà mẹ
có con dưới 2 tuổi.
2- Mô tả một số yếu tố liên quan tới việc nuôi con bằng sữa mẹ và ăn
bổ sung của các bà mẹ trên.
Hy vọng kết quả nghiên cứu này phần nào góp phần thúc đẩy chương
trình nuôi con bằng sữa mẹ và thực hành cho trẻ ăn bổ sung được tốt hơn.


- Màu nâu của thịt, cá, tôm, cua, lươn, nhộng, lạc, vừng…[12],[41]
* Cai sữa: là ngừng không cho trẻ bú sữa mẹ, đây chính là sự chuyển
giao vai trò cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng từ sữa mẹ (ở giai
đoạn 4
đầu) tới vai trò của các thực phẩm trong bữa ăn gia đình để kết thúc thời kỳ
bú mẹ [110].
1.2. Tầm quan trọng của sữa mẹ và việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Trong những năm gần đây Việt Nam là một trong những nước được
đánh giá có mức tăng trưởng kinh tế nhanh. Cùng với những thành tựu đó,
tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng của trẻ em cũng
đã được cải thiện đáng kể.
Vấn đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu đó chính là chương trình
NCBSM. Có rất nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước dành riêng
cho chuyên đề này. Qũy nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã coi NCBSM
là một trong bốn biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em [1] vì
sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất cho trẻ d
ưới 1 tuổi [18] nhờ
những đặc tính ưu việt sau:
1.2.1. Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất với trẻ vì có
đủ năng lượng, đủ chất dinh dưỡng cần thiết (đạm, đường, mỡ, Vitamin, muối
khoáng) với tỷ lệ thích hợp cho sự hấp thu và phát triển của trẻ, tránh suy dinh
dưỡng hoặc tăng cân quá mức [3],[4].
- Protein: hàm lượng protein trong sữa mẹ tuy ít hơn sữa công thức
nhưng có đủ các acid amin cần thiết và dễ tiêu hóa đối với trẻ nhỏ. Protein
của sữa mẹ gồm casein, albumin, lactabumin, β-Lactoglobulin, globulin miễn
dịch (kháng thể) và các glycoprotein khác. Đặc biệt, casein là một chất đạm
quan trọng có tác dụng ngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm

Phospho mg 15
Magie mg 2
Vitamin C mg 6
Vitamin B1 mg 0,01
Vitamin B2 mg 0,04
Vitamin B12 mg 0,05
Vitamin A mg 90
Vitamin D mg 0,1
Vitamin E mg 0,08
Vitamin K mg 0,3
Acid béo no g 2
Acid béo không no g 2,16 6
Bú sữa mẹ, trẻ sẽ lớn nhanh, phòng được suy dinh dưỡng, giúp trẻ thông
minh, không bị thiếu Vitamin, thiếu máu do thiếu sắt, không bị thiếu calci,
phosphor.
1.2.2. Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên có chứa nhiều yếu tố
quan trọng bảo vệ cơ thể mà không một thức ăn nào có thể thay thế được
[104], đó là:
- Các Globulin miễn dịch, chủ yếu là IgA (chiếm 95%) còn lại là IgM và
IgG có tác dụng bảo v
ệ cơ thể chống lại các bệnh đường ruột và một số bệnh
do virus. Trong sữa mẹ còn có các yếu tố Interferon cũng có tác dụng bảo vệ
cơ thể chống nhiễm vi khuẩn và virus [2],[3],[104].
- Lizozym là một loại men có nhiều hơn hẳn trong sữa mẹ so với sữa
công thức. Lyzozym phá hủy một số vi khuẩn gây bệnh và phòng ngừa một số
bệnh do virus [2],[3].
- Lactoferin là một protein kết hợp với sắ

1.2.5. NCBSM là điều kiện để gắn bó tình cảm mẹ con, giúp mẹ con
gần gũi nhau hơn, là yếu tố
tâm lý quan trọng cho sự phát triển hài hòa của
trẻ. Mặt khác, chỉ có người mẹ qua sự quan sát tinh tế của mình sẽ phát hiện
sớm nhất, đúng nhất những thay đổi bình thường hoặc bệnh lý của con [19].
1.2.6. Bảo vệ sức khỏe bà mẹ.
Cho con bú sớm sau đẻ sẽ giúp tử cung mẹ co hồi sớm, cầm máu cho bà
mẹ đề phòng thiếu máu sau đẻ và nhanh hết sản dịch [3],[19],[43].
Cho con bú đúng, bú đủ làm kinh nguyệt ch
ậm trở lại và vì thế giảm bớt
khả năng thụ thai [3],[43].
Cho con bú mẹ sẽ giảm được nguy cơ bị ung thư vú, ung thư tử cung [54],
[55],[86],[106].
Nhờ cho con bú vóc dáng người mẹ sẽ nhanh hồi phục [74].
1.2.7. Cho bú sữa mẹ thuận lợi và kinh tế.
- Thuận lợi vì không cần dụng cụ, không cần đun nấu, pha chế, không
mất thời gian chuẩn bị, không phụ thuộc giờ giấc, bất k
ỳ lúc nào cũng có thể
cho trẻ ăn ngay.
- Kinh tế vì không phải mua.
- Khi người mẹ ăn uống đầy đủ, tinh thần thoải mái sẽ đủ sữa cho con
bú [2],[3]. 8
1.3. Một số quan niệm hiện nay về nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung.
1.3.1. Quan niệm về nuôi con bằng sữa mẹ:
Khuyến nghị của TCYTTG về nuôi dưỡng trẻ nhỏ:
- Bắt đầu cho trẻ bú trong vòng 1 giờ đầu sau đẻ
- Bú mẹ hoàn toàn từ 0-6 tháng tuổi.

thời gian để thích nghi với chế độ ăn mới. Cai sữa đột ngột, trẻ bỏ bú ngay,
thậm trí tách trẻ khỏi người mẹ dễ gây sang chấn tinh thần, trẻ không chịu
ăn. Không nên cai sữa cho trẻ khi trẻ bị ốm nhất là khi bị tiêu chảy hoặc
vào
mùa hè nóng nực [43].

1.3.2. Ăn bổ sung:
Ăn bổ sung còn được gọi là “ăn sam”, “ăn thêm” ở miền Bắc và “ăm dặm”
ở miền Nam. Ăn bổ sung là cho trẻ ăn thêm những thức ăn khác ngoài sữa
mẹ. Những thức ăn khác là những thực phẩm cung cấp năng lượng và các
chất dinh dưỡng gọi là thức ăn bổ sung [41].
Thời gian cho ăn bổ sung bắt đầu khi trẻ được tròn 6 tháng tu
ổi (180
ngày), sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu cho sự phát triển của trẻ, trẻ cần
phải ăn bổ sung. Đây là lứa tuổi mà hệ tiêu hóa đã hoàn chỉnh, có thể tiêu hóa
được nhiều loại thực phẩm [41],[42].
Ăn bổ sung được coi là hợp lý khi trẻ được ăn các loại thức ăn cung cấp
đủ năng lượng (có thể ước tính qua số bữa ăn trong ngày kết hợp v
ới khối
lượng của mỗi bữa) và đủ chất dinh dưỡng (thể hiện bằng sự kết hợp các
nhóm thực phẩm bổ sung cho trẻ).
Để đáp ứng nhu cầu năng lượng của trẻ, cần cho trẻ ăn đủ số bữa cùng
khối lượng thích hợp của mỗi bữa:
- Trẻ 6-8 tháng: Bú mẹ + 2-3 bữa bột (2/3 bát mỗi bữa) và quả nghiền.
- Trẻ 9- 11 tháng: Bú mẹ + 3 bữa bột hoặc cháo (¾ bát mỗi bữa) + 1 bữa
phụ (hoa quả nghiền, sữa chua, nước hoa quả…)
- Trẻ 12 – 23 tháng (từ 1 đến 2 tuổi): Bú mẹ + 3 bữa cháo (1 bát/bữa) + 2 bữa
phụ (hoa quả nghiền, sữa chua, nước hoa quả …)
+ Các loại thịt, trứng, thuỷ hải sản (cá, tôm…)
+ Sữa và các sản phẩm từ sữa. 11
+ Các loại quả chín
+ Các loại rau xanh (nhất là rau tươi)
+ Một số chất béo: dầu cá, dầu gấc…
Để có đủ các chất dinh dưỡng trên, các bà mẹ cần cho trẻ ăn kết hợp 8
nhóm thực phẩm từ 4 nguồn sau đây [41] :

I. Nguồn cung cấp chất bột,
đường
1. Nhóm lương thực: gạo, ngô, khoai, sắn…
2. Nhóm hạt các loại: đậu, đỗ, vừng, lạc…
3. Nhóm sữa và các sản phẩm từ sữa
4. Nhóm thịt các loại, cá, tôm, cua, ốc, hến …
II. Nguồn cung cấp chất đạm
5. Nhóm trứng các loại
6. Nhóm củ, quả có màu vàng, màu da cam,
màu đỏ như: cà rốt, bí ngô, gấc…hoặc rau
màu xanh thẫm
III. Nguồn cung cấp Vitamin,
chất khoáng và chất xơ.
7. Nhóm rau, quả khác
IV. Nguồn cung cấp chất béo 8. Nhóm dầu, mỡ.
Bữa ăn của trẻ được coi là đạt chất lượng khi có mặt của 8 nhóm thực
phẩm. Trong đó sự có mặt của các loại thực phẩm trên tạo ra bát bột (hoặc
cháo) có màu sắc (tô màu bát bột): màu xanh của rau, màu vàng của trứng,
màu nâu của thịt, cua…

đặc sánh cho nên sữa non luôn được coi là sữa không tốt, bẩn và có thể làm
cho trẻ bị tiêu chảy, nên họ chỉ cho trẻ bú bắt đầu vào ngày thứ 2, 3 sau đẻ
[58],[66],[88].
Ở Philippin, sữa non bị coi là sữa bẩn phải vắt bỏ đi [112]. Ở nông thôn
Karnataka (Ấn Độ) 58,4% trong số 274 bà mẹ vắt bỏ sữa non, nhưng họ lại
biết được tính ưu việt của sữ
a mẹ [50]. 13
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho kết quả: lý do không cho trẻ bú
ngay chủ yếu là “chờ sữa về” hoặc cho rằng “sữa đầu không tốt” [17],[29]
hoặc “chờ căng sữa” [6].

1.4.2. Tình trạng kinh tế, văn hóa, xã hội:
Một nghiên cứu được tiến hành để xác định yếu tô ảnh hưởng đến tỷ lệ
NCBSM ở Newdelli cho thấy tỷ lệ NCBSM cao hơn ở các bà mẹ mù chữ và
các bà mẹ có mức kinh tế xã hội thấp. Trẻ em ở các gia đình nghèo nhất được
bắt đầu bú mẹ sau đẻ sớm hơn trẻ em ở các gia đình giàu nhất (89% và 7%),
ngoài ra còn cho thấy tỷ lệ NCBSM đến 3 – 6 tháng ở các gia đình nghèo
thấp hơn nhưng tỷ lệ trẻ được bú mẹ 12 tháng lại cao nhất ở trẻ em gia đình
nghèo [79]. Các bà mẹ có địa vị, kinh tế xã hội cao hơn và với trình độ học
vấn tốt hơn cho rằng trẻ cần được ăn sam sớm trước 4 tháng và cảm thấy việc
NCBSM là cần thiết cho trẻ dưới 2 tuổi [49]. Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận
tình trạng kinh tế xã hội của gia đình ảnh hưởng đến thời gian NCBSM
[67],[75],[108]. Một nghiên cứu ở Chile về các yếu tố liên quan đến việc cho
trẻ bú sữa mẹ lại cho thấy những bà mẹ tiếp t
ục cho con bú hoàn toàn ngoài 3
tháng tuổi là nhóm có trình độ học vấn cao [97]. Ở Việt Nam, Nghiên cứu của
Mai Đức Thắng cho thấy: những bà mẹ có trình độ học vấn cao có tỉ lệ hiểu

ếu sữa và việc phải đi làm sớm:
Một lý do rất quan trọng ảnh hưởng đến NCBSM và ABS sớm là sự
thiếu sữa mẹ. Một nghiên cứu về tập quán NCBSM được tiến hành trên 600
bà mẹ ở Ấn Độ đã cho thấy: 51,3% trẻ em được bú mẹ lần đầu trong vòng 24
giờ. Thiếu sữa là một lý do quan trọng đối với việc cai sữa trước 6 tháng [76].
Một nghiên cứu tương tự
được tiến hành bởi Milan và cộng sự đã nhận xét:
80% các bà mẹ cho biết mình bị thiếu sữa vào thời điểm nghiên cứu. Trình độ
học vấn của người mẹ, những căng thẳng trong cuộc sống và công việc, viêm
đau núm vú, cho ăn sam sớm đều liên quan có ý nghĩa với việc thiếu sữa mẹ
[87]. Việc phải đi làm sớm, số lần cho bú ít đó là những yếu tố gây nên việc
không đủ sữa của các bà mẹ [73], [100]. 15
Ở Việt Nam, các nghiên cứu tương tự được tiến hành bởi Nguyễn Thu
Nhạn và cộng sự (1986) [27], Nguyễn Thị Nga (1986) [90] đều cho thấy thiếu
sữa mẹ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến NCBSM. Các nghiên cứu gần
đây cũng cho thấy nguyên nhân các bà mẹ cho trẻ ABS sớm là mẹ thiếu sữa,
mẹ phải đi làm [17],[26].

Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM
Lời khuyên, thái
độ của cán bộ y tế
Y
ế
u
t

văn
hóa xã hội,
phong tục
tập quán
niềm tin
Chính
sách
xã hội
Lời khuyên, thái độ
của gia đình, bạn bè
NCBSM
Thời gian
chăm sóc trẻ
Công việc
nặng nhọc
của mẹ
Nghề nghiệp
Yếu tố
kinh tế
Cỡ gia đình 16


17
Ở Trung Quốc, tỷ lệ NCBSM giảm xuống trong những năm 70,
xuống đến mức thấp nhất trong những năm 80 và sau đó bắt đầu tăng trở lại
trong những năm 90. Các chỉ số về NCBSM ở khu vực thành thị luôn thấp
hơn so với khu vực nông thôn [63]. Một nghiên cứu gần đây tại tỉnh Thượng
Hải – Trung Quốc cũng cho thấy tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn có s
ự khác nhau giữa
các vùng thành phố, ngoại ô và nông thôn. Đặc biệt tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn
toàn ở vùng ngoại ô và nông thôn cao gần gấp 2 lần so với ở thành phố
(63,4% và 61% so với 38%). Tỷ lệ NCBSM ở cả 3 vùng trên tương ứng là
96,5%, 96,8% và 97,4% [82]. Một nghiên cứu khác đã so sánh NCBSM giữa
những năm 1994-1996 và 2003-2004 ở một vùng thuộc Tây Bắc của Trung
Quốc cho thấy trong tháng đầu tỷ lệ NCBSM năm 2003-2004 giảm hơn so với
năm 1994-1995. T
ỷ lệ NCBSM hoàn toàn ban đầu cao, nhưng sau 3 tháng thì
tỉ lệ này giảm hơn rõ rệt. Mục tiêu quốc gia của Trung Quốc về NCBSM đều
không đạt được trong cả hai giai đoạn nghiên cứu [63].
Ở Việt Nam từ đầu năm 1980, nghiên cứu về tập quán và thực hành
nuôi con của các bà mẹ đã được triển khai bởi nhiều tác giả và ở nhiều vùng
trên cả nước. Đào Ngọc Diễn, Nguyễn Trọng An và cộng sự
năm 1983 đã
nghiên cứu trên 500 trẻ dưới 5 tuổi tại vùng nông thôn và nội thành Hà Nội,
kết quả cho thấy: hầu hết trẻ được bú mẹ sau 2-3 ngày. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ
lần đầu trong vòng 24 giờ chỉ đạt 15,8% ở nội thành và 35,5% ở nông thôn ở
cả 2 nhóm đủ sữa và thiếu sữa mẹ. Từ 68 – 97% trẻ được ăn thêm trong vòng
4 tháng đầu. Thời gian cai sữa trung bình là 12 tháng, trong đó 13,4% trẻ
được cai sữ
a trước 12 tháng [9].
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang về thực hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status