SV: Nguyễn Quỳnh Trang Khoa: Thuế - Hải quan
Lớp: CQ47/02.01
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ QUẢN LÝ
THUẾ
Thực hiện chiến lược cải cách hiện đại hóa ngành Thuế giai đoạn 2011-
2020, ngành thuế từng bước hoàn thành các chương trình cải cách, hiện đại hóa hệ
thống quản lý thuế theo kế hoạch đề ra. Để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, ngành
Thuế đã triển khai rất nhiều phần mềm ứng dụng và xây dựng hạ tầng mạng truyền
thông thống nhất trong toàn ngành phục vụ công tác quản lý thuế, đồng thời mở
rộng cung cấp dịch vụ kê khai thuế điện tử, nộp thuế qua ngân hàng, thực hiện
minh bạch hóa thủ tục thuế, cung cấp thông tin tra cứu hỗ trợ người nộp thuế thực
hiện nghĩa vụ thuận tiện, hỗ trợ người nộp thuế... từ đó nâng cao hiệu quả và chất
lượng công việc cũng như giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho người nộp thuế.
Trong đó, công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quản lý thuế của
ngành đã có hiệu quả to lớn, thiết thực cho cả cơ quan Thuế và người nộp thuế
(NNT).
Tình hình triển khai chương trình ứng dụng công nghệ tin học vào quản
lý thuế trong thời gian qua
Từ năm 2005, ngành Thuế bắt đầu triển khai nhiều ứng dụng hỗ trợ NNT
nhằm đẩy mạnh công tác công khai hóa thông tin ngành, cho phép doanh nghiệp
(DN) tra cứu các văn bản pháp quy, các chính sách mới của ngành Thuế; giảm về
nhân lực cho cơ quan Thuế trong việc hỗ trợ trực tiếp NNT, tạo môi trường giao
dịch văn minh hiện đại...Một trong những ứng dụng có hiệu quả là việc triển khai
hệ thống ứng dụng công nghệ mã vạch hai chiều trên tờ khai nộp thuế của NNT.
Việc triển khai phần mềm ứng dụng này đã hỗ trợ doanh nghiệp kê khai tờ khai
đúng quy định, cập nhật kịp thời những thay đổi về chính sách, giảm các lỗi số
học, tiết kiệm thời gian cho DN...Qua thực tế triển khai ở bộ phận nhận tờ khai
hàng tháng ở một số Chi cục Thuế cho thấy, nếu như trước đây bộ phận nhận tờ
khai cần có 4 người/tổ và xử lý được khoảng 200 hồ sơ một ngày, sau khi triển
khai ứng dụng bộ phận này đã giảm được 3 người mà vẫn có thể tiếp nhận và nhập
vào máy tính khoảng 250 hồ sơ/ngày.
nhân làm công ăn lương đăng ký thuế, nâng tổng số mã số thuế TNCN đã cấp cho
tất cả các đối tượng lên hơn 12 triệu mã số. Bên cạnh đó, một loạt các ứng dụng
khác phục vụ công tác quản lý thuế được tiếp tục nâng cấp và triển khai đáp ứng
yêu cầu quản lý thuế như: Hỗ trợ NNT (ứng dụng QHS), ứng dụng đăng ký thuế
(ứng dụng TIN), quản lý và phân tích tình trạng nợ thuế (ứng dụng QLN), ứng
dụng quản lý hóa đơn thuế (ứng dụng QLAC)...
Năm 2011, ngành thuế tiếp tục thực hiện mở rộng dịch vụ kê khai thuế qua
mạng cho khoảng 30.000 doanh nghiệp tại 40 tỉnh, thành phố, nhằm tạo thuận lợi
hơn nữa cho doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế
Ứng dụng hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra có chức năng hỗ trợ tổng hợp,
báo cáo, đánh giá kết quả công tác thanh tra, kiểm tra người nộp thuế, hiện đã hoàn
thành việc nâng cấp, triển khai ứng dụng này cho toàn ngành Thuế (63 cục và hơn
700 các chi cục trực thuộc) đáp ứng quy trình thanh tra 460/QĐ-TCT ngày
5/5/2009 và kiểm tra 528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế.
Hiện tại ngành thuế đã và đang nỗ lực triển khai kế hoạch ứng dụng CNTT,
trong đó đặt trọng tâm vào năm 2013 với hy vọng sau khi triển khai thành công các
ứng dụng thì “bức tranh” về quản lý thuế bằng CNTT sẽ có diện mạo mới và thống
nhất trên phạm vi cả nước.
Ứng dụng hiệu quả
Ngành Thuế đang từng bước ứng dụng điện tử khi thực hiện các thủ tục về
thuế (đăng ký, kê khai,...) và đang tích cực hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin để
từng bước chuyển sang phương thức quản lý thuế dựa trên cơ sở dữ liệu người nộp
thuế tập trung, thống nhất, tự động và tích hợp theo mục tiêu Chiến lược cải cách
2/6
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Khoa: Thuế - Hải quan
Lớp: CQ47/02.01
hiện đại hoá ngành thuế, ngành hải quan giai đoạn 2011-2020 (đã được Chính phủ
phê duyệt theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/05/2011 và Quyết định số
448/QĐ-TTg ngày 25/3/2011). Việc quản lý thuế theo phương thức điện tử sẽ giúp
nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tính liêm chính trong thực thi pháp luật thuế.
học hóa như các khâu: Nhập dữ liệu, xử lý dữ liệu, khai thác, phân tích dữ liệu
phục vụ cho từng chức năng quản lý của ngành.
Thứ tư: Tập trung dữ liệu trong từng cơ quan Thuế để chia sẻ thông tin phục
vụ chung cho các khâu quản lý thuế thay cho việc quản lý thủ công, ghi chép trong
sổ tay của từng cán bộ thuế như trước đây. Việc quản lý thông tin tập trung và chia
3/6
SV: Nguyễn Quỳnh Trang Khoa: Thuế - Hải quan
Lớp: CQ47/02.01
sẻ thông tin đã tạo điều kiện tốt cho việc chỉ đạo, điều hành; kiểm soát chặt chẽ
được kết quả công việc và quản lý cán bộ, hạn chế tiêu cực trong việc quản lý thu
thuế.
Thứ năm: Giảm thời gian xử lý về: Tờ khai, cân đối số thu - nộp và xác định
số thuế còn nợ của từng NNT, giảm hàng chục lần so với quy trình xử lý thủ công
trên sổ sách trước đây.
Thứ sáu: Hỗ trợ việc xử lý nhận trả hồ sơ thuế tại các bộ phận một cửa
nhanh chóng hơn. Toàn bộ quá trình nhận phân công xử lý - xử lý và trả kết quả
cho NNT được quản lý tự động trên hệ thống máy tính đã giúp lãnh đạo cơ quan
thuế kiểm soát được hồ sơ thuế đang xử lý đúng thời hạn...
Thứ bảy: trợ giúp việc minh bạch hóa thông tin chính sách, chế độ, quy
trình quản lý thuế thông qua Trang thông tin điện tử ngành thuế
(www.gdt.gov.vn ), cung cấp một số thông tin cơ bản và tình trạng hoạt động của
các DN trên Internet.
Thứ tám: giảm nhân lực trong các khâu xử lý công việc sự vụ đơn thuần
như: Nhập dữ liệu, tổng hợp thông tin, báo cáo...Ngành Thuế đã triển khai các ứng
dụng nhập tờ khai thuế sử dụng công nghệ mã vạch 2 chiều và kết nối mạng trao
đổi thông tin với Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng nên đã giảm tới 80% nhân lực
nhập dữ liệu tờ khai, chứng từ.
Với những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, trong năm 2012 và
những năm tới, ngành Thuế sẽ tiếp tục chú trọng và đẩy mạnh phát triển ứng
dụng CNTT vào công tác quản lý thuế theo lộ trình Chiến lược cải cách hiện đại
chặt chẽ, dẫn tới kết quả chung chưa đạt hiệu quả cao. Để khắc phục tình trạng này
và thực hiện Chiến lược cải cách ngành Thuế, vừa qua Cục Thuế tỉnh đã có kiến
nghị với Tổng cục Thuế rà soát, đánh giá lại hiệu quả của các phần mềm ứng dụng
quản lý thuế, loại bỏ các ứng dụng hiệu quả thấp, không phù hợp, nâng cao tốc độ
đường truyền để tạo điều kiện khai thác, sử dụng các ứng dụng tập trung, kê khai
thuế qua mạng và thực hiện các dịch vụ thuế điện tử. Để đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý thuế, ngay trong năm đầu thực hiện Chiến lược cải
cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020, ngành Thuế sẽ tập trung nâng cao chất
lượng hạ tầng, đảm bảo đủ điều kiện sử dụng rộng rãi các ứng dụng cũng như thực
hiện nghiêm việc chuẩn hóa dữ liệu trong quản lý thuế
Bài học kinh nghiệm
Qua việc triển khai thành công, Ngành thuế đúc kết sáu bài học kinh nghiệm
cơ bản về ứng dụng CNTT vào công tác quản lý thu thuế:
Một là, ứng dụng CNTT phục vụ quản lý thu thuế không phải là trách nhiệm
của riêng bộ phận tin học. Để tin học hóa trong công tác quản lý thuế, nghĩa là các
quy trình công việc xử lý nghiệp vụ và quản lý điều hành phải dần được tin học
hóa.
Hai là, cần tuyên truyền để lãnh đạo các cấp: phòng, chi cục, đội thuế và
chuyên viên nhận thức đúng về mục tiêu, tính hiệu quả và phương pháp giải quyết
của ứng dụng CNTT. Muốn phát triển ứng dụng CNTT được tốt thì không chỉ là
đầu tư hạ tầng, máy móc thiết bị hiện đại mà từng cán bộ thuế phải là một mắt
xích, vừa có nhiệm vụ khai thác thông tin trên hệ thống để xử lý nghiệp vụ vừa có
nhiệm vụ cập nhật thông tin đã được xử lý để chia sẻ thông tin với cán bộ khác liên
quan.
Ba là, để bảo đảm cho phát triển hệ thống thông tin, cần bồi dưỡng năng lực
và tạo thói quen cho chuyên viên: Để từng cán bộ thuế thực hiện được đúng vai trò
của mình vừa khai thác được thông tin trên hệ thống vừa cập nhật được thông tin
xử lý thì trước hết cán bộ thuế phải có khả năng khai thác thông tin và phải có thói
quen khai thác thông tin đồng thời phải thực hiện cập nhật thông tin để luôn luôn
có thông tin mới.