Thử nghiệm mô hình quản lý và điều trị bệnh tăng huyết áp tại tuyến y tế cơ sở ở tỉnh bắc giang - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tăng huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất trong các bệnh không lây
nhiễm. Trên thế giới tăng huyết áp 8-18% dân số. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp
thay đổi ở các quốc gia, châu Á Indonesia là 6-15%, Malaysia 10-11%, Đài
Loan là 28%, Châu Au-Mỹ: Hà Lan là 37%, Pháp là 10-24%, Hoa Kỳ là 24%.
Theo Tổ chức Y tế thế Giới, khảo sát 167 nước trong đú cú 61% nước chưa
có khuyến cáo về điều trị tăng huyết áp, 45% nước chưa huấn luyện điều trị
tăng huyết áp cho nhân viên y tế, 25% nước không cung cấp đủ thuốc điều trị
tăng huyết áp, 8% không đủ phương tiện tối thiểu và 12% không đủ thuốc
[11], [25], [33]. Ở Việt Nam tỷ lệ tăng huyết áp ngày càng cao năm 1960 là
1,0% dân số, năm 1982 là1,9%, năm 1992 là 11,79%, năm 2002 ở miền Bắc
là 16,3%, ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh là 20% [2], [7], [34],
[35], [36]. [37]. Theo khảo sát 1716 người mắc bệnh THA của Trần Đỗ Trinh
năm 1992: 67,5% người bệnh không biết mắc bệnh, 15% người bệnh biết có
bệnh nhưng không điều trị, 13,5% người bệnh được điều trị thất thường,
không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng [46],[60],[61]. Phạm Gia Khải
(2002) và cộng sự điều tra 5012 người từ tuổi 25 trở lên ở 4 tỉnh Miền Bắc
(Nghệ An, Thái Bình, Thỏi Nguyờn, Hà Nội) có 23% biết đúng yếu tố nguy
cơ của THA. Trong 818 người tăng huyết áp chỉ có 94 người dùng thuốc và tỷ
lệ khống chế là 19,1% [36]. Bệnh tăng huyết áp không được điều trị và quản
lý tốt, gây tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận, nhồi máu cơ tim , gây
tử vong và tàn phế, để lại hậu quả nặng nề về tinh thần và xa sút về kinh tế
cho người bệnh, gia đình và xã hội [25].
Chương trình phòng chống bệnh tăng huyết áp đã được Thủ tướng
Chính phủ Việt Nam phê duyệt năm 2008, với mục tiêu phát hiện sớm, quản
lý và điều trị bệnh tăng huyết áp. Xây dựng, triển khai và duy trì bền vững mô
1
hình quản lý bệnh tăng huyết áp tại tuyến cơ sở, 50% số người mắc tăng huyết
áp được phát hiện sẽ được điều trị đúng phác đồ do Bộ Y tế, giảm tỷ lệ tử
vong và tai biến do bệnh tăng huyết áp [54],[56]. Trong kế hoạch thực hiện
chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân của tỉnh Bắc Giang đã đưa

mức bình thường. Theo World Heath Organization (WHO), THA khi huyết
áp tâm thu (HATT) ≥ 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥
90mmHg [8].
Bệnh THA không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn
với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, bệnh đáp ứng với (điều trị)
ĐT cũng rất khác nhau.
Bệnh THA cũng là yếu tố nguy cơ (YTNC) của nhiều bệnh tim mạch
khác như: bệnh động mạch vành đột quỵ
1.1.1.2. Nguyên nhân.
Nguyên nhân THA được chia làm hai loại: THA nguyên phát chiếm
khoảng 90% các trường hợp THA. Đây là những trường hợp không có
nguyên nhân rõ rệt, một số nghiên cứu thấy rõ có yếu tố làm THA được gọi là
YTNC. Có rất nhiều YTNC gây THA như: Béo phì, tiền sử gia đình có người
THA, uống rượu, tuổi cao, hút thuốc và bệnh THA thứ phát, đây là những
trường hợp không có nguyên nhân rõ rệt.
THA thứ phát là do hậu quả của một số bệnh khác như bệnh thận, u
tuyến thượng thận. Một số nguyên nhân gây THA có thể xác định được:
- Các nguyên nhân THA do thuốc hoặc liên quan đến thuốc.
- Bệnh thận mãn, hẹp động mạch thận.
- Cường aldosteron tiờn phỏt.
- Pheochromocytoma …[8], [18], [48].
3
1.1.1.3. Tai biến của THA
- Các tai biến do THA gây nên:
+ Tim: dầy thất trái, đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, tiền sử ĐT tái
thông mạch vành, suy tim.
+ Não: đột quỵ hoặc thiếu máu cục bộ não, tai biến nmạch máu não
(TBMMN).
+ Bệnh thận mãn tính.
+ Bệnh động mạch ngoại vi.

tan trong chất béo cần thiết, là thành phần cấu trúc của nhiều tổ chức quan
trọng trong cơ thể. Hiện nay chưa biết rõ ràng về nhu cầu chất béo nhưng một
lượng chất béo hàng ngày từ 15-25% năng lượng khẩu phần có thể đáp ứng
được nhu cầu [5],[67]. Theo Phạm Khuờ, nờn ăn uống điều độ, phù hợp vì
chế độ ăn quá dư thừa sẽ gây béo phì và phát triển bệnh lý vữa xơ động mạch,
đái tháo đường. Chế độ ăn để giảm cân ở người béo phì trong đó trước tiên và
chủ yếu là: giảm các chất gluxit (bánh trái, đồ ngọt, chất bột) và bù đắp bằng
rau quả. Ăn giảm mỡ động vật và thay bằng dầu thực vật và hạn chế uống
nhiều nước kèm theo tăng cường vận động thể lực. Nhưng trong thực tế, phần
lớn các trường hợp béo phì chưa biết chế độ ăn để giảm cân. Vì vậy, để giảm cân
ở người béo phì, cũng là một việc nhiều khi khó thực hiện [40], [41].
- Chất xơ: Vai trò sinh học của chất xơ là giúp đẩy nhanh chất thải ra
khỏi ống tiờu hoỏ, phũng táo bón. Về vai trò đối với THA, đã có nhiều công
trình nêu lên tác dụng của chất xơ trong điều hoà HA cả ở người lớn và trẻ
em. Tuy nhiên tác dụng độc lập của chất xơ còn đang là vấn đề cần nghiên
cứu. Trong chế độ ăn của người bệnh THA cần thiết phải tăng nhiều chất xơ
[81], [82].
5
*Rượu: WHO đã khuyến cáo: “Rượu làm THA và đó là YTNC của tai
biến mạch não, thường thấy phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất
huyết não. Nếu uống rượu điều độ chỉ ở mức 10g ethanol x 1-3 lần/ngày thì
có thể chấp nhận được, ở mức trên 3 lần/ngày (>30g ethanol) có bằng chứng
hại cả về sinh học lẫn xã hội ”[8]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Trần Đỗ
Trinh và cộng sự (1989 - 1992) cho thấy ở những người THA tỷ lệ uống rượu
cao hơn ở những người bình thường (p < 0,01) [61].
Thói quen uống nhiều rượu: Trong thực tế, việc loại bỏ thói quen uống
nhiều rượu cũng là một vấn đề khó. Bởi vì, những người nghiện rượu kể cả
các trường hợp đã bị THA thường hay ngụy biện cho bản thân. Vì vậy, công tác
tuyên truyền giáo dục sức khỏe đối với người cao tuổi và dần dần bỏ rượu là vấn
đề cần được tăng cường hơn nữa đặc biệt là đối với người có THA.

hợp khi đã THA rõ rệt, còn chủ quan vì vẫn thấy "khoẻ mạnh" nên không giữ
dìn và không ĐT nên đã bị tai biến một cách rất đáng tiếc. Cho đến nay, việc
phòng chống THA vẫn còn là một vấn đề khó khăn và một trong các vấn đề
khó khăn đó là vấn đề nhận thức của người dân. Để phòng tai biến do THA,
vấn đề quan trọng nhất là phải phát hiện và ĐT sớm THA. Vì vậy, cần phải
đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ nhằm nâng cao sự
hiểu biết của cộng đồng về THA, đồng thời phải gắn liền với việc phát triển tổ
chức chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở mỗi cộng đồng.
1.1.2.2. Nhóm yếu tố môi trường: Các yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội
có ảnh hưởng rất nhiều tới bệnh THA nhất là đó là những yếu tố như cô đơn,
lối sống, gia đình, kinh tế
*Sống cô đơn: Một trong những nguyên nhân được nêu lên nhiều
nhất ảnh hưởng tới tâm lý người cao tuổi là sự cô đơn, tình trạng sống
7
cách biệt. Trước kia cho tình trạng đó là do hậu quả của bệnh tật. Ngày
nay cô đơn chính là nguyên nhân của sự giảm sút sức khoẻ, bệnh tật,
nhất là bệnh tâm thần. Sự cô đơn có thể là hậu quả của tâm trạng buồn,
thường do mất người thân, do hoàn cảnh éo le trong cuộc sống, biểu hiện
bằng không muốn mọi tiếp xúc trong gia đình và xã hội [70]. Nhiều tác
giả cũng thống nhất là mọi tổ chức xã hội làm tăng sự sống cách biệt đều
làm cho bệnh tâm thần phát triển ở người cao tuổi. Trái lại, mọi biện pháp
gắn người cao tuổi với xã hội, làm cho họ gắn bó với cuộc sống, thì đều
có tác dụng tốt đến tâm lý người cao tuổi.
*Về giáo dục: Số đông người cao tuổi học vấn thấp, tỷ lệ người cao tuổi
mù chữ cao gấp 3 lần tỷ lệ mù chữ chung của dân số, đặc biệt ở nông thôn. Vì
vậy với thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, vì trình độ học vấn thấp người
cao tuổi không tiếp cận được, bị gạt ra ngoài.
*Môi trường tự nhiên: Môi trường sống liên quan trực tiếp hay gián tiếp
tới sức khoẻ. Môi trường tự nhiên như thời tiết, khí hậu, không khí, nước, vi
khuẩn, bụi, bức xạ và xã hội. Vấn đề đô thị hoá, điều kiện vệ sinh, tâm lý

chi phí thấp nhất .
Để nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc và nâng cao sức khoẻ
cho người dân trong giai đoạn hiện nay nhà nước ta đã đưa ra nhiều giải pháp
để củng cố nõng cao chất lượng y tế của tuyến cơ sở. Cho đến nay tỉnh Bắc
Giang thực hiện Quyết định số 225/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án
nâng cấp bệnh viện (BV) huyện và BV đa khoa khu vực và Quyết định số
47/2008/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp
BV đa khoa huyện và BV đa khoa khu vực liên huyện sử dụng vốn trái phiếu
Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008 – 2010, đã nâng
9
cấp 09 BV tuyến huyện và BV đa khoa khu vực Lục Ngạn. Thực hiện Chỉ thị
06-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương về việc củng cố và hoàn thiện
mạng lưới y tế cơ sở và Quyết định số 370/2002/QĐ-BYT về việc ban hành
“Chuẩn Quốc gia về y tế giai đoạn 2001-2010” đến nay số xã đạt Chuẩn Quốc
gia về y tế xã là 219/230 xã (95,22%). Thực hiện Thông tư số11/2005/TTLT-
BYT-BNV, Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ
quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân QL nhà nước về y tế địa phương:
- Phòng Y tế thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn QL nhà nước về y tế
trên địa bàn huyện theo hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; tham mưu
cho Chủ tịch Uỷ ban nhân cấp huyện chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác vệ
sinh phòng bệnh, vệ sinh môi trường; quản lý Trạm Y tế xã (TYTX), phường,
thị trấn và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn khác theo sự uỷ quyền của
Sở Y tế.
- Các BV đa khoa khu vực và các BV đa khoa huyện (kể cả các Phòng
khám đa khoa khu vực) thành lập theo quy hoạch mạng lưới khám, chữa bệnh
của tỉnh, thành phố. Là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế, thành
phố có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân trong huyện, quận
trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. BV huyện có chức năng nhiệm
vụ được quy định tại Quy chế BV [4].
- Trạm Y tế xã là y tế cơ sở, đơn vị kỹ thuật đầu tiên tiếp xúc với người

với bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Chỉ số BMI bình
thường: 18,5 - 24,99 Từ 25 trở lên là thừa cân, khi BMI ≥ 30 thì được coi là
béo phì, người béo phì có nguy cơ bị THA cao hơn 5,6 lần người không béo
phì [8], [32], [82]. Nghiên cứu về dịch tễ học THA của quần thể người trưởng
thành ở thành phố Maracaibo - Venejuela thấy rằng người có BMI > 25 thì tỷ
lệ THA gấp 2 lần người có BMI < 25 (47,6% so với 24,2%) [69]. Theo một số
nghiên cứu trong nước của Trần Đỡnh Toỏn và cộng sự. [57], [58], khi BMI
11
từ 21,5 - 22,9 trở lên, tỷ lệ THA bắt đầu tăng cao hơn tỷ lệ chung trong cùng
quần thể. Qua nghiên cứu 1.437 nông dân ở xã Liên Minh, xã Định Công
huyện Thanh Trì - Hà Nội và 101 cán bộ viên chức đang được theo dõi ĐT
ngoại trú bệnh THA tại Ban bảo vệ sức khoẻ thành phố Hà Nội cho thấy: Với
người THA là cán bộ viên chức chỉ số khối cơ thể cao hơn hẳn NMTHA là
nông dân 11,7 % luôn tìm thấy sự phối hợp nhiều YTNC [39], [38], [70].
- Tỷ lệ vũng bụng/vũng mụng (Waist-hip ratio: viết tắt WHR): Tỷ lệ
vũng bụng/vũng mụng tăng là một trong những nguy cơ của bệnh mạch vành
nói chung và THA nói riêng. Khi phân loại theo khuyến cáo của JNC-V về
chẩn đoán béo phì (WHR) ở nam > 0,95 và nữ > 0,85 thỡ cú 42 nam (17%) và
131 nữ (68%), không có giá trị trung bình của HATT và HATTr trong hai
nhóm bệnh béo bệu này. Tuy nhiên khi phân tích phân tầng WHR ra 3 nhóm
(WHR < 0,85; 0,85- 0,94, và > 0,95), thấy có mối liên quan giữa WHR với
THA có ý nghĩa thống kê [77].
*Tiền sử gia đình NMTHA: Tiền sử gia đình, nhất là trực hệ (bố, mẹ, anh
chị em ruột), có người lớn bị THA là một trong các nguy cơ mạnh nhất làm
cho một đối tượng có thể bị THA trong tương lai
*Tuổi và giới: Tất cả chúng ta đều biết rằng người lớn tuổi có nguy cơ
mắc bệnh và tử vong do những bệnh có liên quan đến THA cao hơn những
người trẻ tuổi. Mặc dù THA tâm trương giảm nhẹ dần khi vượt qua độ tuổi 65
- 70, HA tâm thu lại tiếp tục tăng so với tuổi đời.
1.2. Một số mô hình chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng

- Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo NVYTTB tại huyện Đồng Hỷ
(Thỏi Nguyờn) theo cơ chế xã hội hoá. Sau thời gian 1 năm hoạt động đã đào
tạo được một đội ngũ NVYTTB đáng kể và đáng chú ý ở đây là đào tạo theo
13
hướng xã hội hoá. Số NVYTTB này đang hoạt động tích cực và góp phần
quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân [12], [22].
- Đàm Khải Hoàn và cộng sự với mô hình “giỏo viờn cắm bản” tham gia
truyền thông giáo dục sức khoẻ cho người dân ở các bản của huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên [23]. Sau một năm hoạt động kết quả có sự thay đổi rõ rệt
về kiến thức, thái độ trong chăm sóc sức khoẻ, song về thực hành sự thay đổi
cũn ớt, chưa đáng kể.
- Mô hình nghiên cứu của Dương Minh Thu và cộng sự.(2005) tại thành
phố Thỏi Nguyờn đó huy động được các câu lạc bộ người cao tuổi vào truyền
thông phòng bệnh (TBMMN). Mô hình này rất phù hợp với điều kiện hiện
nay vỡ đó dựa trên vào chính quyền và hội người cao tuổi của phường, cơ
quan chuyên môn có vai trò tư vấn. Ưu điểm của mô hình là đáp ứng được
nhu cầu thông tin về cách phòng bệnh cho người cao tuổi. Do hoạt động
truyền thông được lồng ghép trong các chương trình sinh hoạt thường kỳ của
Hội nờn ớt tốn kém về thời gian và kinh phí. Hoạt động truyền thông đã mang
lại sự hiểu biết về cách phòng bệnh cho NMTHA. Mô hình đã được cộng đồng
cấp nhận. Sau thời gian tiến hành các hoạt động truyền thông hành vi của về
phòng bệnh đã tăng hơn trước rõ rệt [53]
1.2.2. Các mô hình quản lý và điều trị THA tại cơ sở y tế.
1.2.2.1. Mô hình điều trị bằng hình thức khám bệnh kê đơn thuốc
Người bệnh thấy có biến chứng nhẹ của THA hoặc đi khám bệnh, kiểm
tra sức khoẻ cơ sở y tế phát hiện mắc THA đã kê đơn cho người bệnh được
phát thuốc BHYT hoặc tự mua và dùng thuốc tại nhà. Đây là hình thức khám
chữa bệnh được tổ chức ở tất cả các phòng khám của các cơ sở khám chữa
bệnh công lập và tư nhân ở nước ta theo Quy chế bệnh viện.
Người bệnh không được theo dõi cho nên khi có dấu hiệu của tai biến

15
khám sức khoẻ định kỳ hàng năm, những NMTHA được lập hồ sơ để quản lý,
theo dõi, phát thuốc tự uống ở nhà dưới sự giám sát và tái khám hàng tháng
theo hẹn của Ban bảo vệ và chăm sức sức khoẻ của tỉnh Bắc Giang. Mô hình
này được thực hiện và tổng kết đánh giá năm 2006 với kết quả là: Tỷ lệ mắc
THA là 371/727 người (51%), trong đó dưới 60 tuổi là 8,8%, từ 60-70 tuổi là
14,7%, trên 70 tuổi là 27,5% [68].
Đây là mô hình NMTHA được quản lý tại Ban bảo vệ sức khoẻ thường
được kiểm soát thường xuyên, nhưng chỉ có cán bộ lãnh đạo của tỉnh trong
diện được quản lý và những đối tượng này lại không được theo dõi thường
xuyên của y tế cơ sở, cũng trong diện này những người về hưu ở các huyện
thì lại tham gia vào mô hình quản lý của BV huyện.
1.2.2.4. Mô hình QL và điều trị ngoại trú bệnh THA tại Bệnh viện Bạch Mai.
*Phương pháp QL: Khám bệnh và làm hồ sơ quản lý: Những NMTHA
đủ tiêu chuẩn nghiên cứu được giải thớch rừ về nội dung nghiên cứu: làm hồ
sơ quản lý, theo dõi và ĐT có kiểm soát bao gồm các thủ tục hành chính, hỏi
bệnh, khám bệnh, làm các xét nghiệm thăm dò theo WHO 2003, theo dõi
đánh giá kết quả ĐT lần khám đầu và các lần tái khám.
Phương tiện QL: Bệnh án theo dõi các lần khám bệnh, các diễn biến của
bệnh cũng như các tác dụng phụ không mong muốn trong quá trình ĐT. Sổ
theo dõi diễn biến của bệnh tại nhà (do bệnh nhân tự theo dõi) và các lần tái
khám. Sổ hẹn NMTHA để theo dõi thời gian tái khám để thông báo cho
NMTHA đến khám lại, đồng thời cũng biết được lý do NMTHA không đến
khám hoặc tái khám không đúng hẹn và điện thoại để liên lạc với NMTHA và
ngược lại
Phương pháp theo dõi: Mỗi bệnh nhân có một bộ hồ sơ nghiên cứu riêng
được thiết kế từ trước.
16
Phương pháp ĐT: Theo khuyến cáo của WHO-2003
Thuốc sử dụng cỏc nhúm thuốc theo hướng dẫn của WHO – 2003 [59]

Mô hình được quản lý ở BV bạch mai là tuyến trung ương rất có điều
kiện tốt, nhưng có 26,6% NMTHA chưa quản lý tốt do NMTHA chưa nhận
thức tốt về bệnh. Nhiều NMTHA khi dùng thuốc thấy có dấu hiệu HA bình
thường, nghĩ là bệnh đã khỏi và tự ý bỏ ĐT, không tái khám hoặc chỉ ĐT khi
thấy khó chịu, phần lớn các bệnh nhân này trước đây chưa được quản lý và
ĐT ở một cơ sở địa phương. Còn lại NMTHA khác không tiếp tục tham gia
ĐT với lý do là ĐT ở nơi khác, chuyển vùng sinh sống, hoặc sống ở xa không
có điều kiện duy trì thực hiện quản lý theo mô hình này.
1.2.2.5. Mô hình QL và điều trị bệnh THA ở BV đa khoa tỉnh Bắc Giang [65].
Đây là mô hình khi NMTHA đến BV đa khoa tỉnh Bắc Giang được làm
bệnh án ĐT ngoại trú, theo dõi các lần khám bệnh, các diễn biến của bệnh
cũng như các tác dụng phụ không mong muốn của bệnh trong quá trình ĐT.
Chế độ cấp phát thuốc: Bệnh nhân có thẻ bảo hiểm được cấp thuốc theo
danh mục của thuốc bảo hiểm y tế (BHYT). Bệnh nhân không có thẻ BHYT
được cung cấp thuốc ở một địa điểm cố định thuận lợi với giá cả phù hợp.
Cách thức tiến hành: Những bệnh nhân đến khám ĐT ngoại trú bệnh
THA được hỏi bệnh và khám bệnh làm các xét nghiệm cận lâm sàng theo dõi
đánh giá kết quả lần đầu và các lần tái khám. Phương pháp đo HA theo Joint
National Committee (JNC) VI. Phương pháp theo dõi:
Phương pháp quản lý: Mỗi bệnh nhân có 1 bộ hồ sơ bệnh án và một
quyển sổ theo dõi HA tại nhà. Chỉ số HA và dấu hiệu đi kèm theo hàng ngày
tại nhà và số lần khám. Hẹn ngày tái khám (tùy theo từng nhóm bệnh). Gọi
điện thoại nếu như bệnh nhân chưa đến khám đúng ngày, nếu bệnh nhân
18
không có điện thoại sẽ được gửi giấy báo đến tận nhà nhắc bệnh nhân đến
khám lại.
Kết hợp chặt chẽ giữa thày thuốc với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân
để tăng hiệu quả ĐT: Cung cấp các thông tin về bệnh nhân hàng tháng, hàng
năm cho bệnh nhân cũng như người nhà bệnh nhân; Hướng dẫn cho người
nhà bệnh nhân và bệnh nhân cách uống thuốc và những tác dụng phụ của

NMTHA được QL tại 10 huyện, thành phố của tỉnh Bắc Giang.
Nội dung của mô hình nghiên cứu: Đây là mô hình QL và ĐT NMTHA
thường xuyên, liên tục và lâu dài tại BV huyện ở Bắc Giang với nội dung sau:
Mục tiêu: Người bệnh được QL và kiểm soát tình trạng bệnh THA
thường xuyên liên tục và lâu dài để phòng, chống các tai biến và tử vong do
bệnh THA gây nên, đồng thời duy trì HAMT ổn định.
Bước 1: Tất cả NMTHA điều phải đưa vào nằm ĐT nội trú tại khoa Nội
của BV huyện để thực hiện một số công việc trong thời gian ĐT nếu NMTHA
không có biến chứng nặng hoặc đang trong tình trạng có cơn THA (THA cấp
cứu, THA khẩn cấp) và hướng dẫn NMTHA biết đo, cách sử dụng thuốc, theo
dõi diễn biến của bệnh THA và điều chỉnh lối sống.
Bước 2: Là bước tiếp theo sau khi NMTHA đã được ĐT chuyển sang
bước quản lý và ĐT ngoại trú và được làm hồ sơ theo dõi tại nhà.
Mô hình này nó đó khắc phục được những bất cập: NMTHA được ĐT
nội trú sau đó chuyển sang bước II là lập hồ sơ QL và ĐT ngoại trú có kiểm
soát, hàng tháng đến khám lại. NMTHA được quản lý ngay trên địa phương
không phải đi xa đỡ phiền hà từ đó tỷ lệ bỏ cuộc giảm xuống là 6,85%, còn tỷ
lệ bỏ cuộc ở BV đa khoa tỉnh là 18,57%. Chi phí cho một người bệnh thấp
(1110086 ± 398259 đồng), chi phí ở BV đa khoa tỉnh Bắc Giang là 1626495 ±
20
475784 đồng, bỏ được YTNC cao hơn (42,50%), BV đa khoa tỉnh là 29,41%
p<0,05. Nhưng kết quả đạt HAMT của BV huyện (55,88%), BV đa khoa tỉnh
(56,14%) p > 0,05.
Trên thế giới và Việt Nam hiện nay đang tồn tại hai mô hình quản lý và
ĐT bệnh THA chủ yếu: Một là mô hình được thực hiện tại cộng đồng,
NMTHA tự đến để được chăm sóc, tư vấn tại cộng đồng. Hai là mô hình được
thực hiện tại các cơ sở là BV, NMTHA tự đến để được QL và ĐT tại các BV
huyện từ địa phương đến trung ương. Trong khi đó NMTHA đòi hỏi cần phải
quản lý và ĐT liên tục, thường xuyên, vì vậy phải có mô hình quản lý và ĐT
phối hợp của các BV và cộng đồng đó là mô hình quản lý bệnh THA tại tuyến

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang để đánh giá thực trạng công tác QL & ĐT
bệnh THA của 02 huyện tỉnh Bắc Giang.
- Nghiên cứu can thiệp (CT) trước sau có đối chứng.
- Nghiên cứu kết hợp định lượng với định tính.
2.4.2. Phương pháp chọn mẫu
2.4.2.1. Chọn mẫu cho phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
*Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả:
; n là cỡ mẫu nghiên cứu của 01 huyện
n là cỡ mẫu tối thiểu cho một huyện, Z(1-α/2) với độ tin cậy 95% ta
có Z
2
(1- α/2)

= 1,96; p=0,135 là tỷ lệ NMTHA trong cộng đồng đã được ĐT,
theo kết quả điều tra của Trần Đỗ Trinh [61], d = 0,04. Thay vào công thức ta
Có ; Hai huyện = 280x2=560
23
Để tăng tính đại diện chỳng tôi lấy số NMTHA vừa mới được điều tra
2009 là 639 NMTHA trong đó của huyện Tõn Yờn (346) và Yên Dũng (293).
- Kỹ thuật chọn mẫu.
+ Chọn chủ đích huyện Yên Dũng và Tõn Yờn vào nghiên cứu. Hai
huyện này có điều kiện kinh tế văn hoá xã hội và hệ thống y tế tương đương
nhau [13].
+ Chọn xã: Mỗi huyện chọn chủ đích 2 xã với tiêu chí có những đặc
điểm về nhân khẩu học, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế giống nhau và là xã
miền núi đã được công nhận “Chuẩn Quốc gia về y tế”. Cụ thể: Huyện Yên
Dũng chọn xó Xuõn Phỳ và Cảnh Thụy; huyện Tõn Yên chọn xã Ngọc Châu
và Hợp Đức [47].
+ Chọn đối tượng nghiên cứu: Chọn toàn bộ số NMTHA đã phát hiện ra
ở hai huyện vào nghiên cứu, tổng số là 639 NMTHA.

2.4.3. Nội dung can thiệp
2.4.3.1. Thiết kết nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng
Sơ đồ 2.1 Thiết kế nghiên cứu can thiệp
2.4.3.2. Nội dung can thiệp cộng đồng tại xó Xuõn Phỳ và xã Cảnh Thuỵ
1) Tên mô hình dự kiến xây dựng: Mô hình QL và ĐT bệnh THA tại
tuyến y tế cơ sở.
25
XÃ XUÂN PHÚ VÀ
XÃ CẢNH THỤY
(thu thập số liêu
trước CT)
XÃ NGỌC CHÂU
VÀXÃ HỢP ĐỨC
(thu thập số liêu
trước CT)
XÃ XUÂN PHÚ VÀ
XÃ CẢNH THỤY
(thu thập số liệu sau
CT)
XÃ NGỌC CHÂU
VÀ XÃ HỢP ĐỨC
(thu thập số liêu sau
CT )
THỰC HIỆN MÔ HÌNH QL&ĐT
CŨ (Ở TỈNH BẮC GIANG)
THỰC HIỆN MÔ HÌNH QL&ĐT
CỦA ĐỀ TÀI
SO
SÁNH
SO SÁNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status