MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ 4
II.TỔNG QUAN 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BỆNH GLÔCÔM 5
1.1.1. Bệnh glôcôm và nguyên nhân gây bệnh 5
1.1.2. Bệnh học và cách phát hiện, điều trị glôcôm 6
1.2. TÌNH HÌNH BỆNH GLÔCÔM VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG MÙ LÒA
DO BỆNH GLÔCÔM Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 9
1.2.1. Trên thế giới 9
1.2.2. Ở Việt Nam 9
1.3. CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MÙ LÒA (PCML) HIỆN NAY 10
1.1.3. Trên thế giới 10
1.3.2. Ở Việt Nam 11
III.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 12
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 12
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu 12
3.1.3. Thời gian nghiên cứu từ năm 2007 đến 2011 12
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu 12
3.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP KỸ THUẬT 14
3.3.1. Khám sàng lọc người bệnh trong nghiên cứu mô tả 14
3.3.2. Các bước khám sau can thiệp 15
3.4. CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP 16
3.4.1. Xây dựng mô hình hệ thống quản lý người bệnh glôcôm (Dixpanxe
glôcôm) 16
3.4.2. Hoàn thiện các tiêu chuẩn chẩn đoán 17
3.4.3. Xây dựng nội dung đào tạo và tổ chức tập huấn bổ xung chuyên đề
glôcôm cho cán bộ y tế của mạng lưới. Tổ chức tập huấn tại trạm y tế các xã
tham gia đề tài về những vấn đề có liên quan đến glôcôm, huấn luyện cho
1
2
V.BÀN LUẬN 31
5.1. Thực trạng bệnh Glôcôm và tình hình chăm sóc mắt ở người bệnh glôcôm
trong số 12.000 đối tượng ở 2 tỉnh được khám qua sàng lọc, có một số đặc điểm
sau: 31
4.1.1. Đặc điểm các người bệnh glôcôm được phát hiện tại địa phương 32
4.1.2. Kiến thức - thái độ - thực hành của người bệnh glôcôm 33
4.2. Cơ sở y tế và nhân viên y tế 34
4.2.1. Trang thiết bị y tế 34
4.2.2. Đặc điểm về nhân lực 34
4.3. Xây dựng mô hình trong quản lý glôcôm tại tuyến y tế từ cơ sở đến trung ương
- hiệu quả của can thiệp 34
4.3.1. Xây dựng và hoạt động của mô hình can thiệp 34
4.3.2. Hiệu quả của biện pháp can thiệp 35
VI.KẾT LUẬN 36
KIẾN NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
3
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Glôcôm là một bệnh nguy hiểm thường gặp và có ảnh hưởng đến sức khỏe cộng
đồng, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân gây mù lòa ở hầu hết các nước trên thế giới.
Theo OMS tỷ lệ mù lòa do glôcôm gây ra chiếm 10% [133]. Theo dự báo của các nhà
nghiên cứu thì đến năm 2020 sẽ có tới 80 triệu người mắc glôcôm - chiếm tỷ lệ 2,86%
dân số trên 40 tuổi. Có tới 47% số người bị glôcôm là ở châu Á. Riêng các nước ở
Đông Nam Á năm 2010 có khoảng 4,2 triệu bị glôcôm, đến năm 2020 con số này sẽ
tăng lên khoảng 6 triệu.Ở Việt Nam qua điều tra của RAAB (2007) tỷ lệ bị mù 2 mắt
do gglôcôm ở người có độ tuổi > 50 chiếm 6,5%, đứng thứ 2 trong các nguyên nhân
gây mù [6], [7].
Glôcôm nguy hiểm ở chỗ gây ra tổn thương chức năng và thực thể không hồi
trên cơ sở sinh lý bệnh học. Có một số tác giả, dựa trên cơ sở bệnh căn thì chia
glôcôm ra glôcôm nguyên phát và glôcôm thứ phát.
1.1.1.1. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây glôcôm góc đóng
Cơ chế gây glôcôm góc đóng là do hiện tượng tắc nghẽn cơ học ở đồng tử và
góc tiền phòng, bán kính, độ cong giác mạc và chiều dài trục nhãn cầu trên những
người bị glôcôm góc đóng nhỏ hơn đáng kể so với người bình thường.
Có thể ước lượng độ sâu tiền phòng bằng nghiệm pháp Van-Herrick, đây là một
thao tác đơn giản, dễ làm và rất có hiệu quả trong sơ bộ xác định nguy cơ glôcôm góc
đóng, cần được phổ biến tại các cơ sở nhãn khoa[14], [21], [23], [25], [40], [89].
- Do di truyền: nhiều công trình nghiên cứu đã công bố một tỷ lệ cao các bệnh
glôcôm do di truyền trội bởi hai hoặc nhiều gen khác nhau. Tại Việt Nam(1998) tỷ lệ
phát hiện sớm glôcôm trên những người ruột thịt của người mắc glôcôm góc đóng là
38,09% [18], [27], [24], [26].
- Theo giới tính, tuổi: năm 2000 Dandonax và cộng sự cho rằng tỷ lệ glôcôm
góc đóng ở nữ cao hơn đáng kể so với nam và tỷ lệ này tăng lên theo độ tuổi.
1.1.1.2. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây glôcôm góc mở
* Nhãn áp cao:
Những người có NA > 21 mmHg (goldmann) đều có nguy cơ bị glôcôm góc
mở cao gấp 7,6 lần so với người có NA < 21 mmHg. Sự dao động các nhãn áp trong
ngày cũng là một yếu tố quan trọng, nếu điều trị làm cho NA dao động giảm được
1mmHg thì làm giảm được 30% tổn thương tiến triển của thị trường.
5
* Lịch sử gia đình và yếu tố di truyền:
Bệnh có tính chất di truyền. Nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 3,69 lần ở những gia
đình có anh chị em ruột bị glôcôm góc mở và cao gấp 2,1 lần ở những người có bố mẹ
bị bệnh [73], [97], [112].
* Chiều dày giác mạc trung tâm
Carolyn Y (2004) cho rằng có sự thay đổi NA theo chiều dày của giác mạc
trung tâm. Ở những người có giác mạc mỏng thì trị số NA đo được thường thấp hơn trị
số NA thực của mắt, do đó glôcôm dễ bị bỏ qua, đặc biệt là khi khám sàng lọc
glôcôm góc đóng cấp tính, glôcôm góc đóng giãn cách (bán cấp), glôcôm góc đóng
mãn tính.
1.1.2.2. Bệnh glôcôm góc mở nguyên phát
6
Chẩn đoán glôcôm được hội tụ bởi ba yếu tố là: NA cao trên giới hạn bình
thường, soi góc mở, tổn hại đặc trưng trên đĩa thị và thị trường.
* Các biểu hiện lâm sàng
- Tiền sử bản thân: các bệnh có liên quan như dị ứng, tim mạch, đái tháo đường,
tiền sử dùng steroid kéo dài. Tiền sử tại mắt: phẫu thuật nội nhãn và chấn thương,
phẫu thuật khúc xạ can thiệp vào giác mạc trước đó. Tiền sử gia đình cũng cần được
khai thác.
- Biểu hiện trên lâm sàng:
+ Nhãn áp: NA thường được đo trên lâm sàng bởi hai NA kế cùng theo một
nguyên lý đè dẹt là Maclakov và Goldmann với các trị số trung bình tương ứng trên
quần thể lần lượt là 19,7 ± 2,5 mmHg và 15,4 ± 3,35 m,Hg. NA trung bình ở người
Việt Nam là khi > 25 mmHg là cao, dao động NA không quá 5 mmHg [13].
Có nhiều yếu tố làm thay đổi NA như NA kế, tư thế khi đo, sự bất thường của
giác mạc, độ dày các giác mạc và các phẫu thuật can thiệp trên giác mạc [1], [7]. Mắt
có NA cao > 25 mmHg (Maclakov) và > 21 mmHg (Goldmann) có nguy cơ cao gấp
6 lần phát triển thành glôcôm góc mở nguyên phát so với mắt bình thường.
+ Góc TP: Phân loại thường dùng trên lâm sàng là phân loại Shaffer [102].
+ Đánh giá tổn hại thị thần kinh trên lâm sàng
Đánh giá tổng thể thị thần kinh (TTK) trong glôcôm cần chú trọng đến 4 nhóm
dấu hiệu sau: Tổn hại viền thần kinh - lõm đĩa; Dấu hiệu mạch máu; Dấu hiệu xuất
huyết đĩa thị; Teo quanh đĩa thị.
* Các dấu hiệu cận lâm sàng
- Thị trường: Các loại tổn thương và giai đoạn tổn thương đặc trưng của glôcôm
trên thị trường bao gồm: Đại đa số khu trú; Tổn thương đường ngang; Bắt đầu từ phía
mũi;Rất hay gặp ở vùng 30
o
pháp phát hiện sớm glôcôm ở những người có nguy cơ cao là một việc dễ làm, dễ phổ
biến và phát hiện bệnh sớm cao [23].
* Các thử nghiệm để phát hiện sớm glôcôm [13]
- Bao gồm các thử nghiệm: làm giãn đồng, thử nghiệm uống nước, Thử nghiệm buồng
tối, thử nghiệm cúi đầu.
- Phát hiện sớm glôcôm bằng thiết bị công nghệ cao [88], [106], [135]. Sử dụng các
phương tiện hiện đại như: máy đo thị trường kế tự động Humphrey, máy đo chiều dày
giác mạc, máy chụp cắt lớp quang học (OCT), máy siêu âm sinh hiển vi (UBM).
1.1.2.4. Điều trị glôcôm
Mục đích của điều trị glôcôm là bảo tồn được chức năng thị giác cho người
bệnh, kiểm soát được các yếu tố nguy cơ. Phương pháp điều trị được lựa chọn sao cho
ít gây nguy cơ nhất, ít tác dụng phụ nhất và đảm bảo chất lượng cuộc sống của người
bệnh.
8
Tình trạng người bệnh glôcôm khi phát hiện
Giai đoạn bệnh Mức nhãn áp khởi phát Các yếu tố nguy cơ khác
Thiết lập NA đích
Lựa chọn phương pháp đầu tiên
Đạt được mức NA đích
Có Không
Tiếp tục điều trị Đổi phương pháp điều trị
Tổn thương thêm của đầu T/TT
Thiết lập lại mức NA đích
Không
Có
Sơ đồ 1.1: Hướng điều trị chung
1.2. TÌNH HÌNH BỆNH GLÔCÔM VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG MÙ LÒA
DO BỆNH GLÔCÔM Ở THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Trên thế giới
Theo WHO mù lòa là một vấn đề trọng yếu về sức khỏe mà ít được chú ý trong
1.3. CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG CHỐNG MÙ LÒA (PCML) HIỆN NAY
1.1.3. Trên thế giới
Theo WHO thì có đến 80% số người mù là có thể đề phòng được. Vì vậy theo
như sáng kiến toàn cầu vision 2020 của WHO cần phải có những hành động tuyên
truyền rộng rãi trong nhân dân và nâng cao hiểu biết cho người dân về bệnh mắt trong
cộng đồng.
- Ở các nước phát triển việc phát hiện và điều trị sớm glôcôm chủ yếu dựa vào
đo NA cho những người có độ tuổi nguy cơ cao hoặc có lõm đĩa thị giác khi họ đến
khám toàn thân hay mắt.
Hệ thống quản lý phối hợp này hoạt động dựa trên sự phối hợp của các cán bộ
không phải là bác sĩ (điều dưỡng và y tế chuyên khoa mắt) với các bác sĩ chuyên khoa
glôcôm đang làm việc tại các trung tâm nhãn khoa thuộc các bệnh viện. Các cán bộ ở
tuyến cơ sở nếu phát hiện bệnh có biến chuyển thì ngay lập tức phải chuyển bệnh nhân
về khám khẳng định tại trung tâm mắt. Ở các nước đang phát triển nếu quản lý người
bệnh glôcôm chủ yếu dựa trên sự tự giác của người bệnh.
Năm 1932, nhà nhãn khoa Philalov, người đầu tiên đề xuất ý tưởng và thành lập
khoa mắt ở trường Đại học Odexa, một bộ phận quản lý người bệnh glôcôm
(Dixpanxe) nhằm mục đích theo dõi, điều trị và chăm sóc tốt hơn cho người bệnh
glôcôm.
Hệ thống Dixpnaxe ở Liên xô cũ gồm 3 tuyến [136], [137].
- Tuyến 1: phòng khám mắt của phòng khám đa khoa khu vực. Ở đây lưu giữ
phiếu theo dõi người bệnh glôcôm và những đối tượng nghi ngờ bị glôcôm.
- Tuyến 2: phòng glôcôm các bệnh viện thành phố, tỉnh, vùng. Nhiệm vụ của
tuyến này là phát hiện, chẩn đoán sớm người bệnh glôcôm. Chỉ đạo, hỗ trợ chuyên
môn cho tuyến 1, hội chẩn các trường hợp khó ở tuyến 1 gửi lên, quyết định cho người
bệnh điều trị nội trú.
- Tuyến 3: khoa glôcôm của viện nghiên cứu các bệnh về mắt. Có nhiệm vụ
nghiên cứu, khám, điều trị chuyên sâu với chất lượng cao cho người bị glôcôm.
10
Ngoài ra Dixpanxe còn có nhiệm vụ khám, phát hiện bệnh glôcôm ở giai
trong công tác phòng chống mù lòa.
- Năm 2007 qua điều tra của RAAB cho thấy tỷ lệ mù lòa ở Việt Nam đã giảm
xuống từ 4,7% (2002) xuống 3,1% (2007) ở người có độ tuổi > 50.
1.3.2.2. Công tác phòng chống mù lòa
- Ý tưởng thành lập hệ thống quản lý bệnh glôcôm đã được giáo sư Nguyễn
Trọng Nhân đề xuất từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước [13] công tác theo dõi
11
Dixpanxe glôcôm đã bắt đầu được thực hiện tại khoa glôcôm của Viện Mắt Trung
ương. Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan cho nên công tác này chưa
được củng cố, hoàn thiện và nhân rộng ra các địa bàn khác.
Hiện nay các hoạt động can thiệp phòng chống mù lòa do glôcôm được lồng
ghép trong kế hoạch quốc gia PCML và chăm sóc mắt đã được Bộ trưởng Bộ Y tế phê
duyệt chính thức ngày 9/11/2009. Một trong những mục tiêu của kế hoạch này là làm
giảm mù lòa do glôcôm thông qua việc thiết lập hệ thống bền bền vững nhằm phát
hiện sớm và điều trị đúng đắn cho người bệnh glôcôm.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
3.1.1.1. Đối tượng khám sàng lọc glôcôm
Gồm những người dân từ 35 tuổi trở lên đang sinh sống tại khu vực nghiên
cứu.
Loại trừ những đối tượng già yếu không đi lại được, những người không cùng
phối hợp để nghiên cứu (bệnh tâm thần, không nhớ rõ tình trạng bệnh của bản thân) và
những người từ chối không tham gia.
3.1.1.2. Những người bệnh và người có nguy cơ bị glôcôm trong khu vực nghiên cứu
được quản lý, theo dõi và truyền thông.
3.1.1.3. Đối tượng được cung cấp các dịch vụ chăm sóc mắt người bệnh glôcôm
gồm: - Cơ sở y tế cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt người bị glôcôm
- Nhân viên y tế cung cấp dịch vụ chăm sóc mắt người glôcôm.
3.1.2. Địa điểm nghiên cứu
(1-
α
/2)
: hệ số tin cậy ứng với độ tin cậy 95% (α = 0,05) thì Z
(1-
α
/2)
=1,96
Theo công thức trên, n được tính ra là 5500
Để tránh sai số, chúng tôi lấy trên 6000. Như vậy tổng số 2 tỉnh là 12.000. Trên
thực tế, số BN khám sàng lọc trên 12 xã của 2 tỉnh là 12.629 (Nam Định có 5920 và
Thái Bình có 6709 người).
* Cách chọn mẫu: theo hệ thống phân tầng.
- Chọn chủ đích: hai tỉnh Nam Định và Thái Bình.
- Chọn ngẫu nhiên ở mỗi tỉnh 2 huyện:
Nam Định: huyện Mỹ Lộc và Trực Ninh. Thái Bình: huyện Vũ Thư và Kiến
Xương.
- Chọn ngẫu nhiên ở mỗi huyện 3 xã
13
Nam Định Nam Định
Mỹ Lộc Trực Ninh Mỹ Lộc Trực Ninh
Mỹ Tân
Mỹ Thuận
Mỹ Thịnh
Liên Hải
Trực Đạo
Trực Mỹ
Mỹ Tân
Mỹ Thuận
Mỹ Thịnh
- p
2
)
2
n
1
= cỡ mẫu của nhóm đối chứng n
2
= cỡ mẫu của nhóm can thiệp
Mức độ tin cậy với α = 0,05, β = 0,05. Tra bảng Z
2
(
α
-
β
)
= 13,0
p
1
: tỷ lệ người bệnh glôcôm > 35 tuổi được quản lý ở nhóm chứng 25%
p
2
: tỷ lệ người bệnh glôcôm > 35 tuổi được quản lý ở nhóm can thiệp 25%
Theo công thức tính ra được: n
1
= n
2
= 91
Trên thực tế thì nhóm người bệnh glôcôm ở tỉnh được can thiệp là 244 người, 3 tỉnh
đối chứng là 208 người.
15
Tiến hành nghiên cứu can thiệp
Tỉnh được can thiệp
Nam Định
n = 244
Tỉnh đối chứng
Thái Bình
n = 208
Cộng đồng dân cư có
độ tuổi > 35
Cộng đồng dân cư có
độ tuổi > 35
Điều tra trước
can thiệp
Điều tra lần 1So sánh trước
can thiệp
Can thiệp Không can thiệp
Điều tra sau
can thiệp
Điều tra lần 2
So sánh hiệu quả
can thiệp
Sơ đồ 2.2. Chọn mẫu và tổ chức nghiên cứu can thiệp
3.4. CÁC GIẢI PHÁP CAN THIỆP
3.4.1. Xây dựng mô hình hệ thống quản lý người bệnh glôcôm (Dixpanxe
glôcôm).
Sơ đồ 2.4. Mô hình hệ thống quản lý người bệnh glôcôm
Nhiệm vụ của Dixpanxe glôcôm:
• Quản lý người bệnh glôcôm theo qui trình, có hệ thống điều trị toàn
diện, lâu dài, thường xuyên, định kỳ theo phác đồ thống nhất giữa các
3.5. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
3.5.1. Tình trạng mắc bệnh và kiến thức của người bệnh và những người có nguy cơ
cao theo các chỉ số sau:
- Tiến triển bệnh glôcôm: ổn định, tốt lên hay nặng thêm (thị lực, NA lõm đĩa
glôcôm, giai đoạn bệnh).
- Thay đổi về kiến thức - thái độ và hành vi của người bệnh tại các khu vực
nghiên cứu.
3.5.2. Hiệu quả hoạt động của các mạng lưới y tế chăm sóc mắt người bệnh glôcôm
qua các chỉ số sau:
- Tổ chức mạng lưới y tế có hoạt động không.
- Kế hoạch hoạt động - lịch báo cáo của mạng lưới.
- So sánh phiếu theo dõi người bệnh glôcôm được hoàn thiện như thế nào?
Để lượng giá hiệu quả trước và sau can thiệp và hiệu quả can thiệp được tính
theo công thức sau:
- CSHQ (CT) =
Chỉ số trước CT - Chỉ số sau CT
Chỉ số trước CT
x 100
- CSHQ (đc) =
Chỉ số lần 1 - Chỉ số lần 2
Chỉ số lần 1
x 100
- Hiệu quả can thiệp:
HQCT = CSHQ (CT) - CSHQ (đc)
3.6. CÁC BIỆN PHÁP KHỐNG CHẾ SAI SỐ
- Thống nhất các nội dung, phương pháp nghiên cứu cho các cơ sở tham gia
nghiên cứu.
- Các cán bộ nhân viên được tham gia nghiên cứu đều phải được tập huấn.
Tỷ lệ mắc bệnh golocom và nguy cơ bị glôcôm.
- Tỷ lệ người dân mắc bệnh glôcôm giữa 2 tỉnh như nhau: (1.82% & 2.15%)
- Tỷ lệ người dân có nguy cơ bị golocom giữa hai tỉnh cũng không có sự khác biệt
(11,15 và 11.60%) với p>0.05
4.1.1.3. Tình hình người glôcôm và có nghi ngờ đến khám xác định tại các khoa
chuyên mắt.
Tại Nam Định tỷ lệ người bị bệnh và có nguy cơ đi khám sàng lọc ở chuyên
khoa là 6,8%, thấp hơn Thái Bình là 10,9% (p<0.05).
4.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc đi khám của người dân ở hai tỉnh.
- Yếu tố về độ tuổi
Tại Nam Định người có độ tuổi tử 41 -70 đi khám chiếm tỷ lệ cao (8,1% ,
8,2%). Trong khi đó ở Thái Bình người có độ tuổi ≤ 40 tuổi đi khám đi khám chiếm tỷ
lệ cao nhất (31,7%).
- Yếu tố về học vấn
Tại Nam Định: các đối tượng có trình độ PTTH và ĐH/SĐN đi khám để xác
định bệnh có tỷ lệ cao hơn so với các nhóm khác.Tại Thái Bình: Trung cấp học nghề
và ĐH/SĐN có tỷ lệ đi khám để xác định một bệnh cao nhất. (33,3% - 75%).
- Yếu tố nghề nghiệp.
Tại Nam Định tỷ lệ giữa công nhân và nông dân giữa LLVT và trí thức cử đi
khám để xác định bệnh thấp và tương đương nhau: 6.1% và 5.9%) - (14% và 13.8%).
Tại Thái Bình: tỷ lệ đi khám bệnh ở công nhân và trí thức cao (13.3% và 37,5%) còn
nông dân thì thấp hơn.
19
So sánh giữa hai tỉnh, thì ở Thái Bình các đối tượng là nông dân, công nhân và trí
thức đi khám để xác định bệnh cao hơn so với Nam Định với p <0.05
- Yếu tố giữa BHYT với việc đi khám
Tại Nam Định người dân có BHYT có đi khám bệnh để xác định để xác định
bệnh cao hơn người không có BHYT (P<0.05). Tại Thái Bình: cũng tương tự như Nam
Định (22.7% với 7.8% p<0.05).Nhìn chung số người có BHYT ở Thái Bình có đi khám
bệnh để xác định bệnh cao hơn Nam Định với p <0.05
ở độ tuổi > 70 có tỷ lệ cao nhất là 51.6%. Trong khi đó tại Thái Bình cũng như ở Nam
Định đều là bệnh chiếm tỷ lệ cao ở hai nhóm tuổi là 55 - 70 và >70, nhưng ở nhóm
tuổi 55 - 70 chiếm tỷ lệ cao nhất 201.6% (trẻ hơn so với Nam Định)
20
Bảng 3.14. Phân bố người bị glôcôm theo hình thái glôcôm
Các hình thái
Nam Định (n=130) Thái Bình (n=161)
N % n %
Nguyên phát
Góc mở 33 25.4 44 27.3
Góc đóng 78 60.0 104 64.6
Thứ phát 18 13.8 10 1.9
Bệnh khác 1 0.8 3 1.9
Tổng 130 100 161 100
Ở cả 02 tỉnh đều có glôcôm góc đóng chiếm tỷ lệ cao nhất (60.8, 64.6%)
Không có sự khác biệt về tình trạng glôcôm (góc đóng và góc mở) giữa 2 tỉnh
với p > 0.05
Bảng 3.15: Phân bố theo các giai đoạn glôcôm
Giai đoạn bệnh
Nam Định Thái Bình
n % N %
Tiềm tràng 22 23.4 35 32.7
Sơ phát 13 13.8 25 23.4
Tiến triển 21 22.3 32 29.9
Trầm trọng 32 34.1 8 7.5
Gần mù + mù 6 6.4 7 6.5
Tổng 94 100 107 100
Tại Nam Định người bệnh ở giai đoạn trầm trọng chiếm tỷ lệ cao nhất: 34.1%.
Tại Thái Bình thì giai đoạn tiềm tàng chiếm tỷ lệ cao nhất 32.7%.
Các giai đoạn ở hai tỉnh có sự khác biệt nhau về p<0.05
Thực trạng về sự hiểu biết của người bệnh về bệnh glôcôm
Tỷ lệ số người bệnh có biết được các tuyến khám mắt đạt tỷ lệ cao nhất: Nam
Định là 91,3%, Thái Bình là 95,5%.ầNm Định có tỷ lệ người bệnh biết đến tuyến
huyện để khám mắt cao hơn so với Thái Bình (49,5% và 21,3%). Ngược lại tỷ lệ biết
đến tuyến khám mắt tỉnh ở Thái Bình cao hơn Nam Định (73,1% và 53,4%).
Bảng 3.20. Tỷ lệ người bệnh tự biết mình bị glôcôm
và biết qua nguồn thông tin
Biết có bệnh và nguồn
thông tin cung cấp
Nam Định (n = 103) Thái Bình (n = 112)
n % n %
Biết có bệnh glôcôm
Có biết 57 55,3 44 59,6
Không biết 46 44,7 65 40,4
Nguồn thông tin cung cấp
Thông tin đại chúng 7 11,3 13 11,6
Qua y tế 42 68,9 44 86,3
Qua truyền miệng 21 33,9 7 13,7
Hoàn cảnh phát hiện
Tự phát hiện 53 94,6 33 75,0
Khám bệnh khác 2 3,6 10 22,7
Khám sàng lọc 1 1,8 1 2,3
Tỷ lệ người có biết bệnh glôcôm ở 2 tỉnh gần như nhau: 55,3% và 59,6%.
Nguồn cung cấp thông tin qua y tế chiếm tỷ lệ cao nhất trong 3 nguồn.
Người dân tự phát hiện mình bị glôcôm chiếm tỷ lệ cao nhất.
Nhận biết của người dân về điều trị bệnh glôcôm
Tại Nam Định tỷ lệ người dân biết phương pháp đã được điều trị glôcôm chiếm
tỷ lệ 62,1%. Trong đó số người biết cách điều trị bằng phương pháp mổ chiếm tỷ lệ
cao nhất (91,2%). Sau đó là cách điều trị bằng laser 12%.
22
- Tại Thái Bình: bệnh viện tỉnh cũng là nơi người bệnh đến khám có tỷ lệ cao
nhất 86,3%. Bệnh viện huyện còn thấp(6,9%), tỷ lệ được chẩn đoán ở trạm TYT xã là
4,6% và thấp nhất ở bệnh viện Mắt TW (2,3%).
- Tỷ lệ người bệnh ở 2 tỉnh đến khám ban đầu ở trạm y tế xã còn quá ít, và
tương đương nhau (5,3% và 4,6%).
3.1.2.2. Cơ sở mà người bệnh đã được điều trị
Cơ sở đã điều trị của người bệnh
23
Sau khi được chẩn đoán glôcôm thì người bệnh điều trị chủ yếu ở các bệnh viện
tỉnh: Nam Định 66,7% và Thái Bình 90,1%. Riêng ở Nam Định: số bệnh nhân điều trị
tại bệnh viện trung ương và bệnh viện huyện cao hơn hẳn so với Thái Bình (TW:
18,3% và 7,6%, BV huyện : 10,7% và 2,3%). Ngoài ra ở Nam Định, người bệnh đã
đến các bệnh viện tư nhân để điều trị (4,3%) trong khi đó ở Thái Bình chưa có hình
thức này. Không có bệnh nhân nào điều trị tại TYT xã.
3.1.2.3. Đặc điểm về trang thiết bị
Trang thiết bị phục vụ cho phát hiện glôcôm
Việc phân phối các trang thiết bị để sử dụng trong việc phát hiện glôcôm ở 2
tỉnh là đồng đều. Kính soi góc tiền phòng chỉ có ở bệnh viện mắt Nam Định và bộ môn
Mắt trường đại học y Thái Bình. Máy thị trường đã xuống cấp nhiều, ít sử dụng. Ở cả
hai tỉnh đều không có phương tiện chẩn đoán hình ảnh
Trang thiết bị phục vụ cho điều trị glôcôm ở tuyến tỉnh
Trang thiết bị cho chuyên khoa mắt ở 2 tỉnh gần tương đương nhau: có hiển vi
phẫu thuật và bộ dụng cụ mổ vi phẫu.
3.1.2.4. Nhân lực của chuyên khoa
Số lượng
- Nam Định: tổng số cán bộ đang hoạt động trong lĩnh vực nhãn khoa ở 2 trung
tâm điều trị mắt cấp tỉnh (BV mắt và khoa mắt BVĐK) là 45. Trong đó có 25 điều
dưỡng viên; 3 y sĩ mắt; 18 bác sĩ. Riêng 2 huyện nghiên cứu là Trực Ninh và Mỹ Lộc
mỗi bệnh viện huyện có 1 bác sĩ, 1 điều dưỡng viên tham gia khám mắt.Tại tuyến y tế
cơ sở (TYT) có 34 y sĩ, 15 điều dưỡng và 97 cộng tác viên y tế trong đó mỗi TYT có 1
Điều
dưỡng
CK mắt 20 5 10 10 1 - - - - - -
Khác - - - - - 1 1 - 1 15 18
Y sĩ
CK mắt 3 - - - - - - - - - -
24
Khác - - - - - - - - - 34 32
Bác sỹ
CK ĐH
mắt
8 1 10 1 2 - - 2 1 - -
CK1 mắt 1 2 6 1 - 1 1 - - - -
CK2 mắt - - - 1 1 - - - - - -
Thạc sĩ 4 1 - 2 2 - - - - - -
Tiến sĩ - - - - 1 - - - - - -
Khác - - 1 - - - - - - 3 -
Tổng số 36 9 27 15 7 2 2 3 2 - 8
Về trình độ chuyên môn của cán bộ đang công tác ở các cơ sở y tế từ tuyến tỉnh đến y
tế cơ sở (TYT) không có sự khác biệt nhau rõ rệt.
Trình độ thực hành của các cán bộ
Bảng 3.31. Khả năng thực hiện các kỹ thuật trong chẩn đoán
bệnh Glôcôm ở hai tỉnh.
Các khả năng
Thực hiện
Chuyên khoa mắt trong tỉnh BVĐK Huyện 6 TYT xã
Nam Định Thái Bình
Nam
Định
Thái Bình
Ở cả hai tỉnh có máy thị trường kế và kính soi góc nhưng ít sử dụng. Trong khám
bệnh chỉ ước lượng độ sâu tiền phòng một cách đơn giản.
Các phương pháp được áp dụng để chẩn đoán bệnh glôcôm ở các tuyến
Ở cả hai tỉnh đều thực hiện được phẫu thuật cắt bè củng giác mạc và mổ phối
hợp điều trị glôcôm. Các phẫu thuật cắt cắt củng mscj sâu, phẫu thuật glôcôm áp thuốc
chống chuyển hóa, quang đông, lạnh đông thể mi…ở cả hai tỉnh chưa được áp dụng.
Số phẫu thuật viên có thể thực hiện phẫu thuậtglôcôm
Số lượng PTV Glôcôm ở TB nhiều hơn NĐ (10 và 7 PTV)
Một số đánh giá và kiến thức bệnh Glôcôm của cán bộ y tế cơ sở (xã ) (theo bảng điểm
đánh giá)
25