BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐINH VĂN THÀNH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
QUẢN LÝ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI TUYẾN Y TẾ CƠ SỞ
TỈNH BẮC GIANG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y KHOA Chuyên ngành : Vệ sinh xã hội học và Tổ chức y tế
Mã số : 62 72 01 64
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia.
Trung tâm học liệu Đại học Thái Nguyên.
Thư viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Đinh Văn Thành, Nguyên Văn Sơn, Nguyễn Tiến Dũng (2013), “Thực
trạng phát hiện, điều trị, quản lý tăng huyết áp tại tuyến y tế cơ sở tỉnh
Bắc Giang”, Tạp chí Y học Việt Nam, tháng 11- số đặc biệt/2013, tr. 18-
27.
Đinh Văn Thành, Nguyên Văn Sơn, Nguyễn Tiến Dũng (2013), “Kiến
thức, thái độ, thực hành về điều trị và quản lý tăng huyết áp tỉnh Bắc
Giang”, Tạp chí Y học Việt Nam, tháng 11- số đặc biệt/2013, tr. 47-56.
Đinh Văn Thành, Nguyên Văn Sơn, Nguyễn Tiến Dũng (2014), “Thực
trạng và hiệu quả mô hình cải thiện quản lý tăng huyết áp tại tỉnh Bắc
Giang”, Tạp chí Y học Việt Nam, 423 - số 1, tháng 10/2014 tr. 47-56.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe phổ biến cộng đồng có xu hướng
ngày càng tăng. Trên thế giới tỷ lệ tăng huyết áp khoảng 8-18% dân số.
Indonesia 6-15%, Hà Lan là 37%, Hoa Kỳ là 24%. Theo Tổ chức Y tế thế
giới, có tới 61% nước chưa có khuyến cáo về điều trị tăng huyết áp, 45%
2
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1. Đề tài luận án đã xác định được tỷ lệ người tăng huyết áp (THA) ≥
40 tuổi trong cộng đồng được quản lý (QL) rất thấp ( QL đúng 14,6 %) và xác
định được một số yếu tố liên quan đến công tác quản lý THA tại cộng đồng.
2. Xây dựng được mô hình “Phối hợp tuyến y tế cơ sở trong quản lý
tăng huyết áp” ở tỉnh Bắc Giang, là một tỉnh miền núi vùng Đông Bắc Bộ
chưa triển khai quản lý THA tại cộng đồng. Mô hình đã tổ chức huy động
được nguồn lực của địa phương, thu hút được sự tham gia của cộng đồng.
Mô hình có sự phối hợp chặt chẽ giữa TYT xã, NVYTTB và bệnh viện đa
khoa huyện để quản lý THA có hiệu quả. Mô hình đã giúp cho người dân
tiếp cận dễ dàng với dịch vụ y tế, được chủ động phát hiện, được QL tại
gia đình qua hệ thống tuyến y tế cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để giúp
cho việc thực hiện quản lý THA tại cộng đồng có hiệu quả và bền vững.
Hiệu quả là đã làm giảm hành vi nguy cơ THA, tăng tỷ lệ người THA
được QL và giảm được tỷ lệ biến chứng và tử vong do THA.
Đề tài luận án đã khám 2728/3006=90,8% người dân ≥ 40 tuổi. Xác
định tỷ lệ người dân ≥ 40 tuổi trong cộng đồng tăng huyết áp là
749/2728=27,5%, tỷ lệ người dân ≥ 40 tuổi người tăng huyết áp được quản
lý là 22,8%.
Đã mở được các lớp tập huấn nâng cao năng lực thực hiện mô hình
quản lý THA: giúp cho cán bộ y tế cơ sở, lãnh đạo cộng đồng về kỹ năng
quản lý huyết áp và truyền thông phòng chống THA. Đây là cơ sở quan trọng
để giúp cho việc thực hiện các giải pháp quản lý, chăm sóc sức khỏe cộng
đồng có hiệu quả và bền vững.
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Phần chính của luận án dài 115 trang, bao gồm các phần sau:
Ở Việt Nam đến nay, phần lớn người THA tập trung ĐT tại bệnh viện
(BV). Hoạt động quản lý THA tại cộng đồng đã được triển khai bằng
chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống THA nhưng còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động
điề u tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại cơ sở
còn chưa sâu rộng. Ngân sách đầu tư cho công tác quản lý THA cũng hạn
chế. Việc theo dõi, quản lý người THA chưa đạt mục tiêu, người THA
thường đến các cơ sở y tế khi đã biến chứng của THA, số người THA
được ĐT đúng đạt tỷ lệ thấp. Kết quả nghiên cứu Viên Văn Đoan và CS
(2005) cho thấy THA không ĐT hoặc ĐT không đầy đủ chiếm tới 70-75%
tổng số người THA. Theo Hoàng Văn Linh, công tác phòng chống THA ở
thị xã Bắc Kạn năm 2011 cũng chưa tốt: Nhân viên BV đã khám sàng lọc
được 193 người THA, trong số này đã được tư vấn là 71,5%, được hướng
dẫn ĐT và cấp phát thuốc đầy đủ 79,8%, đến khám lại sau một thời gian ĐT
đạt 52,3%. Trạm y tế (TYT) xã đã khám, phát hiện 160 người THA, tư vấn
trước ĐT đạt 68,9%, khám kiểm tra lại đạt 60,0%. Tỷ lệ được nhân viên y tế
thôn bản (NVYTTB) thăm khám lại tại nhà đạt 75%. Trịnh Thu Hoài cho
biết Chương trình THA được triển khai 8 xã phường của tỉnh Yên Bái, số
người THA được QL là 591 người, chiếm tỷ lệ 14,78%.
4
1.2. Một số mô hình quản lý tăng huyết áp
Nguyễn Văn Minh và cộng sự (2001) nghiên cứu kết quả ĐT bệnh
THA tại Khoa Nội I - Bệnh viện Quân Y 110 cho thấy: Người THA được
ĐT nội trú tại Khoa Nội, kết quả tỷ lệ người THA có HA về bình thường
là 70,1%. Nhưng sau khi xuất viện người bệnh không được theo dõi và sử
dụng thuốc.
Đinh Văn Thành và CS nghiên cứu điều trị THA nội trú tại các BV
đa khoa tỉnh Bắc Giang (2006) như sau: Người THA được vào nằm ĐT
nội trú tại BV, tỷ lệ năm 2003 là 1,14%; 2004 là 1,41%; 2005 là 1,7. Khi
2.1. Đối tƣợng
- Người
40 tuổi mắc THA nguyên phát được chẩn đoán THA theo
tiêu chuẩn của WHO và Bộ Y tế, THA khi HA tâm thu
140 mmHg
và/hoặc HA tâm trương
90 mmHg. Loại trừ trường hợp THA đang có thai.
- Nhân viên y tế BV huyện, TYT xã và NVYTTB.
- Lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) xã; UBND huyên, Sở Y tế.
2.2. Thời gian: 12/2012 đến 04/2014
2.3. Địa điểm: Xã Liên Sơn huyện Tân Yên (can thiệp), xã Lãng Sơn
huyện Yên Dũng (đối chứng).
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu phối hợp định lượng và định tính:
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang để mô tả thực trạng công tác
quản lý THA và các yếu tố ảnh hưởng, có so sánh nhóm chứng và nhóm
can thiêp trước can thiệp của đối tượng nghiên cứu.
- Thiết kế nghiên cứu can thiệp trước sau có đối chứng
huyện là 680 người THA.
- Kỹ thuật chọn mẫu: Lấy toàn bộ người THA được khám sàng lọc, xã
Liên Sơn 384 người và xã Lãng Sơn 365 người.
* Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp
- Cỡ mẫu: Tính theo công thức:
2
1 1 2 2
(1 /2) (1 )
2
12
(1 ) (1 )
()
()
p p p p
n Z Z
pp
Chọn Z
(1-α/2)
= 3,291, α=0,001
,
Chọn
)1(
phát hiện người THA tại cộng đồng sau đó tư vấn cho họ mua thẻ bảo hiểm y
tế (BHYT) và đến BV huyện để tham gia vào quản lý THA của mô hình.
7
: Phối hợp
: Tham gia hoạt động của mô hình
Sơ đồ 2.3. Mô hình “Phối hợp tuyến y tế cơ sở trong quản lý
tăng huyết áp”
Trong thời gian QL tại cộng đồng, NVYTTB truyền thông, tư vấn và
giám sát người THA thực hiện chế độ QL và điều chỉnh lối sống (ĐCLS).
Báo cáo tại buổi giao ban ở TYT xã.
- Nhân viên TYT xã Liên Sơn: Cùng với NVYTTB chủ động tổ chức
khám phát hiện người THA tại cộng đồng, tư vấn cho người THA mua thẻ
BHYT và đến BV huyện để được QL.
- Bệnh viện huyện Tân Yên: Có bác sỹ chuyên về Nội khoa, tại Khoa
Nội người THA được chẩn đoánđược ĐT nội trú cho ổn định. Trong thời
gian ĐT nội trú người THA được tư vấn về QL và ĐCLS. Có một phòng
quản lý THA tại Khoa Khám bệnh do một bác sỹ chuyên trách đảm nhiệm.
NVYTTB báo cáo TYT xã 01 tháng/một lần tại buổi giao ban hàng
tháng; TYT xã báo cáo BV huyện 03 tháng một lần.
2.4.4. Các biến số và chỉ số nghiên cứu
*Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:Tuổi, học vấn, nghề nghiệp,
giới tính, hoàn cảnh kinh tế, thẻ BHYT; Nhóm biến số về hành vi nguy cơ:
Ăn mặn; hút thuốc lá; ăn uống nhiều đồ ngọt; ăn nhiều mỡ động vật; lạm
dụng rượu, bia; ít vận động; thường xuyên lo lắng.
*Các chỉ số quản lý THA.
- Tỷ lệ người THA đã được phát hiện THA.Tỷ lệ người THA đã được
phát hiện khi khám sức khoẻ, khi khám bệnh do có dấu hiệu THA, khi khám
bệnh khác, khi đi khám sàng lọc.Tỷ lệ người THA đã được phát hiện ở BV
tỉnh, BV tuyến huyện, TYT xã, do NVYTTB, ở y tế tư nhân; khi khám sàng
lọc tại cộng đồng.
- Tỷ lệ người THA đạt HAMT; tỷ lệ người THA độ I; độ II; độ III.
- Tỷ lệ người THA đã được điều trị; tỷ lệ người THA đã được điều trị
ở TYT xã, BV tuyến huyện, BV tuyến tỉnh, cơ sở y tế tư nhân.
- Tỷ lệ người THA được ĐT theo hình thức: Khám bệnh kê đơn thuốc;
ĐT nội trú.
- Tỷ lệ người THA được QL; tỷ lệ người THA đúng, tỷ lệ đạt HAMT.
- Tỷ lệ người THA bị tai biến; tỷ lệ người THA tử vong do THA.
2.4.5. Kỹ thuật thu thập số liệu.
Người điều tra được nhóm nghiên cứu tập huấn điều tra.Nhóm nghiên
cứu đã tiến hành điều tra thử tại cộng đồng sau đó điều chỉnh lại công cụ điều
tra cho sát với thực tế; Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm thu thập thông tin
để mô tả thực trạng công tác quản lý THA; đánh giá kết quả và hiệu quả can
thiệp của mô hình.
2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS version 13.0.
Đánh giá kết quả chỉ số hiệu quả can thiệp (HQCT%) và chỉ số hiệu
quả (CSHQ%) để so sánh giữa thời điểm trước và sau nghiên cứu của nhóm
16,7
69
18,9
>0,05
Khám bệnh do THA
240
32,0
117
30,5
123
33,7
Khám bệnh khác
108
14,4
58
15,1
50
13,7
Khám sàng lọc
268
35,8
145
37,8
123
33,7
Tổng
749
100
384
100
3,6
<0,05
BV tuyến huyện
262
35,0
127
33,1
135
37,0
>0,05
Y tế thôn bản
19
2,5
9
2,3
10
2,7
TYT xã
128
17,1
61
15,9
67
18,4
Cơ sở y tế tư nhân
32
4,3
15
3,9
17
Chung
Liên Sơn,
Tân Yên
Lãng Sơn,
Yên Dũng
p
SL
%
SL
%
SL
%
Đã được điều trị
321
42,9
154
40,1
167
45,8
>0,05
Ở TYT xã
13
1,7
7
1,8
6
1,6
>0,05
59,9
198
54,2
>0,05
Tổng số
749
100
384
100
365
100 Các số liệu trình bầy ở Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ người THA được ĐT
còn thấp (42,9%). Trong đó, chủ yếu là ĐT tại BV huyện (30,4%), điều trị
tại TYT xã chỉ chiếm 1,7%. Sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê ở hai
điểm nghiên cứu.
Bảng 3.9. Công tác quản lý tăng huyết áp
của đối tƣợng nghiên cứu.
Địa điểm
Quản lý THA
Chung
Liên Sơn,
Tân Yên
Lãng Sơn,
Yên Dũng
p
SL
578
77,2
304
79,2
274
75,1
>0,05
Tổng
749
100
384
100
365
100 Bảng 3.9 cho thấy chỉ có 22,8% người THA được quản lý tăng huyết
áp, trong đó người THA được thực hiện QL đúng là 14,6%. Kết quả cũng
cho thấy công tác quản lý tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu ở hai
điểm nghiên cứu khác nhau không có ý nghĩa thống kê.
11
Bảng 3.10. Nơi đã quản lý tăng huyết áp của đối tƣợng nghiên cứu.
Địa điểm
Nơi quản lý THA
Chung
Liên Sơn,
Tân Yên
0,0
Chưa được quản lý
578
77,2
304
79,2
274
75,1
>0,05
Tổng
749
100
384
100
365
100 Bảng 3.10 cho thấy người THA được QL chủ yếu ở BV tuyến huyện
(20,4%), ở BV tuyến tỉnh chỉ chiếm 2,4%. Không một đối tượng nghiên
cứu nào được quản lý THA ở TYT xã. Không có sự khác biệt về nơi quản
lý THA ở hai điểm nghiên cứu (>0,05).
Bảng 3.11. Công tác tƣ vấn, truyền thông về phòng
và chống tăng huyết áp
Địa điểm
Công tác tư vấn
Chung
6,1
22
5,7
24
6,6
>0,05
Từ cơ sở y tế tư nhân
242
32,3
119
31,0
123
33,7
Từ bệnh viện
303
40,5
158
41,1
145
39,7
Từ người thân bạn bè
291
38,9
132
34,4
159
43,6
Từ thông tin đại chúng
298
39,8
thực trạng thực hiện chương trình phòng chống THA ở cộng đồng, chúng
tôi thấy các ý kiến tập trung vào các vấn đề sau: 15/36 ý kiến nói về tình
hình triển khai chương trình phòng chống THA ở tỉnh còn chậm và chưa
bao phủ rộng.Tuyến huyện tham gia quản lý THA nhưng mới được lượng
bệnh nhân ít chưa đạt mục tiêu; 32/36 cho rằng chưa có sự phối kết hợp
trong mạng lưới tuyến y tế cơ sở trong việc chủ động phát hiện, truyền
thông giáo dục sức khoẻ và QL người THA tại cộng đồng; 30/36 thành
viên tham gia cho rằng TYT xã và NVYTTB chưa phát huy vai trò trong
việc: chủ động phát hiện người THA tại cộng đồng, quản lý THA tại cộng
đồng, tư vấn cho người THA trong việc ĐCLS, tư vấn cho người THA
thực hiện BHYT; 33/36 thành viên cho rằng tổ chức tuyến y tế cơ sở còn
có nhiều bất cập và thiếu nguồn lực trong việc triển khai chương trình;
28/36 thành viên cho rằng kiến thức và nhận thức về công tác quản lý
THA của nhân viên y tế cơ sở và cả người THA còn rất hạn chế; 30/36 ý
kiến cho rằng TYT xã, NVYYTB có thể tham gia quản lý THA nhưng
không được giao nhiệm vụ.
3.2. Hiệu quả hoạt động của mô hình quản lý tăng huyết áp
Bảng 3.20. Chỉ số hiệu quả tƣ vấn cho ngƣời tăng huyết áp
ở địa điểm can thiệp
Thời điểm
Kết quả
Trước can thiệp
Sau can thiệp
p
CSHQ
ct
(%)
SL
Bảng 3.20 cho thấy chỉ số can thiệp về công tác tư vấn cho người
THA ở địa điểm can thiệp về BHYT (82,8%), tư vấn về THA (93,8) và kết
quả mua thẻ BHYT (81,1%) với p<0,001.
Trong khi đó kết quả Bảng 3.21. cho thấy hầu như chưa có sự thay
đổi kết quả của công tác tư vấn cho người THA của huyện Yên Dũng giai
đoạn trước và sau can thiệp (p>0,05).
13 Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ yếu tố nguy cơ của ngƣời tăng huyết áp
đƣơc quản lý tại địa điểm can thiệp trong thời gian can thiệp
Biểu đồ 3.1 kết quả theo dõi dọc 12 tháng, hành vi nguy cơ của người
THA được QL ở địa điểm can thiệp giảm rõ rệt. Giảm rõ nhất là hành vi ăn
mặn (từ 80,6% giảm xuống còn 4,2%); Ngoài ra, các hành vi: lạm dụng
rượu, hút thuốc lá, thuốc lào, vận động ít cũng giảm rất rõ rệt.
Bảng 3.28. Chỉ số hiệu quả của quản lý ngƣời tăng huyết áp
ở địa điểm can thiệp
Thời điểm
Công tác QL
Trước
can thiệp
Sau
can thiệp
CSHQ
ct
257
68,5
838,4
<0,001
Được QL đạt HAMT
25
6,5
251
66,9
929,2
<0,001
Quản lý đúng đạt HAMT
19
4,9
239
63,7
1200
<0,001
Tổng số điều tra
384
375
Bảng 3.28 hiệu quả cao nhất ở tỷ lệ người THA được QL đúng đạt
HAMT (tăng từ 4,9% lên 63,7%) (đạt CSHQ 1.200%); Hiệu quả cao tiếp
theo là tỷ lệ người THA được QL đạt HAMT (tăng 6,5 lên 66,9%), (đạt
CSHQ là 929,2%). Bảng 3.29. cho thấy quản lý THA ở địa điểm đối chứng
sau can thiệp CSHQ đạt thấp với (P>0,05).
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ thực hiện quản lý đúng
của ngƣời tăng huyết áp đƣợc quản lý tại ở địa điểm can thiệp
Bảng 3.33. Các biến chứng tăng huyết áp ở địa điểm can thiệp
Thời điểm
Biến chứng
Trước can thiệp
Sau can thiệp
p
SL
%
SL
%
Có biến chứng
61
15,9
16
4, 3
<0,001
Số bị TBMMN
19
5,0
3
0,8
<0,001
Suy tim
15
3,9
6
1,6
Địa điểm
Tử vong
Can thiệp
Đối chứng
p
SL
%
SL
%
Tổng số người tử vong
9
2,34
16
4,38
<0,001
Do biến chứng của THA
3
0,78
11
3,01
<0,001
Không phải biến chứng của THA
6
1,56
5
1,36
>0,05
Tổng số điều tra
375
3/119
2,52
8/266
3,01
>0,05
16
Bảng 3.38 cho thấy tỷ lệ tử vong do biến chứng THA của đối tượng
được quản lý và không được quản lý ở địa điểm can thiệp đều thấp hơn rõ
rệt so với ở địa điểm đối chứng (p<0,05).
Kết quả định tính: Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về hiệu
quả của mô hình nghiên cứu, chúng tôi thu được các ý kiến như sau: 36/36
ý kiến cho rằng mô hình nghiên cứu đem lại lợi ích to lớn cho người THA
ở cộng đồng. Mô hình nghiên cứu đã giúp cho việc phát hiện được nhiều
người bệnh hơn, giúp cho quản lý THA được thuận lợi hơn và hầu hết
người THA được QL tại TYT xã đều ổn định, lối sống thay đổi rõ rệt, số bị
biến chứng và tử vong ít hơn trước rất nhiều. Tỷ số 32/36 thành viên cho
rằng mô hình dễ thực hiện do nhiệm vụ của nhân viên y tế và các thành viên
cộng đồng rõ ràng. Khả năng duy trì cũng như nhân rộng mô hình rất cao. Tỷ
số 30/36 thành viên tham gia thảo luận cho rằng mô hình nghiên cứu đã đem
lại nhiều lợi ích cho cộng đồng như người bệnh đỡ phải mất thời gian lên BV
huyện, đỡ tốn kém hơn. Chƣơng 4. BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng quản lý tăng huyết áp tại tuyến y tế cơ sở ở tỉnh Bắc Giang
Kết quả Bảng 3.4 cho thấy tỷ lệ người đã được phát hiện THA mới đạt
64,2%, trong đó khám sàng lọc qua các đề tài, dự án cao nhất (35,8%), sau
đó là đi khám do có các dấu hiệu của THA là 32,0%, tỷ lệ phát hiện giữa
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở Bảng 3.9 cho thấy: Trong số
22,8% người THA được QL thì mới chỉ có 14,6% người THA được thực
hiện QL đúng. Kết quả ở Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ người THA được QL
cao nhất là BV tuyến huyện (20,4%), tiếp theo là tỷ lệ người THA được
QL ở BV tỉnh (2,4%). Người THA được QL ở TYT xã = 0%. Công tác
quản lý THA được thực hiện bởi NVYTTB còn rất hạn chế, phát hiện
người THA mới chỉ được 2,5% (Bảng 3.6). Chức năng này cơ bản chưa
thực hiện để cho NVYTTB tham gia phòng chống THA cho cộng đồng ở
địa phương.
Công tác quản lý THA được thực hiện tại TYT xã cũng còn rất hạn
chế như trong số 64,2% người THA được phát hiện thì TYT xã mới phát
hiện được (17,1%) (Bảng 3.4 và 3.6) và số người THA chưa bao giờ được
kiểm tra HA lên tới 27,6% (Bảng 3.3). Công tác quản lý THA tại BV
huyện trong những năm vừa qua đạt được những kết quả nhất định. Tỷ lệ
phát hiện người THA chiếm tới 64,2%, công tác điều trị THA đạt 42,9%,
đặc biệt là công tác QL người THA đạt kết quả đáng kể (22,8%). Hạn chế
lớn nhất của BV huyện trong quản lý THA là số lượng người THA nhiều
trong khi đó quy mô của BV huyện nhỏ dẫn đến quá tải, nên không thể QL
chặt chẽ được. Trong thời gian quản lý THA, người bệnh sinh sống ở cộng
đồng thiếu sự giám sát và tư vấn của y tế cơ sở nên kết quả đạt được còn
hạn chế. Chính vì vậy mà với tỷ lệ người THA đạt HAMT còn thấp (02 xã
18
là 7,3% và 12,3%) (Bảng 3.27). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở Bảng
3.11 cho thấy kết quả công tác tư vấn, truyền thông về phòng và chống
THA ở Bảng 3.11 còn rất yếu, ít được quan tâm như: Tỷ lệ người THA
được tư vấn về THA chưa cao (52,6%). Trong đó 40,5% được tư vấn từ
nhân viên BV, 39,8% từ thông tin đại chúng, 38,9% từ người thân bạn bè.
Tỷ lệ người THA được tư vấn từ TYT xã thấp (11,5%), nhất là NVYTTB
(6,1%). Tỷ lệ người THA được tư vấn về BHYT cũng còn thấp (56,7%).
19
đồng phù hợp với điều kiện thực tế và có tính khả thi cao ở tỉnh Bắc Giang
để giải quyết 01 vấn đề ưu tiên trong phòng chống THA của địa phương.
Bản chất của mô hình là phối kết hợp chặt chẽ tuyến y tế cơ sở, chủ động
phát hiện người THA tại cộng đồng, sàng lọc, lập hồ sơ QL dưới sự phân
công trách nhiệm cụ thể của từng cơ sở y tế (BV huyện, TYT xã,
NVYTTB) để chăm sóc người THA thường xuyên, lâu dài và hiệu quả. Sử
dụng hợp lý nguồn BHYT để thanh toán. Mô hình đã khắc phục những bất
cập của các mô hình trước đây đó là tách rời mô hình TT-GDSK cho người
THA của đội ngũ NVYTTB, nhân viên TYT xã và các mô hình ĐT bệnh
THA của các cơ sở y tế tuyến trên (BV Trung ương; BV tỉnh; BV huyện;
Ban bảo vệ sức khoẻ…). Phối hợp các cơ sở khám chữa bệnh của hệ thống
ĐT và y tế cơ sở (TYT xã, NVYTTB) chủ động phát hiện người THA,
hướng dẫn mua thẻ BHYT và tổ chức QL tại cộng đồng. Trước đây đã có
một số mô hình nghiên cứu nhằm tăng cường kiểm soát THA hay nâng cao
khả năng quản lý THA ở cộng đồng như mô hình kiểm soát THA của
Nguyễn Kim Kế ở thị xã Hưng Yên 2011. Mô hình này tập trung nhiều vào
tổ chức các hoạt động TT-GDSK cho người dân giúp họ có hành vi kiểm
soát THA. Mô hình Can thiệ p kiể m soá t THA ở cộ ng đồ ng nông thôn ở
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương của Phạm Ngân hay tổ chức thực hiện
chương trình phòng chống THA của Hoàng Văn Linh ở thị xã Bắc Kạn,
Trịnh Thị Thu Hoài ở Yên Bái, hay Nguyễn Kim Thành ở Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên.
4.2.2. Hiệu quả của mô hình
Các hành vi nguy cơ ở người THA của huyện Tân Yên đều giảm rõ
rệt: Ở Biểu đồ 3.1 thấy trong thời gian can thiệp giảm nhất là ăn mặn (từ
80,6% giảm còn 4,2%); Hành vi lạm dụng rượu, hút thuốc lá, thuốc lào
hay vận động ít cũng giảm rất rõ rệt. Hành vi nguy cơ ở người THA là rất
nghiêm trọng, theo nghiên cứu Nguyễn Duy Phong, Hồ Văn Hải (2009)
tiến hành điều tra 300 bệnh nhân ở Trung tâm y tế huyện Xuyên Mộc tỉnh
TYTX thì ở Tân Yên có tới 37,0% được QL tại TYT xã. Bảng 3.31. cho
chúng tôi thấy được hiệu quả của quản lý THA tại TYT xã Liên Sơn và tại
BV Tân Yên: Sau can thiệp các chỉ số QL THA đều tăng như tỷ lệ người
THA được QL tăng từ 0 lên 26,1% ở TYT xã và từ 17,4% lên 47,5% ở BV
huyện. Tỷ lệ người THA được QL đúng cũng tăng và tỷ lệ người THA
được QL đúng đạt HAMT tăng từ 0 lên 25,3% ở TYT xã và từ 6% lên
41,6% ở BV huyện Tân Yên. Biểu đồ 3.7 cho chúng tôi thấy tỷ lệ người
THA được QL ở các cơ sở y tế trong thời gian can thiệp ở huyện Tân Yên:
Rõ ràng tỷ lệ người THA được QL tại TYT xã gia tăng từng thời kỳ rất rõ
rệt. Bắt đầu can thiệp tỷ lệ này là 0% nhưng đến cuối giai đoạn can thiệp
(1 năm) đã tăng lên tới 37,0%. Kết quả Bảng 3.33. cho thấy tình hình các
biến chứng THA của người THA ở huyện Tân Yên. Sau can thiệp các chỉ
số này giảm rõ rệt (p<0,05). Trong khi Bảng 3.34. thấy biến chứng THA ở
huyện Yên Dũng các chỉ số giảm không rõ ràng (p>0,05).
Biến chứng của THA sau can thiệp ở hai điểm nghiên cứu: Ở Bảng
3.36. cho thấy các chỉ số này ở xã Liên Sơn thấp hơn rõ rệt so với xã Lãng
Sơn (p<0,05). Tỷ lệ tử vong của người THA sau can thiệp ở hai điểm
21
nghiên cứu: Ở Bảng 3.37. cho thấy các chỉ số này ở xã Liên Sơn thấp hơn
rõ rệt so với xã Lãng Sơn (p<0,05). Tỷ lệ tử vong do biến chứng THA ở hai
điểm nghiên cứu: Ở Bảng 3.38. cho thấy các chỉ số này ở xã Liên Sơn thấp
hơn rõ rệt so với xã Lãng Sơn (p<0,05).
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm về hiệu quả của mô hình
nghiên cứu, thu được như sau: Hầu hết mọi người cho rằng mô hình
nghiên cứu rất hiệu quả đem lại lợi ích cho người THA ở cộng đồng. Mô
hình nghiên cứu đã phát hiện được nhiều người THA, người THA được
QL thuận lợi hơn và người THA được QL tại TYT xã ổn định, số bị biến
chứng và tử vong ít hơn trước. Mô hình rất dễ thực hiện do nhiệm vụ y tế
và các thành viên cộng đồng rõ ràng. Khả năng duy trì cũng như nhân rộng
- Nhân viên y tế giúp người THA tìm được nguồn tài chính (BHYT).
Hầu hết những người THA tham gia QL theo mô hình là những người có
thẻ BHYT, còn những người không có thẻ BHYT thì họ chỉ đi khám bệnh
kê đơn theo từng đợt đến khi tình trạng của bệnh nặng hoặc có tai biến do
THA thì họ buộc phải vào nằm ĐT nội trú tại BV huyện. NVYTTB và
TYT xã có trách nhiệm vận động và tạo mọi điều kiện để người THA tham
gia BHYT vì vậy số người được QL và ĐT đạt 70,7% ở Bảng 3.30.
- Mô hình được người THA, nhân viên y tế và cơ quan quản lý chấp nhận
tham gia, có tính khả thi khi nhân rộng và bền vững đáp ứng được mục tiêu
của Chính phủ về chương trình phòng chống bệnh THA là “Xây dựng, triển
khai và duy trì bền vững mô hình” QL người THA tại tuyến cơ sở và xu
hướng là hướng tới cộng đồng và đưa dịch vụ y tế đến sát người dân phù hợp
với chủ trương của Đảng và Nhà nước.
KẾT LUẬN
1. Thực trạng quản lý tăng huyết áp ở tuyến cơ sở ở tỉnh Bắc Giang
Công tác quản lý THA ở Bắc Giang chủ yếu còn dựa vào nguồn ngân
sách của nhà nước, chưa kết hợp tuyến y tế cơ sở trong quản lý tăng huyết
áp, chưa đạt được mục tiêu của Trung ương và địa phương:
- Tỷ lệ người dân được phát hiện tăng huyết áp là 64,2%, trong đó 35%
do bệnh viện huyện, 17,1% do trạm y tế xã và 2,5% do Nhân viên y tế thôn
bản phát hiện. Chỉ có 9,8% người tăng huyết áp đã điều trị trở về bình
thường.
- Tỷ lệ 22,8% người tăng huyết áp được quản lý, 14,6% được quản lý
đúng, 20,4% được quản lý tại bệnh viện tuyến huyện, 2,4% tại bệnh viện
tỉnh, trạm y tế xã chưa quản lý, 9,8% người THA đạt huyết áp mục tiêu.
- Có 52,6% người tăng huyết áp được tư vấn tăng huyết áp, trong đó
40,5% từ nhân viên bệnh viện, 39,8% từ thông tin đại chúng, 38,9% từ